Thêm kết quả...

Doanh nghiệp ngành nhựa rơi vào khốn đốn

(ĐTCK) Ngoài áp lực chi phí nguyên liệu tăng mạnh, việc đứt gãy sản xuất đang đẩy các doanh nghiệp ngành nhựa vào tình cảnh khó khăn chưa từng thấy.

Gánh nặng chi phí nguyên vật liệu kéo lùi lợi nhuận

Công ty cổ phần Nhựa Đồng Nai (mã DNP) vừa công bố báo cáo tài chính quý II/2021 với doanh thu thuần đạt 1.170,3 tỷ đồng, tăng 54% so với cùng kỳ năm ngoái.

Tuy nhiên, lợi nhuận sau thuế chỉ đạt 3,56 tỷ đồng, giảm tới 85%. Lũy kế 6 tháng đầu năm, doanh thu thuần đạt 2.025,7 tỷ đồng, lợi nhuận đạt 4,52 tỷ đồng, tương ứng tăng 33% về doanh thu và giảm 83% về lợi nhuận so với cùng kỳ.

DNP cho biết, nguyên liệu hạt nhựa tăng mạnh, cùng với các chi phí hỗ trợ khách hàng, chi phí lưu kho, chi phí logistic đều gia tăng so với năm trước là nguyên nhân khiến lợi nhuận của Công ty giảm sâu.

Doanh nghiệp ngành nhựa rơi vào khốn đốn ảnh 1

 

Nhờ tình hình kinh doanh quý I tương đối tích cực nên kết quả kinh doanh 2 quý đầu năm của DAG vẫn tăng trưởng, với doanh thu 1.109 tỷ đồng, lãi ròng đạt 3,6 tỷ đồng, lần lượt tăng 36,6% và 9% so với cùng kỳ.Doanh nghiệp cùng ngành là Công ty cổ phần Nhựa Đông Á (mã DAG) báo cáo doanh thu thuần quý II/2021 giảm 4,6% so với cùng kỳ, xuống 587 tỷ đồng; lãi ròng giảm 81,5%, đạt vẻn vẹn 393 triệu đồng.

DAG lý giải, việc lợi nhuận giảm mạnh trong quý II chủ yếu là do giá nguyên liệu đầu vào tăng mạnh.

Quý vừa qua, Công ty cổ phần Nhựa Bình Minh (mã BMP) – doanh nghiệp đầu ngành nhựa – dù ghi nhận doanh thu thuần 1.452 tỷ đồng, tăng 16% so với cùng kỳ, song lãi ròng lại giảm 73%, xuống còn 42 tỷ đồng. Biên lãi gộp trong kỳ giảm từ 28,3% xuống chỉ còn 12,8%.

Lũy kế 6 tháng đầu năm, BMP đạt 2.606 tỷ đồng doanh thu thuần, tăng 15% so với cùng kỳ song lãi ròng đạt 126 tỷ đồng, giảm 51%. Đây cũng là mức lợi nhuận thấp nhất trong vòng 10 năm qua của BMP.

Hiệu quả kinh doanh của BMP trong tháng 7 còn xấu hơn khi dịch bệnh Covid-19 bùng phát mạnh tại các tỉnh phía Nam, nơi đặt cơ sở sản xuất và cũng là thị trường tiêu thụ trọng điểm của Công ty.

BMP lỗ 3,7 tỷ đồng trong tháng 7, đây là lần đầu tiên Công ty báo lỗ kể từ khi hoạt động.

Ông Nguyễn Hoàng Ngân, Tổng giám đốc BMP cho biết, sản lượng bán hàng trong tháng 7 của Công ty giảm 44%, xuống 5.213 tấn, tương ứng doanh thu cũng giảm gần 39% so với cùng kỳ, xuống mức 244 tỷ đồng. Việc giá nguyên liệu đầu vào tăng khiến BMP lỗ 3,7 tỷ đồng trong tháng 7, đây là lần đầu tiên Công ty báo lỗ kể từ khi hoạt động.

Theo ông Ngân, “trong lịch sử, chưa bao giờ giá nguyên liệu nhựa cao như trong nửa đầu năm nay, đó là tác động cực kỳ lớn với hầu hết các doanh nghiệp nhựa”.

