Thêm kết quả...

Kinh tế 2023, dự báo 2024: Ngành Dệt May tìm giải pháp cho hướng đi mới

Ngành Dệt May Việt Nam nhìn chung vẫn tiếp tục xu hướng phục hồi, với sự suy giảm về giá trị xuất khẩu thu hẹp dần trong nửa cuối năm 2023, hướng đến một năm 2024 cùng hy vọng phục hồi

Sáng nay 16/12, tại Hà Nội, Hiệp hội Dệt May Việt Nam (VITAS) đã tổ chức Hội nghị Tổng kết ngành dệt may năm 2023 và đưa ra những cơ hội, thách thức trong năm 2024. Mục tiêu được ngành dệt may đặt ra là sẽ đạt kim ngạch xuất khẩu 44 tỷ USD, tăng 9,2% so với năm 2023 này.

Hướng đến mục tiêu xuất khẩu 44 tỷ USD

Theo báo cáo từ Hiệp hội Dệt May Việt Nam (VITAS), nếu như năm 2022, kim ngạch xuất khẩu đạt 44,4 tỷ USD, tăng gần 10% so với năm 2021 thì sang đến năm 2023, ngành dệt may phải đối diện với nhiều thách thức do tác động của tình hình kinh tế thế giới và trong nước, trong đó vấn đề lạm phát ở các thị trường chủ lực như Hoa Kỳ, châu Âu khiến sức mua giảm, đơn hàng sụt giảm, lãi suất tăng cao và chênh lệch tỷ giá,…

Trong một bức tranh khá ảm đạm như vậy, vẫn xuất hiện một vài “điểm sáng”, đó là xuất khẩu hàng dệt may sang một số thị trường vẫn tăng như: Nhật Bản, Austrailia, Nga, Ấn Độ…

Bên cạnh đó, các doanh nghiệp dệt may cũng đã mở thêm được một số thị trường mới tại châu Phi và Trung Đông. Điều này góp phần giúp kim ngạch xuất khẩu của ngành dệt may không bị giảm sâu trong bối cảnh sức mua giảm mạnh.

Ông Vũ Đức Giang, Chủ tịch VITAS cho hay, ngành dệt may Việt Nam nhìn chung vẫn tiếp tục xu hướng phục hồi, với sự suy giảm về giá trị xuất khẩu thu hẹp dần trong nửa cuối năm 2023, hướng đến một năm 2024 cùng hy vọng phục hồi, với dự báo về sự “ấm dần” của thị trường.

Đại diện VITAS cho biết, nhờ nỗ lực của doanh nghiệp, xuất khẩu năm 2023 đạt khoảng 40,3 tỷ USD, mục tiêu đặt ra và kỳ vọng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành năm 2024 đạt 44 tỷ USD, tăng 9,2% so với 2023.

Ông Vũ Đức Giang cho biết, để thực hiện mục tiêu này, từ nay – 2030, ngành dệt may sẽ chuyển dần từ trọng tâm phát triển nhanh sang trọng tâm phát triển bền vững, kinh doanh tuần hoàn.

Giai đoạn từ 2031 – 2035, phát triển hiệu quả, bền vững theo mô hình kinh tế tuần hoàn; hoàn thiện chuỗi giá trị trong nước và tham gia ở vị trí có giá trị cao trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Xuất khẩu và tiêu thụ trong nước bằng các thương hiệu riêng mang tầm khu vực và thế giới.

“Giải pháp chính của ngành dệt may vẫn sẽ đến từ việc đầu tư cho phát triển bền vững, phát triển khoa học công nghệ và nguồn nhân lực; trong đó thu hút các dự án dệt-nhuộm-hoàn tất công nghệ cao vào các khu công nghiệp; đầu tư sản xuất các loại nguyên liệu mới có nguồn gốc tự nhiên, thân thiện môi trường; đầu tư phát triển ngành thời trang dệt may…

VITAS cho biết, hiện Việt Nam đang nằm trong top 3 quốc gia xuất khẩu dệt may lớn nhất thế giới. Trong đó, Hoa Kỳ là thị trường chiếm tỷ trọng lớn nhất, tiếp đó là EU, Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản. Ngành Dệt May Việt Nam còn nhiều dư địa để tăng cường hội nhập kinh tế quốc tế, mở rộng thị trường xuất khẩu.

Tìm cơ hội trong thách thức

Theo nhận định từ các chuyên gia, năm 2024, ngành dệt may sẽ phải tiếp tục đối mặt những vấn đề như: Đơn hàng xuất khẩu còn giảm, dù đang bớt đi; chuỗi cung ứng còn rủi ro, chi phí đầu vào còn cao; rủi ro nghĩa vụ trả nợ còn cao; rủi ro lãi suất, tỷ giá giảm; xu hướng chuyển đổi số; xu hướng xanh hóa, kinh doanh tuần hoàn diễn ra nhanh…

Chia sẻ tại hội nghị, ông Trần Thanh Hải, Phó Cục trưởng Cục Xuất Nhập khẩu, Bộ Công Thương đánh giá, so với sự bùng nổ của năm 2022, thị trường 2023 đã trầm lắng hơn.

Nhưng so với những năm 2020-2021, và cả 2019 trước đại dịch, kim ngạch xuất khẩu hàng phụ liệu dệt may đã phục hồi hoàn toàn và có xu hướng vượt qua thời điểm trước dịch COVID-19.

Trong đó có thể kể đến dệt may Việt Nam đã bứt phá về thị trường, mặt hàng xuất khẩu với 104 thị trường xuất khẩu với các thị trường mới như châu Phi, Nga, các nước đạo Hồi, 36 mặt hàng dệt may xuất khẩu. Điều này cho thấy sự dần giảm phụ thuộc vào những thị trường lớn.

Tuy nhiên, ngành dệt may Việt Nam hiện đang phải cạnh tranh với Bangladesh. Trong khi nước bạn đã sớm áp dụng chuyển đổi xanh, trong khi ngành dệt may Việt Nam mới đang trên những bước đầu của chuyển đổi.

“Để tìm cơ hội trong thách thức, ngành dệt may Việt Nam cần chủ động nguồn nguyên liệu xanh, tái chế, tăng dần tỷ trọng sợi tái chế trong sản phẩm vải cũng như sợi hữu cơ đối với các sản phẩm mới; đầu tư cái tạo nhà máy bằng việc lắp đặt điện mặt trời mái nhà, sử dụng nguyên liệu đốt trong lò hơi từ than sang điện. Cùng đó đầu tư công nghệ, kiểm soát nguyên liệu đến khâu thiết kế sản phẩm, phát triển sản phẩm và tổ chức sản xuất…” ông Hải đề xuất.

Cũng theo chuyên gia kinh tế Cấn Văn Lực, ngành dệt may thời gian tới cần phải giải quyết các vấn đề để bứt phá; bao gồm việc cơ cấu lại hoạt động; kiểm soát rủi ro dòng tiền, rủi ro lãi suất, tỷ giá…; chủ động tìm hiểu, tiếp cận các Chương trình, gói hỗ trợ (nhất là các gói hỗ trợ tài khóa, thuế – phí, tín dụng…); đa dạng hóa nguồn vốn, thị trường, đối tác, nguồn cung; chủ động sản xuất xanh, tiêu dùng xanh và kinh doanh tuần hoàn; thực thi chiến lược chuyển đổi số (gắn với bài toán đầu tư công nghệ, nhân sự số, dữ liệu và kiểm soát rủi ro…)

2023-12-28 / by / in
Ngành may mặc phụ liệu tìm sự tăng trưởng trong khó khăn

Bước vào năm 2023, GDP thế giới được dự báo tăng trưởng thấp hơn năm 2022, do chính sách thắt chặt tiền tệ và xung đột địa chính trị. Sức mua của các thị trường chính như Mỹ, Châu Âu suy giảm mạnh, các yếu tố bất lợi của thị trường trên đà tiếp diễn, ngành Dệt May Việt Nam đã trải qua 4 tháng đầu năm “trầm lắng” với kim ngạch xuất khẩu giảm 20% so với cùng kỳ 2022 và giảm sâu nhất trong số các quốc gia xuất khẩu dệt may.

