Dù có sự phát triển mạnh trong những năm gần đây nhưng ngành sản phẩm Nhựa Việt Nam chủ yếu vẫn chỉ được biết đến như là một ngành kinh tế kỹ thuật về gia công chất dẻo, trong khi đó lại không chủ động được hoàn toàn nguồn nguyên liệu đầu vào cho hoạt động sản xuất.
Trên thế giới cũng như ở Việt Nam, ngành công nghiệp Nhựa dù còn non trẻ so với các ngành công nghiệp lâu đời khác như cơ khí, điện – điện tử, hoá chất, dệt may… nhưng đã có sự phát triển mạnh mẽ trong những năm gần đây. Ngành Nhựa giai đoạn 2010 – 2020, là một trong những ngành công nghiệp có tăng trưởng cao nhất Việt Nam với mức tăng hàng năm từ 16% – 18% (chỉ sau ngành viễn thông và dệt may), có những mặt hàng tốc độ tăng trưởng đạt gần 100%/năm.
Với tốc độ phát triển nhanh, ngành sản phẩm Nhựa đang được coi là một ngành năng động trong nền kinh tế Việt Nam. Sự tăng trưởng đó xuất phát từ thị trường rộng, tiềm năng lớn và đặc biệt là vì ngành nhựa Việt Nam mới chỉ ở bước đầu của sự phát triển so với thế giới và sản phẩm nhựa được sử dụng trong tất cả các lĩnh vực của đời sống bao gồm sản phẩm bao bì nhựa, sản phẩm nhựa vật liệu xây dựng, sản phẩm nhựa gia dụng và sản phẩm nhựa kỹ thuật cao.
Hiện nay, các sản phẩm nhựa của Việt Nam đang có mặt tại gần 160 nước. Thị trường xuất khẩu truyền thống của các công ty nhựa Việt Nam là Nhật Bản, Mỹ, một số nước thuộc khu vực Châu Âu (Đức, Hà Lan…) và ASEAN (Campuchia, Indonesia, Philippine…). Gần đây, Hàn Quốc đã trở thành một thị trường xuất khẩu lớn mới của các nhà xuất khẩu nhựa Việt Nam.
Ngành sản phẩm nhựa Việt Nam mới chỉ ở bước đầu của sự phát triển so với thế giới
Thói quen ưa chuộng sử dụng sản phẩm nhựa trong cuộc sống thường ngày của người Việt, đặc biệt là các loại bao bì nhựa, nên, nhu cầu sử dụng nhựa của Việt Nam tương đối cao.
Với mức tăng trưởng kinh tế ổn định (ở mức cao so với mặt bằng chung thế giới), đặc biệt nhu cầu ngành xây dựng, hạ tầng, tiêu dùng cũng như thu nhập bình quân đầu người gia tăng (cùng với đó là sự gia tăng của tầng lớp trung lưu khiến nhu cầu mua sắm gia tăng) sẽ là động lực chính cho đầu ra ngành sản phẩm nhựa trong nước.
Bên cạnh đó, các Hiệp định tự do thương mại Việt Nam đã và đang ký kết như FTAs, và RCEP cũng là những yếu tố tích cực giúp cho sản phẩm nhựa Việt Nam tăng khả năng cạnh tranh khi xuất khẩu sang các thị trường khác. Đặc biệt, RCEP sẽ giúp các công ty Việt Nam mở rộng phạm vi khu vực nguồn nguyên liệu được đảm bảo yêu cầu quy tắc xuất xứ (nếu nguồn nguyên liệu sản xuất của các công ty Việt Nam được nhập từ 1 trong 16 nước như Australia, Newzealand, Ấn Độ, Hàn Quốc, Nhật Bản, các nước khu vực Đông Nam Á… đều đáp ứng quy tắc xuất xứ) để được hưởng ưu đãi giảm thuế xuất khẩu còn từ 0%-5%.