Tại Công ty cổ phần Nhựa Tân Đại Hưng (mã TPC), trong quý II/2021, dù doanh thu thuần đạt 266,8 tỷ đồng, tăng 29,3% so với cùng kỳ năm ngoái, song lãi ròng vẫn giảm 25%, về mức 6 tỷ đồng. Lũy kế nửa đầu năm, doanh thu thuần của TPC đạt 462,9 tỷ đồng, lãi ròng đạt 9,5 tỷ đồng, lần lượt tăng 16,6% và giảm 13,6%.

Giá nguyên liệu nhựa tăng mạnh cùng với xu hướng tăng của các hàng hóa cơ bản do đứt gẫy chuỗi cung ứng toàn cầu kể từ khi đại dịch Covid-19 xuất hiện.

Trong báo cáo mới đây của Công ty Chứng khoán Bảo Việt (BVSC), giá hạt nhựa PVC đạt mức cao kỷ lục với 1.600 USD/tấn vào hồi giữa tháng 4. Sau đó, dù đã hạ nhiệt xuống 1.360 USD/tấn nhưng giá hạt nhựa PVC vẫn tăng 9% so với đầu năm 2021 và tăng 54% so với giá bình quân năm 2020.

Theo Hiệp hội Nhựa Việt Nam (VPA), nguyên liệu sản xuất trong nước mới đáp ứng khoảng 15 – 25% nhu cầu của các doanh nghiệp nhựa cho các chủng nguyên liệu nhựa, còn 85% vẫn phải phụ thuộc vào nhập khẩu từ Trung Quốc, Hàn Quốc, Nhật Bản và khu vực ASEAN.

Đối với nguyên liệu nhựa PP dùng trong sản xuất nhựa công nghiệp và gia dụng, Việt Nam mới đáp ứng được 850.000 tấn/năm, kể cả khi chạy hết công suất các nhà máy. Trong khi đó, dự kiến năm 2021, các doanh nghiệp phải tiêu thụ khoảng 2,045 triệu tấn nhựa PP. Hiện giá nhập khẩu nguyên liệu PP đang ở mức khoảng 1.300 USD/tấn.

… và đình trệ sản xuất vì Covid-19

Theo VPA, cả nước đang có gần 3.000 doanh nghiệp nhựa, với hơn 300.000 lao động, trong đó 70% doanh nghiệp đang hoạt động tại TP.HCM và các tỉnh lân cận như Đồng Nai, Bình Dương, Long An, Tây Ninh.

Năm 2020, doanh thu toàn ngành nhựa đạt khoảng 22,18 tỷ USD và vẫn duy trì đà tăng trưởng ở mức 10,9% so với năm 2019. Tuy nhiên, việc giá nguyên vật liệu tăng nóng, cùng với sự bùng phát mạnh của Covid-19 đã khiến toàn ngành điêu đứng.

Những tháng cuối năm, dự báo các doanh nghiệp ngành này sẽ còn gặp nhiều khó khăn hơn, do các lệnh giãn cách xã hội dự kiến sẽ còn kéo dài ít nhất là tới giữa tháng 9/2021.

Hiện nhiều doanh nghiệp nhựa nằm trong khu phong tỏa, hoạt động chỉ đạt 30- 50% công suất, ảnh hưởng đến doanh thu và dòng tiền của Công ty. Riêng Nhựa Bình Minh, ông Ngân cho biết, hiện Công ty chỉ duy trì hoạt động khoảng 20% công suất, đồng thời tạm ngừng nhiều hoạt động của nhà máy.

Trước tình hình đó, VPA đã có văn bản gửi đến Thủ tướng Chính phủ, các bộ, ngành đề xuất các giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp nhựa vượt qua khó khăn.

Theo đó, VPA đề xuất giãn nợ cho các doanh nghiệp trong 6 tháng tới, với cả khoản vay ngắn hạn và dài hạn và giảm tiếp 2 – 3%/năm lãi suất cho vay đối với những doanh nghiệp bị ảnh hưởng nặng bởi Covid-19.

Ngoài ra, VPA đề xuất giảm thuế đất của năm 2021 để bù đắp cho các doanh nghiệp những tháng phải ngừng hoạt động, cho doanh nghiệp lùi thời gian đóng các khoản thuế, bảo hiểm xã hội trong 6 tháng tới để giúp doanh nghiệp có thêm dòng tiền phục vụ hoạt động sản xuất – kinh doanh.

Mặt khác, các thành viên của VPA cũng đề cập đến việc bỏ quy định chỉ hàng hóa thiết yếu mới được lưu thông, thay vào đó là cho phép lưu thông trong điều kiện bình thường nếu đảm bảo phòng chống dịch, như đề xuất của Bộ Công Thương ngày 27/7/2021.