Trong khi đó, năng lực cạnh tranh ngành may mặc phụ liệu Việt Nam bị suy giảm do các yếu tố tỷ giá, lãi suất, tiền lương và xu thế chuyển dịch đơn hàng. Trong bối cảnh kinh tế tăng trưởng chậm, các quốc gia trên thế giới đã phải có các chính sách hỗ trợ thị trường phục hồi như giảm giá đồng nội tệ (Trung Quốc, Ấn Độ, Bangladesh), chính sách hỗ trợ trực tiếp với doanh nghiệp có đơn hàng sản xuất thông qua nguồn vốn, vận tải…

Trao đổi với phóng viên về những khó khăn đang gặp phải đối với ngành may mặc phụ liệu , ông Cao Hữu Hiếu, Tổng Giám đốc Tập đoàn cho biết, cùng với các yếu tố trên, nếu xét trên lợi thế cạnh tranh tương đối, Việt Nam đang có nhiều hạn chế hơn các quốc gia xuất khẩu khác, trước hết là đồng tiền Việt Nam đang mạnh lên trong quý I vừa qua, trong khi các quốc gia xuất khẩu dệt may duy trì đồng nội tệ rẻ để kích thích xuất khẩu, kể cả Trung Quốc với tỷ giá hiện tại cũng thấp hơn 10% so với giai đoạn trước dịch, hiện ở mức thấp 7,1 CNY/USD so với năm 2018, 2019 ở mức 6,3-6,5 CNY/USD. Cùng với đó là lãi suất khoản vay tại Việt Nam cũng dao động cao hơn mức tại các quốc gia này từ 5-7%/năm.

Ngoài các yếu tố trên, theo thống kê của trang Trading Economics chi phí tiền lương trung bình hàng tháng cho công nhân may mặc của Việt Nam đang ở ngưỡng 300 USD/người/tháng, cao hơn so với trung bình toàn cầu ở ngưỡng 200 USD/người/tháng. Nếu so sánh cụ thể hơn, thì lợi thế về tiền lương của Việt Nam cao hơn so với Bangladesh ở mức 95 USD/người/tháng, Campuchia 190 USD/người/tháng, Ấn Độ 145 USD/người/tháng… Giá điện của Việt Nam đã tăng 3% kể từ ngày 4/5/2023 cũng đã kéo theo nhiều “áp lực” đối với các doanh nghiệp may mặc phụ liệu. Tình trạng mất điện, cắt điện luân phiên trong thời điểm gần đây cũng ảnh hưởng nặng nề đến hoạt động SXKD của các doanh nghiệp.

Từ thực tế thị trường và các dự báo xu thế trong 2 năm 2023 và 2024, Vinatex đặt mục tiêu doanh thu hợp nhất năm 2023 đạt 17.500 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế đạt 610 tỷ đồng, trong đó doanh thu công ty mẹ đạt 1.900 tỷ đồng và lợi nhuận trước thuế đạt 210 tỷ đồng.

Nhờ linh hoạt ứng phó với những diễn biến bất ổn, bất định của thị trường, dự báo cập nhật nhanh tình hình thị trường dệt may thế giới và trong nước, đảm bảo ổn định lực lượng lao động, trong quý I/2023, Tập đoàn đạt doanh thu hợp nhất 4.462 tỷ đồng, bằng 25,5% kế hoạch năm; lợi nhuận hợp nhất 118 tỷ đồng, đạt 19% kế hoạch năm. Quí II, dự kiến doanh thu đạt 4.340 tỷ đồng, đạt gần 25% kế hoạch năm, lợi nhuận đạt 58 tỷ đồng, đạt 9,5% kế hoạch năm. “Tuy có mức suy giảm doanh thu, lợi nhuận so với các năm trước nhưng đây là mức giảm khả quan hơn so với các doanh nghiệp may mặc phụ liệu niêm yết trên thị trường chứng khoán Việt Nam” – ông Hiếu cho biết.

Tổng Giám đốc Tập đoàn Dệt may cho biết thêm, trong thời điểm sản xuất kinh doanh khó khăn, thiếu đơn hàng, các doanh nghiệp trong hệ thống vẫn duy trì việc làm cho gần 62 nghìn lao động, đảm bảo thu nhập bình quân ở mức 9,3 triệu đồng/người/tháng.

Các đơn vị đã tổ chức nhiều hoạt động chăm lo đời sống người lao động với hình thức phù hợp như: Tặng quà, hỗ trợ cho NLĐ vay tiền giải quyết khó khăn; Vay vốn làm kinh tế; Trợ cấp NLĐ có hoàn cảnh khó khăn; Quan tâm chăm sóc sức khỏe cho NLĐ bị bệnh nghề nghiệp, lao động nữ mang thai và nuôi con nhỏ; Hỗ trợ đoàn viên, NLĐ có hoàn cảnh đặc biệt khó khăn về nhà ở; Cảm ơn thành viên, tuyên dương khen thưởng NLĐ có thành tích cao, có nhiều sáng kiến, gắn bó với doanh nghiệp… Riêng trong tháng Công nhân năm 2023, các đơn vị trong hệ thống đã hỗ trợ, khen thưởng, tặng quà NLĐ ước tính trên 30 tỷ đồng.

Tiếp tục lấy nhân lực làm đột phá để tạo tăng trưởng chủ yếu từ nhân tố năng suất tổng hợp trong quá trình phát triển, trong 6 tháng đầu năm, Vinatex đã tổ chức một Hội nghị về công tác nhân sự mang tính chất quản trị nhân sự hiện đại, dựa theo một công cụ đánh giá khoa học, khách quan và minh bạch. Tập đoàn cũng tiếp tục tổ chức lớp đào tạo về kiến thức quản trị và kiến thức chuyên ngành dệt may cho các học viên thuộc Chương trình đào tạo Tài năng trẻ – Vinatex Young Talent 2022-2023…

2023-12-13 / by / in
Ngành phụ liệu may mặc dù khó khăn vẫn thu hút sự quan tâm của nhiều bên trong ngoài nước

Giữa ngàn sóng gió, “ông lớn” đầu ngành dệt may vẫn lên mục tiêu doanh thu gần tỷ USD vào năm 2025, thành điểm đến “trọn gói” cho thời trang xanh

Vinatex còn đề mục tiêu trở thành nhà cung cấp sản phẩm dệt kim phổ thông trọn gói với quy mô sản xuất 30.000 – 35.000 tấn vải/năm.

Thống kê của Hiệp hội Dệt may Việt Nam (VITAS) cho thấy, tổng kim ngạch xuất khẩu hàng may mặc phụ liệu của Việt Nam 5 tháng đầu năm 2023 ước đạt 14,422 tỷ USD, giảm 21,42% so với cùng kỳ năm 2022.

Thực tế, tình hình hiện tại đang khó khăn với tất cả các ngành nghề. Theo số liệu từ Tổng cục Hải quan, trong 5 tháng đầu năm 2023, có tới 6/7 ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam có kim ngạch trên 5 tỷ USD đều giảm, giảm sâu nhất là lắp ráp điện tử, điện thoại, chế biến gỗ, thuỷ sản, dệt may, da giày.

Là ngành đóng góp nhiều cho nền kinh tế, ngành may mặc phụ liệu dù khó khăn vẫn thu hút sự quan tâm của nhiều bên trong ngoài nước. Đơn cử, Saigontex 2023 ghi nhận quy mô triển lãm gấp 3 lần năm 2022, đồng thời đạt quy mô lớn nhất kể từ năm 1991.

Bổ sung sau thành công của SaigonTex 2023, SaigonFabric Summer 2023 (diễn ra hôm 26-29/7/2023) cũng dự hội tụ hơn 100 doanh nghiệp nội địa sẽ giới thiệu những nguồn sợi, vải, nguyên phụ liệu của Việt Nam; trao đổi với gần 200 nhà cung cấp từ Trung Quốc, Đức, Hồng Kông, Pakistan, Ấn Độ, Đài Loan, Thái Lan danh mục sản phẩm của ngành như: vải, sợi, nguyên phụ liệu dệt may; máy móc và thiết bị sản xuất; phần mềm quản lý công nghệ…

Tại đây, đại diện Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex) cũng công bố kế hoạch đến năm 2025, tỷ lệ tăng trưởng bình quân về doanh thu và lợi nhuận hợp nhất đạt từ 8-12%, trong đó doanh thu đạt 21.800 tỷ đồng.

Năm 2022, Vinatex đạt gần 18.300 tỷ đồng doanh thu, tiến sát mức đỉnh đạt được vào năm 2018 và 2019. Nếu duy trì mức tăng trưởng 8%/năm thì DN này có thể đạt được con số 21.800 tỷ đồng vào năm 2024 – 2025.

Vinatex còn đề mục tiêu trở thành nhà cung cấp sản phẩm may mặc phụ liệu phổ thông trọn gói với quy mô sản xuất 30.000 – 35.000 tấn vải/năm; từng bước nâng cao sản lượng sợi dùng trong nội bộ với mục tiêu 50% sợi nội bộ và 50% vải dệt kim được sử dụng cho ngành may với sản lượng 60 – 70 triệu sản phẩm may mặc/năm, duy trì sản xuất quy mô lớn dựa trên lợi thế của thiết bị công nghiệp và là mắt xích sản xuất trong chuỗi cung ứng với tốc độ tăng trưởng kinh doanh cao hơn mức tăng của nhu cầu dệt may thế giới từ 3 – 5%/năm.