Sản phẩm nhựa tiêu dùng trong nước tăng trưởng tốt nhờ nhu cầu mua sắm
Hiện nay, các sản phẩm nhựa Việt Nam được chia làm 4 nhóm chính, gồm nhựa bao bì, nhựa gia dụng, nhựa vật liệu xây dựng và nhựa kỹ thuật.
Nhựa bao bì: Đây là dòng sản phẩm nhựa có giá trị gia tăng thấp nhưng lại chiếm tới 39% giá trị sản xuất và tỷ trọng lớn nhất trong cơ cấu xuất khẩu sản phẩm nhựa của Việt Nam.
Ngành hàng tiêu dùng trong nước tăng trưởng tốt nhờ nhu cầu mua sắm, tiêu dùng của dân cư gia tăng là yếu tố then chốt giúp ngành sản phẩm nhựa bao bì đảm bảo đầu ra vững chắc. Bao bì nhựa là một ngành giao nhau giữa hai ngành Nhựa và Bao bì. Ngành bao bì nhựa có thể được phân loại thành: Bao bì mềm, phục vụ chủ yếu cho ngành thực phẩm; Chai lọ nhựa đóng hộp phục vụ chủ yếu cho lĩnh vực nước giải khát; Bao bì cứng.
Nếu như cách đây 5 – 7 năm, sản phẩm nhựa gia dụng xuất xứ từ Thái Lan, Trung Quốc, Indonesia… chiếm lĩnh thị trường thì hiện nay, với những nỗ lực của DN trong nước, hàng nội ở phân khúc này đã từng bước đánh bật hàng nhập khẩu.
Tại hệ thống chợ truyền thống, sản phẩm nhựa gia dụng của DN trong nước sản xuất cũng chiếm ưu thế. Bà Nguyễn Thị Mến, kinh doanh đồ gia dụng tại chợ Nam Đồng cho biết: “Trước kia, cửa hàng chủ yếu bán các sản phẩm nhựa gia dụng ngoại nhập, nhưng hiện khoảng 90% sản phẩm nhựa bán tại cửa hàng là sản phẩm đã được người tiêu dùng bình chọn “Hàng Việt Nam chất lượng cao” như Đại Đồng Tiến, Duy Tân, Rạng Đông, Song Long, Vĩ Hưng, Tân Lập Thành…
Thực tế, qua việc tập trung nắm bắt nhu cầu thị trường trong nước, nhiều Doanh nghiệp sản xuất hàng nhựa gia dụng trong nước đã có những chuyển biến tích cực trong việc cải tiến mẫu mã, nâng cao chất lượng sản phẩm. Không thua kém hàng ngoại nhập nhưng giá bán luôn thấp hơn từ 20 – 30%. Bên cạnh đó, Doanh nghiệp cũng tích cực quảng bá thương hiệu, sản phẩm Việt tới người tiêu dùng thông qua việc tham gia các chương trình quảng bá hàng Việt. Ngoài ra, Doanh nghiệp cũng chuyên nghiệp hơn trong khâu hậu mãi, ghi nhận ý kiến phản hồi từ phía khách hàng, nên khi hàng hóa lưu thông trên thị trường gặp sự cố đều được Doanh nghiệp kịp thời giải quyết.
Tổng quan theo nhiều chuyên gia kinh tế, không nên quá lo lắng vì đó sẽ là động lực để các Doanh Nghiệp nội đẩy mạnh đầu tư đưa ra được các dòng sản phẩm nhựa cao cấp, từ đó rút ngắn khoảng cách với đối thủ ngoại. Song để làm được điều này, bên cạnh sự nỗ lực của chính bản thân Doanh nghiệp cũng rất cần sự hỗ trợ từ phía Nhà nước về mặt hành lang pháp lý, nghiên cứu công nghệ, hỗ trợ tín dụng… Từ đó tạo điều kiện để sản phẩm nhựa gia dụng không chỉ chiếm lĩnh thị trường trong nước mà còn tăng kim ngạch xuất khẩu trong quá trình Việt Nam hội nhập kinh tế quốc tế.