Hiệp hội cũng mong muốn bổ sung doanh nghiệp nhựa vào nhóm ưu tiên bên cạnh các ngành điện tử, dệt may, da giày, ô tô, thép, chế biến nông sản, thực phẩm…

Đặc biệt, VPA kiến nghị không tiếp tục duy trì áp dụng sản xuất “3 tại chỗ”, mà bổ sung các hình thức khác cho doanh nghiệp được lựa chọn. VPA cũng trông đợi được áp dụng nguyên tắc “lây nhiễm ở đâu, làm sạch ở đó, tiếp tục hoạt động”.

Riêng vấn đề nguyên liệu, VPA đề nghị Chính phủ và các cơ quan chức năng xem xét giữ nguyên mức thuế suất nhập khẩu nguyên liệu nhựa PP là 3% như hiện nay, tạo điều kiện cho doanh nghiệp vượt qua thử thách trong thời gian tới. Tuy vậy, chính sách hỗ trợ về thuế cũng chỉ giải quyết phần rất nhỏ, bởi giá nguyên vật liệu tăng là vấn đề của toàn cầu.

“Khả năng trở về hoạt động bình thường của doanh nghiệp hoàn toàn phụ thuộc vào tình hình của dịch bệnh. Với điều kiện về vận chuyển, tổ chức sản xuất tại chỗ, nhu cầu thị trường, yếu tố khách hàng như hiện nay thì tình hình chưa thể cải thiện được”, ông Ngân đánh giá.

Nguồn: tinnhanhchungkhoan.vn

2021-11-18 / by / in
Ứng xử ra sao với rác thải nhựa?

Kinhtedothi – Rác thải nhựa là một trong những tác nhân gây ra tình trạng ô nhiễm môi trường, ảnh hưởng đến hệ sinh thái… Song, nếu được thu gom, phân loại theo đúng quy định thì rác thải nhựa sẽ trở thành một nguồn tài nguyên quý giá, là nguyên liệu cho các hoạt động khác… Đó là chia sẻ của nhiều chuyên gia trong lĩnh vực môi trường về những tác động của rác thải nhựa với cuộc sống.

Những hệ lụy khôn lường
Theo công bố gần đây của Liên Hợp Quốc, mỗi năm lượng rác thải nhựa thải ra môi trường đủ để bao quanh trái đất 4 lần. Thậm chí, mỗi phút trôi qua sẽ có 1.000 túi nhựa được tiêu thụ nhưng chỉ 27% trong số này được xử lý và tái chế. Tại Việt Nam, thống kê được đưa ra tại lễ phát động phong trào chống rác thải nhựa hưởng ứng chiến dịch làm cho thế giới sạch hơn năm 2018 cũng khiến không ít người giật mình khi Việt Nam xếp thứ 17 trong 109 quốc gia có mức độ ô nhiễm rác thải nhựa lớn nhất thế giới.