Trong chiến dịch đó, một cuộc cách mạnh mới đang lên ngôi – “xanh hoá” ngành dệt may. Bởi, dệt may là ngành lớn thứ hai trong thị trường thương mại toàn cầu, theo các chuyên gia kinh tế thì thị trường ước đạt 1.230 tỷ USD vào năm 2024. Tuy nhiên, dệt may cũng là ngành bị đánh giá là ảnh hưởng lớn đến môi trường.

Mặt khác, những năm gần đây, thời trang nhanh phát triển tạo ra xu hướng sử dụng hàng may mặc phụ liệu trong thời gian ngắn hơn trước, vứt bỏ nhiều hơn. Trên khắp thế giới, cứ mỗi giây lại có một xe tải chở hàng dệt may được chôn lấp hoặc đốt. Sản lượng dệt may toàn cầu tăng gần gấp đôi từ năm 2000 đến năm 2015 và mức tiêu thụ quần áo và giày dép dự kiến sẽ tăng 63% vào năm 2030.

Do đó, “xanh hoá” ngành không chỉ là xu hướng mà còn là con đường bắt buộc mọi quốc gia phải đi qua, kể cả Việt Nam. Nhiều quốc gia phát triển trên thế giới đã có những quy định liên quan đến việc đảm bảo tính bền vững, tuần hoàn trong sản xuất kinh doanh hàng may mặc.

Đi đầu là châu Âu với “Thỏa thuận xanh” cùng hàng loạt những quy định về chuỗi cung ứng và tuân thủ báo cáo phát triển bền vững đã được đưa ra, dự có hiệu lực áp dụng trong 1-2 năm tới. Châu Âu cũng chính là thị trường tiêu thụ sản phẩm dệt may lớn nhất thế giới.

Tại Việt Nam, Vinatex cho biết đã xây dựng chiến lược phát triển dài hạn với mục tiêu đến năm 2030 trở thành một điểm đến trọn gói cho sản phẩm thời trang xanh, Tập đoàn đã và đang tăng cường thực hiện các giải pháp như: đầu tư cho sản xuất, ổn định và chủ động nguồn nguyên liệu; đẩy mạnh công tác phát triển sản phẩm, xây dựng thương hiệu thời trang trên thị trường; tuân thủ quy định của các thị trường xuất khẩu chính đối với khía cạnh môi trường và trách nhiệm xã hội.

Vinatex cũng tập trung vào ứng dụng công nghệ tiên tiến nhằm giảm sử dụng năng lượng, giảm phát thải, giảm sử dụng lao động, tăng năng suất và chất lượng; sản xuất xanh, xây dựng hệ thống sản xuất và kinh doanh tuần hoàn…

2023-12-12 / by / in
Đẩy mạnh phát triển ngành dệt may Việt Nam trong thời gian tới

Nhìn tổng thể tình hình xuất khẩu ngành may mặc trong những năm gần đây thấy rằng, tăng trưởng trong xuất khẩu ngành dệt may của Việt Nam biến động theo xu hướng xuất khẩu chung của cả nước. Năm 2022, ngành dệt may chịu nhiều áp lực lớn. Xuất khẩu dệt may tăng trưởng tương đối tốt trong nửa đầu năm 2022, tuy nhiên, trong 6 tháng cuối năm 2022, các thị trường chính của dệt may Việt Nam rơi vào lạm phát, sức mua suy giảm mạnh, đến quý IV/2022, đơn hàng đã giảm đến 30%, có doanh nghiệp giảm đến 70% đơn hàng ở thị trường châu Âu, do lạm phát cao làm giảm chi tiêu của người dân, trong đó may mặc là mặt hàng bị cắt giảm chi tiêu nhiều. Bên cạnh đó, bất lợi về tỷ giá với các đối thủ cạnh tranh, tình trạng thiếu lao động sau đại dịch Covid-19, yêu cầu truy soát nguồn gốc bông, vải, sợi, hay xanh hóa dệt may từ các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới cũng là những thách thức mà doanh nghiệp dệt may Việt Nam phải đối mặt. Ngoài ra, các thị trường là đối tác thương mại quan trọng của Việt Nam, như: Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan (Trung Quốc)… vẫn trong năm 2022 áp dụng các biện pháp nghiêm ngặt chống Covid-19, ảnh hưởng không nhỏ đến chuỗi cung ứng nguyên, phụ liệu và tiêu thụ sản phẩm dệt may của Việt Nam.

Mặc dù khó khăn, nhưng theo Báo cáo của Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex), với những biến động phức tạp của nền kinh tế thế giới, Vinatex vẫn đạt các chỉ tiêu về hoạt động sản xuất, kinh doanh, với doanh thu hợp nhất ước đạt 19.535 tỷ đồng, đạt 108% kế hoạch tăng 15% cùng kỳ. Lợi nhuận hợp nhất ước đạt 1.090 tỷ đồng, đạt 115% kế hoạch, tương đương 75% năm 2021. Kết quả sản xuất, kinh doanh Công ty mẹ với doanh thu ước đạt 2.158 tỷ đồng, đạt 123% kế hoạch, tăng 32% cùng kỳ. Lợi nhuận ước đạt 336 tỷ đồng, đạt 101% kế hoạch, tăng 8% so với năm 2021. Trong đó, thị trường xuất khẩu trọng tâm Hoa Kỳ với 13,9 tỷ USD, các nước trong khối Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTTP) 4,733 tỷ USD, các nước EU là 3,63 tỷ USD, Hàn Quốc là 2,525 tỷ USD, Trung Quốc là 925 triệu USD. Quần áo may mặc các loại vẫn là mặt hàng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu của ngành, tới 29,1 tỷ USD. Ngoài quần áo, ngành dệt may Việt Nam cũng xuất khẩu vải với 2,13 tỷ USD, xơ sợi 4,083 tỷ USD, phụ liệu may 1,165 tỷ USD, vải địa 747 triệu USD.

Cho đến nay, ngành may mặc đã xuất khẩu sản phẩm đến 66 nước, vùng lãnh thổ trên thế giới. Đây là sự bứt phá của Ngành trong phát triển thị trường. Bên cạnh đó, số mặt hàng duy trì xuất khẩu khoảng 47-50 mặt hàng khác nhau vào thị trường toàn cầu và chiếm tỷ trọng lớn trong xuất khẩu là quần áo may mặc các loại. Đặc biệt, đối với thị trường EU, nếu như trước đây dệt may Việt Nam chỉ tập trung vào một số nước lớn, như: Đức, Pháp, Tây Ban Nha, Anh, thì nay đã xuất khẩu vào 26/27 quốc gia ở EU.

Năm 2022, ngành dệt may Việt Nam đã có 10 thương hiệu đạt thương hiệu quốc gia Việt Nam, bao gồm: sản phẩm thời trang Viettien (Tổng Công ty May Việt Tiến), thương hiệu Merriman (Tổng Công ty Cổ phần Dệt may Hòa Thọ), thương hiệu Mattana & Novelty (Tổng Công ty May Nhà Bè), trang phục An Phước (Công ty TNHH May thêu giày An Phước), May10 Series, May10 Suits & Eternity GrusZ (Tổng Công ty May 10), thời trang Thái Tuấn (Công ty Cổ phần Tập đoàn Thái Tuấn), khăn bông Mollis (Tổng Công ty Cổ phần Phong Phú). Mục tiêu từ nay tới năm 2025, Việt Nam sẽ có 20 thương hiệu thời trang không chỉ trong nước mà còn vươn ra tầm thế giới.

Có được kết quả trên là do ngành may mặc Việt Nam đã và đang nỗ lực không ngừng để có thể bắt kịp với xu hướng thế giới. Trong đó, nổi bật nhất là các doanh nghiệp đã chủ động nâng cao năng lực sản xuất; nâng cao trình độ tay nghề; chuyển hướng sản xuất từ hình thức chỉ nhận gia công sang hình thức tự chủ nguồn nguyên liệu, tự thiết kế và hoàn thành sản phẩm; đặc biệt, việc các doanh nghiệp tiếp tục đầu tư vào thiết bị, công nghệ tự động hóa cũng là một trong những yếu tố góp phần tạo nền tảng để ngành dệt may chống chịu được những áp lực của thị trường về chất lượng, điều kiện giao hàng nhanh…

Ngoài ra, Nhà nước đã hỗ trợ các doanh nghiệp dệt may trong việc tổ chức các cuộc hội thảo, xúc tiến thương mại để các doanh nghiệp có cơ hội tìm kiếm đối tác, mở rộng thị trường xuất khẩu; Nhà nước cũng hỗ trợ trong việc thu hút vốn đầu tư vào ngành dệt may…

Mặc dù đạt được một số kết quả, nhưng ngành may mặc Việt Nam còn có những hạn chế, đó là:

Thứ nhất, hiện nay, tình trạng yêu cầu truy xuất nguồn gốc bông, vải, sợi hay “xanh hóa” dệt may từ các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới là những thách thức mà doanh nghiệp dệt may Việt Nam cần phải giải quyết để có thể hưởng ưu đãi từ các hiệp định này.

Thứ hai, ngành dệt may gặp các khó khăn trong ngắn hạn về thu hẹp thị trường, sụt giảm đơn hàng và đơn giá, khó khăn nội tại về nguồn vốn, chi phí đầu vào, logistics, nguồn lao động…

Thứ ba, hiện nay, ngành đang đứng trước các thách thức lớn về yêu cầu chuyển đổi mạnh mẽ mô hình sản xuất theo hướng bền vững, xanh, tuần hoàn và đáp ứng các quy định mới liên quan đến lao động, nguồn gốc xuất xứ, khả năng tái chế của sản phẩm từ các thị trường chủ chốt, như: Mỹ, EU.

Thứ tư, công nghiệp hỗ trợ trong ngành may mặc chưa phát triển mạnh, chưa thu hút được sự quan tâm của các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài, dẫn đến có sự khan hiếm nguồn nguyên liệu trong nước, phụ thuộc lớn vào nhập khẩu và khó khăn trong việc đáp ứng các yêu cầu về quy tắc xuất xứ.

Thứ năm, dệt may của Việt Nam cũng đang gặp phải cạnh tranh lớn từ một số nước đang phát triển hiện đang đẩy mạnh sản xuất trong bối cảnh phục hồi kinh tế và thực hiện hiệu quả chiến lược “xanh hóa” các nhà máy sản xuất.

Thứ sáu, thực trạng thiếu thông tin về thị trường, về nguồn cung nguyên liệu là một trong những lý do khiến doanh nghiệp ngành dệt may khó dịch chuyển lên phương thức sản xuất cao hơn là thiếu thông tin về khách hàng, về các nhà cung cấp và thị trường nguyên phụ liệu, thiếu đội ngũ cán bộ mua hàng am hiểu thị trường và có năng lực quản lý chuỗi giá trị.

 

 

Nguồn: Theo Tạp chí Kinh tế và Dự báo

2023-12-01 / by / in
Ngành may mặc phụ liệu bứt phá kỷ lục về thị trường xuất khẩu trong năm 2023

Ông Vũ Đức Giang, Chủ tịch Hiệp hội Dệt May Việt Nam (VITAS) cho biết, mặc dù năm 2023 gặp nhiều khó khăn, dự kiến xuất khẩu dệt may giảm hơn so với năm 2022 nhưng năm 2023 cũng ghi nhận sự bứt phá kỷ lục của ngành may mặc phụ liệu về thị trường xuất khẩu.

Phát biểu tại Họp báo hội nghị tổng kết Vitas 2023 do Hiệp hội Dệt may Việt Nam tổ chức sáng 23/11, ông Vũ Đức Giang, Chủ tịch Hiệp hội Dệt May Việt Nam (VITAS) cho biết, năm 2023 ngành dệt may chịu tác động, lượng hàng hoá tồn kho toàn cầu thách thức rất lớn, làm cho nền công nghiệp dệt may chịu tác động lớn. Kim ngạch xuất khẩu dệt may năm 2023 ước đạt 40,3 tỷ USD, giảm 9,2% so với năm 2022. Xuất khẩu hàng may mặc ước giảm 3,1 tỷ USD, tương đương 8,9%, xuất khẩu vải ước giảm 186 triệu USD, tương đương 6,9%, xuất khẩu sơ sợi ước giảm 485 triệu USD tương đương 10,3%, xuất khẩu nguyên phụ liệu ước giảm 218 triệu USD, tương đương 16%.

Năm 2023, cơ cấu mặt hàng xuất khẩu có sự thay đổi rõ rệt. Một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực giảm mạnh như đồ nỉ, quần short, quần áo trẻ em… Ở chiều ngược lại, các mặt hàng như đồ bảo hộ lao động, bộ comple, quần áo y tế, quần jeans lại tăng nhanh.

“Mặc dù kim ngạch xuất khẩu giảm nhưng năm 2023 là năm xuất khẩu may mặc phụ liệu bứt phá về thị trường, chưa năm nào ngành dệt may xuất khẩu vào nhiều thị trường như vậy với 104 thị trường, vùng lãnh thổ”, ông Vũ Đức Giang cho biết.

Trong đó, thị trường lớn nhất của ngành dệt may Việt Nam vẫn là thị trường Mỹ, trong 9 tháng sản phẩm may mặc xuất khẩu vào thị trường Mỹ đạt trên 11 tỷ USD, Nhật Bản khoảng 3 tỷ USD, Hàn Quốc là 2,4 tỷ USD, EU là gần 2,9 tỷ USD. Đây là 4 thị trường trọng điểm của ngành dệt may.
Tiếp đó, ngành dệt may xuất khẩu sang Canada khoảng 850 triệu USD, Trung Quốc 830 triệu USD, Campuchia hơn 600 USD, Anh 504 triệu USD…

“Chúng ta xuất khẩu sang 104 thị trường đây là thách thức, khi thị trường xuất khẩu lớn giảm thì các doanh nghiệp phải tìm cách mở rộng thị trường xuất khẩu như Châu Phi, Nga, Ấn Độ…Chính những người Việt ở các nước này là cầu nối cho xuất khẩu may mặc phụ liệu xuất sang các quốc gia này”, ông Vũ Đức Giang cho biết thêm.

Để đạt được những kết quả trên, theo ông Vũ Đức Giang, Hiệp hội Dệt may Việt Nam, đã đặt mục tiêu cho cộng đồng doanh nghiệp khẳng định vị thế của ngành, cùng đó, xây dựng giải pháp cùng cộng đồng doanh nghiệp trong chiến lược phát triển bền vững, đạt chuẩn mực trong các điều khoản hợp đồng thương mại, tổ chức đánh giá. Đến nay, hầu hết các doanh nghiệp đã đạt rất tốt.

Đặc biệt, các doanh nghiệp dệt may Việt Nam cũng tích cực thực hiện xanh hóa, phát triển bền vững, đầu tư hạ tầng cơ sở trong giảm phát thải nhà kính, thúc đẩy giải pháp phát triển sản phẩm có tính bền vững, chuyển đổi nồi hơi nước bằng điện thay cho đốt than, củi… Cùng với đó, doanh nghiệp dệt may Việt Nam cũng đầu tư mạnh về phát triển công nghệ số, tạo minh bạch trong sản xuất kinh doanh.

“Cùng với việc sử dụng sản phẩm tái chế, thân thiện môi trường như sợi gai, sợi tre… ngành dệt may Việt Nam cũng sắp xếp mô hình cộng đồng doanh nghiệp, chuyển dịch nhanh nhà máy từ thành phố về vùng sâu, vùng xa.. Trong những năm qua, dù khó khăn nhưng các doanh nghiệp vẫn đầu tư nhiều nhà máy mới nên giữ được tỷ trọng trong xuất khẩu. Chúng tôi kỳ vọng dịp Noel tháng 12 và Tết dương lịch, các thị trường nhập khẩu lớn sẽ thúc đẩy cho năm 2024 khi họ giảm bớt hàng tồn kho. Trong quý 4/2023, ngành dệt may Việt Nam đã nhận được tín hiệu đơn hàng tốt hơn, thị trường bắt đầu nóng lên, đây là xu thế tốt cho mục tiêu 2024 đang đến gần”, ông Vũ Đức Giang cho hay.

Đại diện Hiệp hội Dệt may Việt Nam cho biết, năm 2024, dự báo kinh tế thế giới còn nhiều biến động. Thách thức với các doanh nghiệp may mặc phụ liệu chưa dừng lại khi ngày càng nhiều thị trường nhập khẩu dệt may lớn đưa ra những quy định mới mang tính bắt buộc liên quan tới thẩm định quyền Con người và Môi trường trong Chuỗi cung ứng, quy định thiết kế sinh thái, sản phẩm tái chế, xử lý chất thải dệt may…

Tuy nhiên, ngành dệt may Việt Nam vẫn có những ưu thế so với các quốc gia cạnh tranh. Việt Nam đã tham gia và đang đàm phán 19 Hiệp định thương mại tự do (trong đó: 16 FTA đã ký kết và thực thi; 3 FTA đang trong quá trình đàm phán) và là quốc gia duy nhất ký kết Hiệp định thương mại tự do với tất cả các đối tác kinh tế lớn trên toàn cầu như: Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc, EU, Anh, Nga. Đặc biệt, Chiến lược phát triển ngành Dệt May và Da Giày Việt Nam đến năm 2030 tầm nhìn đến năm 2035 được Chính Phủ phê duyệt mới đây sẽ là nền móng thu hút đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực sợi – dệt – nhuộm, tạo cơ hội cho ngành dệt may tận dụng ưu đãi từ các Hiệp định.