Theo thống kê của Liên Hợp Quốc mỗi năm lượng rác thải nhựa thải ra môi trường
đủ để bao quanh trái đất 4 lần. Ảnh minh họa.
Trong khi đó, theo số liệu thống kê của Bộ Xây dựng, tỷ lệ thu gom chất thải sinh hoạt đô thị hiện đạt khoảng 85,5% (khoảng 32.000 tấn/ngày) do các công ty môi trường đô thị thực hiện, ngoài ra còn có hệ thống thu gom không chính thức (những người mua bán đồng nát, ve chai); còn tỷ lệ thu gom chất thải sinh hoạt ở nông thôn từ 45 – 55% (khoảng 14.200 tấn/ngày) lượng rác còn lại được vứt bỏ trên đường, dòng sông, cánh đồng hoặc các bãi tập kết rác tự phát. Cũng theo thống kê của Bộ Xây dựng, trong tổng khối lượng rác thải phát sinh, tỷ lệ rác thải nhựa chiếm từ 12 – 16%, đứng thứ 2 sau rác thải hữu cơ (từ 55 – 68%), song lượng rác thải nhựa được phân loại để xử lý, tái chế theo quy định hiện rất thấp, chủ yêu được xử lý bằng phương pháp chôn lấp, đốt hoặc thải thẳng ra môi trường.
Theo PGS.TS Đỗ Văn Mạnh – Phó Viện trưởng Viện Công nghệ môi trường (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam), nghiên cứu của các nhà khoa học cho thấy, một chai nhựa sẽ cần từ 450 – 1.000 năm, một bao nhựa là 10 – 100 năm và chai chất tẩy rửa là 500 – 1.000 năm để phân hủy hết trong môi trường biển… Và trong khoảng thời gian này, nhựa nano và hạt vi nhựa đã không ngừng tấn công hệ sinh thái gây ảnh hưởng đến môi trường sống, gây ra những cái chết vô cùng đau đớn với các loài động vật biển như, chim, cá…
Rác thải nhựa không phải là đồ bỏ đi
Theo GS.TS Nguyễn Hữu Dũng – Viện trưởng Viện Môi trường đô thị và Công nghiệp Việt Nam, để giảm thiểu tình trạng ô nhiễm môi trường do rác thải nhựa gây ra, chúng ta cần giảm thiểu sử dụng sản phẩm nhựa một lần, phân loại rác thải tại nguồn, tăng khả năng tái sử dụng, tái chế rác thải nhựa; tập trung phát triển các công nghệ tái chế túi ni lông, rác thải nhựa… Đồng thời, cần nghiên cứu, chế tạo các chất phụ gia phối trộn vào nguyên liệu dùng để sản xuất các loại túi nhựa nhằm giảm thời gian phân hủy của rác thải nhựa.
Trong khi đó, theo số liệu thống kê của Bộ Xây dựng, tỷ lệ thu gom chất thải sinh hoạt đô thị hiện đạt khoảng 85,5% (khoảng 32.000 tấn/ngày) do các công ty môi trường đô thị thực hiện, ngoài ra còn có hệ thống thu gom không chính thức (những người mua bán đồng nát, ve chai); còn tỷ lệ thu gom chất thải sinh hoạt ở nông thôn từ 45 – 55% (khoảng 14.200 tấn/ngày) lượng rác còn lại được vứt bỏ trên đường, dòng sông, cánh đồng hoặc các bãi tập kết rác tự phát. Cũng theo thống kê của Bộ Xây dựng, trong tổng khối lượng rác thải phát sinh, tỷ lệ rác thải nhựa chiếm từ 12 – 16%, đứng thứ 2 sau rác thải hữu cơ (từ 55 – 68%), song lượng rác thải nhựa được phân loại để xử lý, tái chế theo quy định hiện rất thấp, chủ yêu được xử lý bằng phương pháp chôn lấp, đốt hoặc thải thẳng ra môi trường.
Theo PGS.TS Đỗ Văn Mạnh – Phó Viện trưởng Viện Công nghệ môi trường (Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam), nghiên cứu của các nhà khoa học cho thấy, một chai nhựa sẽ cần từ 450 – 1.000 năm, một bao nhựa là 10 – 100 năm và chai chất tẩy rửa là 500 – 1.000 năm để phân hủy hết trong môi trường biển… Và trong khoảng thời gian này, nhựa nano và hạt vi nhựa đã không ngừng tấn công hệ sinh thái gây ảnh hưởng đến môi trường sống, gây ra những cái chết vô cùng đau đớn với các loài động vật biển như, chim, cá…
Rác thải nhựa không phải là đồ bỏ đi
Theo GS.TS Nguyễn Hữu Dũng – Viện trưởng Viện Môi trường đô thị và Công nghiệp Việt Nam, để giảm thiểu tình trạng ô nhiễm môi trường do rác thải nhựa gây ra, chúng ta cần giảm thiểu sử dụng sản phẩm nhựa một lần, phân loại rác thải tại nguồn, tăng khả năng tái sử dụng, tái chế rác thải nhựa; tập trung phát triển các công nghệ tái chế túi ni lông, rác thải nhựa… Đồng thời, cần nghiên cứu, chế tạo các chất phụ gia phối trộn vào nguyên liệu dùng để sản xuất các loại túi nhựa nhằm giảm thời gian phân hủy của rác thải nhựa.

 Rác thải sẽ biến thành tài nguyên nếu được phân loại đúng quy định. Ảnh minh họa.