Trên cơ sở phân tích, dự báo bối cảnh tình hình trong nước, quốc tế, VITAS xây dựng mục tiêu toàn ngành năm 2024 đạt kim ngạch xuất khẩu 44 tỷ USD.

Để đạt được mục tiêu đề ra, Hiệp hội Dệt May Việt Nam sẽ tiếp tục sát cánh cùng doanh nghiệp, lấy lợi ích của doanh nghiệp dệt may làm trọng tâm. Cụ thể, Hiệp hội thực hiện tốt vai trò kết nối các doanh nghiệp trong nước với nhau và với các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài hình thành chuỗi cung ứng, mở rộng thị trường xuất khẩu. Cùng với đó, phối hợp với các tổ chức quốc tế uy tín triển khai các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp về quản trị, chuyển đổi xanh, công nghệ mới, thiết kế, xây dựng thương hiệu…

Đặc biệt, thực hiện các chương trình xúc tiến thương mại trong và ngoài nước tạo cơ hội cho doanh nghiệp Việt giao lưu, quảng bá hình ảnh; truyền tải kịp thời thông tin về ngành, kinh tế – xã hội trong nước và thế giới đến Hội viên. Đặc biệt, VITAS luôn phát huy vai trò là cầu nối hiệu quả giữa cơ quan quản lý Nhà nước với khối doanh nghiệp dệt may, phản ánh những vướng mắc về cơ chế chính sách, làm tốt vai trò là thành viên Hội đồng tiền lương quốc gia, Hội đồng tư vấn cải cách thủ tục hành chính của Thủ tướng.

“Mục tiêu xuyên suốt năm 2024 của ngành may mặc phụ liệu Việt Nam là tiếp tục đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, phát triển bền vững đi đôi với thích ứng mục tiêu đòi hỏi của thị trường toàn cầu về xanh hoá, giảm rác thải nhà kính, đầu tư sâu vào hệ thống nồi hơi đốt bằng điện, giảm dần nồi hơi đốt bằng nhiên liệu hóa thạch. Trong đó, đầu tư vào quản trị số, kiểm soát thích ứng với ngành công nghiệp dệt may toàn cầu, thực hiện công nghệ hoá, tự động hoá ở một số dây chuyền sản xuất thích ứng giao hàng nhanh, mã hàng nhỏ và chất lượng cao và tập trung giải pháp phát triển công nghiệp thời trang…”, Chủ tịch VITAS cho hay.

Người đứng đầu Hiệp hội Dệt may Việt Nam cũng cho biết thêm, hiện nay là cơ hội số 1 cho dệt may thâm nhập vào thị trường toàn cầu nhờ các FTA nhưng có 3 yếu tố cần tuân thủ. Đó là doanh nghiệp cần thích ứng nhanh luật chơi toàn cầu của các nhãn hàng, chủ động nền công nghiệp thời trang. Cùng với đó, doanh nghiệp phải chủ động, xây dựng chuỗi chặt chẽ với nhà sx sợi, nhuộm, tạo chuỗi trong chiến lược phát triển, tiến tới làm chủ cuộc chơi về thương hiệu toàn cầu.

 

Nguồn: Báo Tin tức – TTXVN

2023-11-27 / by / in
Ngành phụ liệu may mặc châu Á gặp khó khăn vì nhu cầu yếu

Lạm phát cao đang ảnh hưởng đến khả năng tiêu dùng của người dân, đồng thời khiến khó khăn bủa vây ngành may mặc. Tình hình này dự báo sẽ còn khó khăn hơn trong thời gian tới.

Xuất khẩu sang Mỹ, châu Âu giảm

Theo dữ liệu hải quan Mỹ, xuất khẩu hàng may mặc phụ liệu và giày dép từ các nhà sản xuất ở Campuchia, Bangladesh, Myanmar và Việt Nam đã giảm khoảng 20-30% về giá trị trong 4 tháng đầu năm.

Xuất khẩu sang Liên minh châu Âu (EU) cũng bắt đầu chậm lại. Số liệu cùng kỳ cho thấy xuất khẩu hàng may mặc của Bangladesh sang EU giảm 3% và của Campuchia cũng giảm nhẹ.

Trong khi đó, xuất khẩu phụ liệu may mặc của Việt Nam sang EU đã tăng gần 20%, trong khi Myanmar duy trì mức tăng trưởng ổn định. Tuy nhiên, số liệu tháng 4 cho thấy lượng hàng xuất khẩu đã giảm đáng kể so với tháng trước.

Vốn phụ thuộc nhiều vào hàng may mặc, giày dép và du lịch, Campuchia đã chứng kiến xuất khẩu giảm 30% trong 4 tháng đầu năm nay.

Ken Loo, Tổng thư ký của Hiệp hội Dệt may, Giày dép & Du lịch tại Campuchia, cho biết lạm phát cao và tình hình kinh tế suy yếu do xung đột Nga – Ukraine là 2 yếu tố chính dẫn đến sự suy giảm này. Hiện tượng này đã bắt đầu từ năm ngoái và có thể kéo dài suốt năm 2023.

Tuy nhiên, ông cho biết vẫn chưa xảy ra tình trạng mất việc trong ngành công nghiệp với hơn 700.000 lao động này. Ông cũng cho rằng Quốc hội Mỹ đã không gia hạn điều khoản ưu đãi, cho phép một số hàng hóa từ các nước đang phát triển được miễn thuế khi nhập khẩu vào thị trường Mỹ. Điều này dẫn đến việc xuất khẩu hàng hóa du lịch giảm 27% trong quý đầu tiên so với cùng kỳ năm ngoái.

Với Myanmar, xuất khẩu sang Mỹ và châu Âu dần ổn định sau khi ngành này bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 và bất ổn chính trị. Một số công ty quần áo và may mặc quốc tế cũng đã cắt đứt quan hệ thương mại với quốc gia này trước lo ngại về điều kiện lao động dưới chính quyền mới.

Tại Bangladesh, bức tranh của ngành phụ liệu may mặc cũng ảm đạm. Ông Mostafiz Uddin, giám đốc điều hành một nhà máy may mặc, cho biết số đơn đặt hàng giảm mạnh và nhiều nhà máy không thể hoạt động hết công suất, dẫn đến việc công nhân phải giảm số giờ làm việc và ít có cơ hội tăng ca.

Thách thức đối với các doanh nghiệp thời trang

Sheng Lu, phó giáo sư khoa thời trang Đại học Delaware, cho biết các công ty thời trang đang phải đối mặt với thách thức trong việc tìm nguồn cung ứng do lạm phát tăng cao ảnh hưởng tới chi tiêu của hộ gia đình, buộc họ phải ưu tiên cho chi phí sinh hoạt thay vì mua sắm.

Với tình hình nhu cầu giảm, nhiều công ty thời trang Mỹ đã giảm sản lượng để giảm hàng tồn kho, dẫn đến việc giảm lượng đơn hàng với các nhà sản xuất hàng phụ liệu may mặc và giày dép tại Đông Nam Á. Các nhà sản xuất đang phải tìm cách thích nghi với thị trường mới và tìm kiếm cơ hội xuất khẩu sang các quốc gia khác như Nhật Bản và Hàn Quốc.

“Đối mặt với nhu cầu giảm, nhiều công ty thời trang Mỹ đã chọn cắt giảm đơn đặt hàng và giải phóng hàng tồn kho, dẫn đến khối lượng giao thương giảm”, ông Sheng Lu chia sẻ thêm.

Một số thương hiệu lớn đã phải sa thải nhân viên trong những tháng gần đây. Nhà bán lẻ Gap của Mỹ đã thông báo vào tháng 4 rằng họ sẽ cắt giảm khoảng 1.800 nhân viên, gã khổng lồ H&M của Thụy Điển cũng cho biết sẽ sa thải 1.500 công nhân vào tháng 11 năm nay, Adidas cũng đang sắp xếp lại hoạt động ở Bắc Mỹ.

Ông Lu cho biết ngoài áp lực kinh tế, các thương hiệu Mỹ cũng đang phải đối mặt với những căng thẳng thương mại. Chính quyền Tổng thống Joe Biden tiếp tục áp dụng thuế quan đối với hàng xuất khẩu từ Trung Quốc. Một số nhà lập pháp của Đảng Cộng hòa cũng đang muốn tước bỏ tình trạng quan hệ thương mại bình thường vĩnh viễn của Trung Quốc.

Ông Lu cho hay: “Trong bối cảnh môi trường kinh doanh ngày càng không chắc chắn, việc giảm rủi ro trong nguồn cung ứng cũng như có nguồn cung linh hoạt là một trong những ưu tiên hàng đầu của các công ty thời trang năm nay”.