Đồng quan điểm trên, Chủ tịch Hiệp hội Nhựa TP Hồ Chí Minh (VSPA) Trần Việt Anh cho biết, thành phần chất thải sinh hoạt của người dân sống ở các TP lớn, khu công nghiệp đang thay đổi theo hướng gia tăng thành phần giấy, kim loại… giảm chất thải thực phẩm. Do đó, nếu cứ áp dụng biện pháp xử lý đơn giản là chôn lấp thì một lượng lớn tài nguyên như giấy, kim loại, nhựa… sẽ tiếp tục bị lãng phí, bị chôn vùi dưới lòng đất. Từ thực tế trên, chúng ta cần phải triển khai ngay biện pháp phân loại rác tại nguồn. Đồng thời, nghiên cứu triển khai, áp dụng các biện pháp, công nghệ, xử lý rác thải nhựa tái chế, để biến rác thành một nguồn tài nguyên, nguyên liệu phục vụ các loại hình sản xuất khác.
Dẫn chứng về biện pháp này, các chuyên gia cho hay, hiện nay, ngành tái chế phế thải ở Mỹ mỗi năm đem về doanh thu trên 90 tỷ USD. Không chỉ giảm thiểu ô nhiễm môi trường, nó còn có vai trò quan trọng trong quá trình phục hồi kinh tế của nước Mỹ. Tương tự, tại Trung Quốc ngành tái chế phế thải giúp nước này kiếm hàng trăm tỷ USD mỗi năm và giải quyết việc làm cho hàng vạn người từ việc nhập và tái chế phế thải của các nước trên thế giới. “Mặc dù, chúng ta khó có thể so sánh với Mỹ, Trung Quốc hay các nước phát triển trên thế giới về công nghệ xử lý rác thải tái chế vào thời điểm này, song đây là hướng đi hợp lý trong việc giảm thiểu rác thải nhựa, rác thải tái chế” – một chuyên gia nêu vấn đề.
Cần có sự chung tay của toàn xã hội
Được biết, nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường do rác thải nhựa gây ra, tháng 9/2020, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Chỉ thị số 33/CT-TTg về tăng cường quản lý, tái sử dụng, tái chế, xử lý và giảm thiểu chất thải nhựa theo hướng coi chất thải và chất thải nhựa là tài nguyên. Thực hiện Chỉ thị này, các đơn vị có liên quan đang hoàn thiện chế tài quản lý chất thải rắn theo hướng coi chất thải và chất thải nhựa là tài nguyên. Đồng thời, thúc đẩy phát triển các mô hình kinh tế tuần hoàn, đặc biệt là thực hiện việc phân loại chất thải tại nguồn, thu gom, tái sử dụng, tái chế, xử lý…

 Để giảm thiểu ô nhiễm môi trường từ rác thải nhựa, biện pháp phân loại rác thải tại nguôn là hết sức cần thiết.
Trong ảnh, một chương trình đổi rác lấy quà tặng trên địa bàn TP Hà Nội.
Tuy nhiên, đến thời điểm này, việc thực hiện Chỉ thị trên, đặc biệt là nội dung phân loại rác tại nguồn cũng đang gặp rất nhiều khó khăn. Ông Phạm Cao Thắng – Phó Tổng Giám đốc Công ty Môi trường Đô thị Hà Nội – đơn vị tiên phong tổ chức phân loại rác tại nguồn trên địa bàn TP cho biết, mặc dù rất hấp dẫn, nhưng đây là ngành nghề kinh doanh mới nên cách thức tính thuế, viết hóa đơn cần chờ hướng dẫn của cục thế và cơ quan chuyên môn… khiến nhiều DN chưa mạnh dạn đi sâu vào lĩnh vực này.
Trong khi đó, nhiều chuyên gia trong lĩnh vực môi trường cho rằng, hiện nay, Chính phủ đã quy định khá đầy đủ về quản lý chất thải, đặc biệt là chất thải sinh hoạt, nhưng lại quy định giao cho địa phương tùy vào đặc thù của mình để hướng dẫn và tổ chức thực hiện việc phân loại, thu gom xử lý rác thải. Điều này dẫn đến tình trạng nơi thực hiện việc phân loại và thu gom, có nơi lại không. Thậm chí, không thực hiện thì cũng không sao… khiến công tác phân loại rác thải rơi vào cảnh “đánh trống bỏ dùi”, người dân không mặn mà với chương trình này.
Để khắc phục tình trạng trên, các chuyên gia cho rằng, giảm thiểu tình trạng ô nhiễm môi trường do rác thải nhựa gây ra, đồng thời biến rác thành tài nguyên theo đúng tinh thần Chỉ thị 33 của Thủ tướng Chính phủ thì mỗi người dân cần nâng cao nhận thức, ý thức về bảo vệ môi trường. Cùng với đó, chính quyền các địa phương cần khẩn trương vào cuộc, có biện pháp hỗ trợ các đơn vị tham gia công tác phân loại rác tại nguồn, tái chế, biến rác thải thành tài nguyên.
Nguồn: kinhtedothi.vn
2021-11-18 / by / in
Đừng bao giờ sử dụng chai hộp nhựa có ký hiệu 3,6,7 để đựng nước và thực phẩm

Hãy chọn các sản phẩm nhựa có nhãn số 2, số 4 và số 5 vì chúng được cho là an toàn hơn với sức khỏe.