Ông cũng cho biết các thương hiệu rất muốn mở rộng hoạt động kinh doanh tại các khu vực khác, nhưng các quốc gia ở Đông Nam Á sẽ vẫn hấp dẫn.

 

 

Nguồn: Nikkei, Retail Insider

2023-10-31 / by / in
Tình hình đơn hàng ngành may mặc xuất khẩu đang có dấu hiệu cải thiện trở lại

Tình hình đơn hàng dệt may mặc xuất khẩu đang có dấu hiệu cải thiện, kỳ vọng nhu cầu tại các thị trường lớn sẽ hồi phục.

Mức giảm xuất khẩu nhỏ dần

Trong 7 tháng đầu năm 2023, kim ngạch xuất khẩu ngành may mặc của Việt Nam đạt 22,8 tỷ USD, giảm 15,9% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, tất cả các mặt hàng đều suy giảm như hàng phụ liệu may mặc đạt 17,8 tỷ USD, giảm 13,2%; vải đạt 1,37 tỷ USD, giảm 18%; xơ sợi đạt 2,5 tỷ USD, giảm 20,7%; nguyên phụ liệu đạt 700 triệu USD, giảm 17%; vải không dệt giảm 25%.

Nguyên nhân khiến hoạt động xuất khẩu của ngành phụ liệu may mặc sụt giảm là do xung đột địa chính trị, hậu quả dịch bệnh Covid-19, lạm phát cao, nhu cầu tiêu dùng giảm, tồn kho tăng.

Dù vậy, tháng 7 đã có chuyển biến tích cực hơn. Số liệu từ Tổng cục Hải quan cho thấy, trong tháng 7/2023, giá trị xuất khẩu sợi và ngành hàng may mặc của Việt Nam tăng 9,15% và 3,2% so với tháng 6, đạt 392 triệu USD và 3,2 tỷ USD; đặc biệt, giá trị xuất khẩu xơ sợi tăng 21,6% so với cùng kỳ năm 2022.

Lũy kế 7 tháng đầu năm 2023, giá trị xuất khẩu sợi đạt 2,5 tỷ USD, giảm 20,7%; hàng may mặc đạt 18,9 tỷ USD, giảm 14,9% so với cùng kỳ năm 2022 (mức giảm của quý I/2023 lần lượt là 35,1% và 17,6%).

Xét cơ cấu thị trường, trong 7 tháng đầu năm 2023, giá trị xuất khẩu hàng may mặc sang Mỹ đạt 8,5 tỷ USD, giảm 23,8%; Hàn Quốc đạt 1,6 tỷ USD, giảm 2,9%; Canada đạt 665 triệu USD, giảm 13,4% so với cùng kỳ năm ngoái. Riêng hàng may mặc xuất khẩu sang Nhật Bản ghi nhận tăng trưởng 4,8%, đạt 2,2 tỷ USD và thị phần đạt 16,2%, mức cao nhất kể từ năm 2020.

Về xơ sợi, trong 7 tháng đầu năm nay, giá trị xuất khẩu sang Trung Quốc đạt 1,3 tỷ USD, giảm 12,5% so với cùng kỳ năm ngoái và chiếm 50,4% tổng kim ngạch xuất khẩu xơ sợi. Xuất khẩu sợi sang Hàn Quốc giảm 28% so với cùng kỳ, xuống còn 223 triệu USD.

Ngoài ra, chi phí đầu vào của ngành phụ liệu may mặc được đánh giá đã chạm đáy. Giá bông gần đây có diễn biến đi lên, sau khi chạm mức thấp nhất 80 USD/pound vào tháng 7, cho thấy nhu cầu bông đầu vào cho ngành dệt may gia tăng, nhằm đón đầu triển vọng hồi phục thời gian tới. Giá dầu thô và chi phí vận chuyển đã tăng kể từ đầu quý III/2023, thể hiện sự cải thiện về nhu cầu chung.

Triển vọng nhìn về cuối năm

Kết quả hoạt động tháng 7 và 7 tháng đầu năm 2023 của một số doanh nghiệp dệt may cho thấy bức tranh kinh doanh đang dần sáng lên.

Công ty cổ phần Dệt may – Đầu tư – Thương mại Thành Công (Dệt may Thành Công, mã chứng khoán TCM) cho biết, tình hình xuất khẩu gần đây có những tín hiệu tích cực và các đối tác từ châu Âu, Đông Bắc Á, Đông Nam Á đến Việt Nam tìm hiểu sản phẩm may mặc có xu hướng tăng so với trước. Kỳ vọng, hoạt động xuất khẩu dệt may và nguyên liệu sẽ phục hồi trong những tháng cuối năm. Theo đó, lượng xuất khẩu hàng dệt may nửa cuối năm sẽ tăng so với nửa đầu năm.

Riêng tại Dệt may Thành Công, trong tháng 7 vừa qua, tình hình kinh doanh khả quan hơn do thị trường Mỹ và EU bắt đầu có dấu hiệu phục hồi. Sang quý IV, chuẩn bị cho mùa lễ, tết, hoạt động xuất khẩu sẽ tích cực hơn.

Trong 7 tháng, Dệt may Thành Công đạt 78,9 triệu USD doanh thu, giảm 27%; lợi nhuận sau thuế 5,2 triệu USD, giảm 22% so với cùng kỳ năm ngoái. Doanh thu của Công ty đến từ 3 mảng chính, trong đó sản phẩm may chiếm 76%, vải chiếm 16%, sợi chiếm 6% tổng doanh thu.

Về tình hình đơn hàng, Dệt may Thành Công đã nhận khoảng 76% kế hoạch doanh thu đơn hàng cho quý III/2023 và nhận khoảng 86% kế hoạch doanh thu cho đơn hàng quý IV/2023.

Công ty cổ phần Đầu tư và Thương mại TNG (mã chứng khoán TNG) cho biết, khó khăn nhất đã qua khi doanh thu tháng 7/2023 đạt 782 tỷ đồng, tăng 11,5% so với tháng 6 và tăng 2% so với cùng kỳ năm 2022. Lũy kế 7 tháng đầu năm nay, Công ty đạt doanh thu 4.116 tỷ đồng, tăng 3% so với cùng kỳ năm ngoái. Hiện nay, 98% doanh thu của TNG đến từ xuất khẩu, các thị trường xuất khẩu trọng điểm là Mỹ chiếm 47%, Pháp chiếm 15%, Canada chiếm 8%.

Với Công ty cổ phần May Sông Hồng (mã chứng khoán MSH), kết quả kinh doanh quý II/2023 được Công ty Chứng khoán SSI đánh giá là vượt trội so với các công ty cùng ngành khi trở thành doanh nghiệp duy nhất đạt được mức tăng trưởng doanh thu so với cùng kỳ, mặc dù lợi nhuận sau thuế giảm 2%. Biên lợi nhuận trước thuế, khấu hao và lãi vay (EBITDA) của May Sông Hồng trong nửa đầu năm 2023 là 10,6%.

Tại Công ty cổ phần Sợi Thế Kỷ (mã chứng khoán STK), doanh thu 6 tháng đầu năm 2023 đạt 695 tỷ đồng, giảm 40,5%; lợi nhuận sau thuế đạt 39,1 tỷ đồng giảm 73,4% so với cùng kỳ năm ngoái. Nguyên nhân chính là trong quý II/2023, doanh số và giá bán bình quân thấp hơn cùng kỳ, vì các khách hàng gián tiếp và trực tiếp thu hẹp quy mô đơn hàng. Chi phí tài chính và thuế thu nhập doanh nghiệp giảm, nhưng vẫn không cải thiện được chỉ tiêu lợi nhuận. Mặc dù vậy, hoạt động kinh doanh từ nay đến cuối năm của STK được kỳ vọng sẽ cải thiện nhờ sức cầu tiêu dùng có triển vọng tốt hơn.

Ngân hàng Thế giới dự báo, GDP thực tế năm 2023 của các thị trường trọng điểm như Mỹ tăng 1,1%, Nhật Bản tăng 0,8%, Trung Quốc tăng 5,6%, dẫn đến sự gia tăng thu nhập, kéo theo niềm tin người tiêu dùng hồi phục. Với tâm lý tích cực hơn, người tiêu dùng sẵn sàng chi tiêu cao hơn mùa lễ, tết sắp tới.

Đáng chú ý, hàng tồn kho của các thương hiệu thời trang lớn như Nike, H&M, GAP, Inditex đang thấp hơn nhiều so với hồi giữa năm 2022. Việc bổ sung hàng dự trữ trong thời gian tới sẽ đem lại triển vọng tích cực cho các doanh nghiệp dệt may.

Hiện tại, đà phục hồi chậm khiến nhiều doanh nghiệp phụ liệu may mặc vẫn chật vật tìm kiếm đơn hàng và lo ngại khả năng khó hoàn thành kế hoạch kinh doanh năm 2023. Tuy nhiên, nhóm cổ phiếu ngành dệt may được một số công ty chứng khoán nâng mức đánh giá từ trung lập lên tích cực khi những khó khăn nhất của ngành dệt may dần đi qua, bức tranh kinh doanh sẽ cải thiện kể từ quý III.

Trong bối cảnh tổng cầu dệt may thế giới năm 2023 dự kiến giảm 8 – 10%, kim ngạch xuất khẩu ngành dệt may Việt Nam năm nay ước đạt khoảng 40 tỷ USD, giảm 9 – 10% so với năm ngoái.

 

2023-10-09 / by / in
Doanh nghiệp FDI ngành dệt may bị sụt giảm mạnh về đơn hàng

Sụt giảm mạnh về đơn hàng, nên xuất khẩu hàng dệt may của doanh nghiệp có vốn FDI 6 tháng đầu năm 2023 mới đạt 9,59 tỷ USD, giảm 15,5% so với cùng kỳ năm 2022.

Sức mua của các thị trường chính như Mỹ, châu Âu tiếp tục suy giảm, các yếu tố bất lợi của thị trường trên đà tiếp diễn, kim ngạch xuất khẩu toàn ngành may mặc nửa đầu năm nay đã sụt giảm 15% so với cùng kỳ.

Số liệu thống kê mới nhất của Tổng cục Hải quan, xuất khẩu nhóm hàng dệt may tháng 6/2023 đạt 3,06 tỷ USD, tăng 4,9% so với tháng 5/2023 nhưng giảm 14,7% so với tháng 6/2022.

Trong đó, xuất khẩu hàng may mặc của doanh nghiệp có vốn FDI đạt 9,59 tỷ USD, chiếm 61% trong tổng kim ngạch xuất khẩu nhóm hàng này của cả nước, giảm 15,5% so với cùng kỳ năm 2022.

Hàng dệt may của Việt Nam xuất sang Mỹ luôn đứng đầu về kim ngạch, đạt 6,96 tỷ USD, chiếm 44,2% trong tổng kim ngạch xuất khẩu, giảm 25,4% so với cùng kỳ năm 2022; xuất sang EU đứng thứ 2 về kim ngạch, đạt 1,88 tỷ USD, chiếm 11,9%, giảm 10,3%; tiếp đến thị trường Nhật Bản, đạt trên 1,75 tỷ USD, chiếm 11,1%, tăng 4,9%.

Đứng thứ 4 là thị trường Hàn Quốc đạt 1,34 tỷ USD, chiếm 8,5%, giảm nhẹ 1,9% và sang Canada đạt 572,13 triệu USD, chiếm 3,6%, giẩm 13,3% so với cùng kỳ năm 2022.

Hàng phụ liệu may mặc xuất khẩu sang thị trường Đông Nam Á chiếm 5,8%, đạt trên 911,16 triệu USD, giảm 10,5% so với 6 tháng năm 2022.

Xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc chiếm 3% trong tổng kim ngạch, đạt 484,82 triệu USD, giảm 10,3%.

Các tháng của quý III, ngành phụ liệu may mặc được dự báo tiếp tục thiếu hụt đơn hàng và chi phí đầu vào tăng cao, các thị trường xuất khẩu chính vẫn chưa hồi phục. Tổng cầu dệt may thế giới dự kiến đạt 700 tỷ USD, giảm 8% so với 2022, thấp hơn năm 2020 khi đại dịch Covid-19 xảy ra, cùng đó là đòi hỏi khắt khe từ các nhãn hàng như giảm giá sản xuất, đơn hàng nhỏ, giao hàng nhanh, yêu cầu cao hơn về chất lượng…

Năm ngoái, xuất khẩu dệt may đạt 36,6 tỷ USD, tăng 14,7% so với năm 2021, xơ sợi đạt 4,7 tỷ USD, giảm 16%, còn lại là nguyên phụ liệu. Tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành đạt khoảng 44 tỷ USD.

Mục tiêu có tăng trưởng với ngành dệt may trong năm nay gần như là bất khả thi.

2023-10-06 / by / in
Vừa “khát” đơn hàng, ngành may mặc phụ liệu còn chịu cảnh đơn giá giảm sâu

Chiều 19/7, Hiệp hội Dệt may Việt Nam (Vitas) thông tin về tình hình ngành dệt may mặc Việt Nam nửa đầu năm 2023.

Theo Vitas, năm 2023, tác động tiêu cực của dịch bệnh cùng những biến động chính trị trên thế giới khiến cho tăng trưởng kinh tế toàn cầu tiếp tục suy giảm (năm 2021 tăng 6%; năm 2022 tăng 3%, dự báo năm 2023 chỉ trên dưới 2%).

Ngành dệt may mặc phụ liệu theo đó chịu ảnh hưởng bởi sự sụt giảm đơn hàng từ các thị trường chính như Mỹ, EU. Cụ thể, kim ngạch xuất khẩu dệt may 6 tháng đầu năm 2023 ước đạt đạt 18,6 tỷ USD giảm 17,6% so với cùng kỳ 2022. Kim ngạch nhập khẩu ước đạt 10,7 tỷ USD giảm 20,5% và xuất siêu 7,9 tỷ USD (cùng kỳ 2022 là 8,8 tỷ USD).

Thực hiện xuất khẩu 5 tháng 2023 sang các thị trường lớn hầu hết đều giảm: Mỹ giảm 27,1%, EU giảm 6,2%, Nhật Bản tăng 6,6%, Hàn Quốc giảm 2%, Canada giảm 10,9%…

Mức giảm sâu này không chỉ bởi tác động của nền kinh tế mà còn đến từ áp lực “xanh hóa” ngành, chỉ thị tra soát chuỗi cung ứng của OECD, EU và Luật thẩm định chuỗi cung ứng của Đức (có hiệu lực từ 1/1/2023).

Bên cạnh đó, mặc dù Ngân hàng Nhà nước đã có 4 lần giảm lãi suất điều hành, nhưng do lãi suất huy động cao từ cuối năm 2022, nên lãi suất vay vẫn ở mức cao. Doanh nghiệp không tiếp cận được với các gói hỗ trợ, ví dụ giảm lãi suất 2% với gói 40.000 tỷ đồng,…

Vitas dự báo tình hình sản xuất, xuất khẩu sẽ cải thiện dần nhưng khó khăn sẽ còn kéo dài hết năm 2023, do nhiều doanh nghiệp đến nay chưa đủ đơn hàng cho quý III và quý IV.

“Ngoài việc thiếu đơn hàng, chấp nhận các đơn hàng không phải thế mạnh của mình, các doanh nghiệp còn phải đối mặt với khó khăn do đơn giá giảm sâu, thậm chí giảm đến trên 50% so với bình thường”, Vitas nêu.

Năm 2023, toàn ngành dệt may mặc phụ liệu đặt mục tiêu phấn đấu đạt 39 – 40 tỷ USD. Để hoàn thành mục tiêu, phía Hiệp hội yêu cầu các doanh nghiệp cần chú trọng 3 vấn đề cốt lõi.

Thứ nhất, tìm giải pháp giữ chân người lao động, nhất là lực lượng nòng cốt. Tổ chức các lớp đào tạo kỹ năng nghề, đào tạo nhân lực cho chuyển đổi xanh, chuyển đổi số.

Thứ hai, giữ chân khách hàng, chấp nhận các đơn hàng không phải thế mạnh, không có lãi để có việc làm cho người lao động và để khách hàng không chuyển đi nơi khác. Xây dựng quan hệ đối tác tin cậy, lâu dài. Khai thác thị trường mới, quan tâm thị trường nội địa.

Thứ ba, giảm tối đa các chi phí chưa thực sự cần thiết của doanh nghiệp.

2023-08-17 / by / in
Ngành May mặc Việt Nam làm gì để khôi phục thị phần, duy trì động lực tăng trưởng trong bối cảnh mới

Cuộc xung đột giữa Nga-Ukraine và sự thắt chặt mạnh mẽ các điều kiện tài chính ở nhiều nền kinh tế lớn đã làm ảnh hưởng đến tăng trưởng toàn cầu. Năm 2023, Worldbank dự báo tăng trưởng GDP toàn cầu chỉ ở mức 2,1%, thấp hơn năm 2022. Kinh tế tăng trưởng thấp, lạm phát và lãi suất cao, rủi ro tiềm ẩn trong thị trường tài chính và một phần dư âm của giai đoạn hậu Covid – 19 dẫn đến xu thế tiếp tục thắt chặt chi tiêu của người tiêu dùng và hàng hóa dệt may luôn có mặt trong top 5 các mặt hàng được tiết giảm. Sức tiêu thụ của các thị trường lớn như Mỹ, EU suy giảm mạnh, hàng tồn kho của các nhãn hàng đang ở mức cao, các yếu tố bất định về địa chính trị vẫn đe dọa tăng trưởng kinh tế, các yếu tố vĩ mô trong nước cùng với năng lực cạnh tranh nội tại trong doanh nghiệp sẽ gây ra những thách thức lớn đối với ngành Dệt May Việt Nam trong thời gian tới. Trước bối cảnh mới này, ngành dệt may Việt Nam cần làm gì để khôi phục thị phần, duy trì động lực tăng trưởng?

Tổng cầu may mặc thế giới và một số thị trường chính

Dự báo tổng cầu may mặc phụ liệu thế giới năm 2023 sẽ tiếp tục giảm khoảng 8% xuống còn 700 tỷ USD (thấp hơn tổng cầu năm 2020 xảy ra dịch Covid – 19), sau khi đã giảm 6% trong năm 2022 và xu hướng cầu thấp được dự báo vẫn tiếp diễn trong năm 2024.

Thị trường Mỹ

Mỹ là quốc gia nhập khẩu hàng dệt may lớn nhất thế giới (xét theo phạm vi một quốc gia) với tổng kim ngạch nhập khẩu hơn 127 tỷ USD vào năm 2022, chiếm khoảng 17% tổng kim ngạch nhập khẩu của thế giới. Tổng cầu dệt may của Mỹ có sự biến động lớn trong những năm gần đây đặc biệt là khi trải qua đại dịch Covid-19.

 

Để kiềm chế lạm phát, Cục dự trữ liên bang Mỹ (FED) đã tăng lãi suất 10 lần liên tiếp từ tháng 3/2022 đến nay, theo đó, tổng cầu dệt may mặc của Mỹ có sự ảnh hưởng nhất định. Năm 2021, chứng kiến tổng cầu dệt may của Mỹ đạt đỉnh ở mức 127,9 tỷ USD khi tăng trưởng GDP Mỹ quay trở lại ở mức 5,9%. Một phần đóng góp vào sự tăng trưởng này là do hiện tượng quá mua vào cuối năm 2021 khi người dân đổ xô đi mua sắm sau Covid-19, dẫn tới việc tiêu thụ quần áo quá mức bình thường. Tuy nhiên điều này chỉ kéo dài đến hết quý 2 năm 2022, tổng cầu dệt may có sự suy giảm rõ rệt vào 6 tháng cuối năm 2022 và tiếp tục giảm trong 6 tháng đầu năm 2023. Nguyên nhân là do hiện tượng quá mua đã bị thoái trào, tiêu dùng cá nhân chưa hồi phục và xu hướng chuyển dịch sang sử dụng dịch vụ, áp lực lãi suất neo cao khiến nhu cầu dệt may của Mỹ bị ảnh hưởng rõ rệt. Tổng cầu dệt may Mỹ giảm 8,6% trong năm 2022 so với năm 2021 xuống còn 116,9 tỷ. Dự báo tổng cầu dệt may của Mỹ vào năm 2023 sẽ chỉ còn đạt 112,8 tỷ USD, giảm 3,5% so với 2022.

Thị trường EU

EU là thị trường tiêu thụ hàng may mặc phụ liệu lớn nhất với mức tiêu thụ lên tới hơn 264 tỷ USD vào 2022, chiếm khoảng 33% tổng kim ngạch nhập khẩu dệt may của thế giới.

Ngày 4/5/2023, Ngân hàng Trung ương châu Âu (ECB) đã công bố quyết định tăng lãi suất thêm 0,25%, lên mức 3,25%. Đây là lần tăng lãi suất thứ 7 liên tiếp của ECB kể từ tháng 7/2022 để ứng phó với lạm phát cao kéo dài và sẽ tiếp tục gây áp lực lên nhu cầu hàng may mặc tại khu vực này khiến cho tổng cầu dệt may của thị trường EU được dự báo giảm còn 260 tỷ USD trong năm 2023 tương đương mức giảm 1,8% so với năm 2022.

Thị trường Nhật Bản

Nhật Bản là thị trường tiêu thụ may mặc phụ liệu lớn trong khu vực Châu Á. Hàng năm Nhật Bản nhập khẩu khoảng 35 tỷ USD hàng dệt may, chiếm 4% tổng kim ngạch nhập khẩu dệt may của thế giới. Kinh tế Nhật phục hồi sau đại dịch với mức tăng GDP từ -4,5% trong năm 2020 lên 1,6% trong năm 2021. Ngân hàng Nhật Bản BOJ hiện vẫn giữ nguyên chính sách tiền tệ nới lỏng với lãi suất -0,1%. Kinh tế Nhật Bản cũng có gam màu sáng hơn khi tăng trưởng GDP 2022 đạt 2,4%. Tổng cầu dệt may Nhật Bản theo đó cũng có có xu hướng tăng từ 33,3 tỷ USD năm 2021 tăng lên 36,9 tỷ USD năm 2022, tương đương mức tăng 10,8%. Theo dự báo, năm 2023, tổng cầu dệt may Nhật Bản sẽ tăng lên mức 37,4 tỷ USD, tương đương mức tăng 1,3% so với năm 2022.

Thị trường Trung Quốc

Tổng cầu dệt may Trung Quốc có sự biến động lớn trong giai đoạn đại dịch Covid- 19 khi năm 2020 tổng cầu dệt may Trung Quốc giảm xuống 29,3 tỷ USD, mức thấp nhất trong 5 năm gần đây. Năm 2021 chứng kiến tăng trưởng GDP quay trở lại sau đại dịch ở mức 8,1% và cầu dệt may Trung Quốc đã hồi phục lên mức 35,5 tỷ USD. Tuy nhiên trong năm 2022, tổng cầu dệt may chỉ đạt 31,4 tỷ USD giảm 13% so cùng kỳ. Điều này là do các thương hiệu thời trang quốc tế đang bắt đầu đẩy nhanh quá trình chuyển dịch sản xuất ra khỏi Trung Quốc nhằm hạn chế các rủi ro chuỗi cung ứng và căng thẳng địa chính trị khiến cho tổng cầu bị ảnh hưởng. Dự kiến trong năm 2023, tổng cầu dệt may vẫn tiếp tục giảm xuống mức 30,8 tỷ USD.

Kim Ngạch Xuất khẩu (KNXK) ngành dệt may Việt Nam trong 6 tháng đầu năm 2023 đạt 18,7 tỷ USD, giảm 17,7% so cùng kỳ (6 tháng đầu năm 2022 KNXK đạt 22,7 tỷ USD, tăng 19,2% so cùng kỳ 2021). Tình hình xuất khẩu dệt may biến động xấu đi vào 6 tháng cuối năm 2022 và kéo dài cho tới nửa đầu năm 2023.

Trong khi đó, các quốc gia dệt may cạnh tranh với Việt Nam ghi nhận những bức tranh đối lập trong kết quả xuất khẩu dệt may nửa đầu năm 2023, cụ thể:

Trung Quốc xuất khẩu dệt may trong 5 tháng 2023 đạt 118,2 tỷ USD, giảm 5,5% so cùng kỳ, trong đó KNXK hàng may mặc đạt 61,3 tỷ USD, giảm 1,35% so cùng kỳ. KNXK hàng dệt, sợi, vải đạt 56,6 tỷ USD, giảm 9,58% so cùng kỳ.

Trái ngược với Việt Nam và Trung Quốc, đối thủ Bangladesh trong tháng 6/2023 đạt KNXK 4,36 tỷ USD, tăng 6,5% so với cùng kỳ. Tính chung 6 tháng đầu năm 2023, KNXK hàng may mặc của Bangladesh đạt gần 24 tỷ USD, tăng 5,6% so với cùng kỳ 2022.

Xuất khẩu hàng dệt may của Ấn Độ cũng ghi nhận mức giảm 11,4% trong 2 tháng 4-5/2023 so với cùng kỳ xuống còn 5,57 tỷ USD từ mức 6,72 tỷ USD năm 2022. Tính riêng tháng 5 năm 2023, quốc gia này đã xuất khẩu lô hàng dệt may trị giá 2,8 tỷ USD, giảm 12,16% so với cùng kỳ.

Như vậy có thể thấy, trong nửa đầu năm 2023 ngoại trừ Bangladesh, các quốc gia còn lại đều gặp khó khăn trong xuất khẩu hàng dệt may ghi nhận mức tăng trưởng âm so với cùng kỳ, tuy nhiên Việt Nam với mức giảm 17,7% trong 6 tháng đầu năm là mức giảm cao nhất trong tất cả các quốc gia xuất khẩu lớn (các quốc gia nhập khẩu dệt may chính chỉ giảm ở mức 2-8%)

 

 

Nguồn: vinatex.com.vn

2023-08-16 / by / in