 

Nếu bạn để ý, hầu hết những chiếc hộp nhựa và chai nhựa có nguồn gốc xuất xứ rõ ràng đều được nhà sản xuất dập nổi một ký hiệu hình tam giác có 3 mũi tên vòng cung nối đuôi nhau. Đó chính là nhãn hiệu tái chế của loại nhựa mà họ sử dụng.

Và bằng cách đọc những con số trên nhãn hiệu tái chế này, bạn có thể biết chiếc hộp hoặc cái chai đó làm từ chất liệu nhựa gì, có phù hợp với mục đích sử dụng hay không? Trong trường hợp bạn đang tìm một cái chai được nước, hoặc một cái hộp để đựng thực phẩm, các chuyên gia khuyến cáo bạn nên tránh xa các sản phẩm có nhãn số 3,6 và 7.

Đây là lý do tại sao:

Đừng bao giờ sử dụng chai hộp nhựa có ký hiệu 3,6,7 để đựng nước và thực phẩm, đây là lý do tại sao - Ảnh 1.

1. Chai hộp nhựa có nhãn số 3

Nhãn tái chế số 3 có nghĩa là đồ vật của bạn được làm từ nhựa PVC (Polyvinyl Chloride), hay còn ký hiệu là V. Loại nhựa này có đặc tính dẻo vượt trội, thường được sử dụng để làm lớp bọc dây dẫn điện, ống nhựa, xốp bọt khí để bảo vệ hàng hóa…

Tuy nhiên để có được tính dẻo này, nhà sản xuất sẽ phải pha vào nhựa PVC một hóa chất độc hại là phthalate. Hóa chất này có khả năng gây rối loạn nội tiết tố, làm thay đổi khả năng sản xuất và duy trì hooc-môn trong cơ thể bạn.

Nó có thể bị rò rỉ vào nước uống hoặc thực phẩm, tiếp xúc với thời gian dài có thể gây ra nhiều nguy cơ sức khỏe bao gồm bệnh hen suyễn, béo phì ở trẻ em, bệnh tim mạch, rối loạn sinh dục và sinh sản ở nam giới.

Phthalate đặc biệt nguy hiểm với phụ nữ mang thai, bởi nó có thể làm tăng nguy cơ xảy thai, thai nhi có chỉ số IQ thấp hoặc mắc bệnh ADHD.

Ngoài ra, các sản phẩm nhựa có nhãn số 3 còn chứa di-(2-ethylhexyl)adipate (DEHA). Đây là một hợp chất có thể gây ung thư nếu tiếp xúc lâu dài. DEHA cũng liên quan đến tình trạng loãng xương và các vấn đề về gan khác.

Mặc dù không được khuyến cáo để đựng thực phẩm, bạn vẫn có thể tìm thấy một số sản phẩm trên thị trường sử dụng nhựa PVC nhãn số 3 cho mục đích này, chẳng hạn như chai dầu ăn, cốc đựng sữa chua, bơ, chai nước trái cây…

Một số sản phẩm sử dụng nhựa PVC an toàn hơn bao gồm chai dầu động cơ, chai chất tẩy rửa, dầu gội đầu, bạn chỉ nên sử dụng những loại chai này 1 lần và không tái chế chúng cho các mục đích khác.

Đừng bao giờ sử dụng chai hộp nhựa có ký hiệu 3,6,7 để đựng nước và thực phẩm, đây là lý do tại sao - Ảnh 3.

2. Chai hộp nhựa có nhãn số 6

Nhãn tái chế số 6 được in hoặc dập nổi trên các sản phẩm làm từ nhựa PS (Polystyrene). Đây là một loại nhựa xốp rẻ tiền, thường được sử dụng ở các nước đang phát triển. Nhiều sản phẩm như hộp đựng thực phẩm, dao, dĩa, thìa nhựa dùng một lần là thứ mà bạn sẽ gặp được làm từ nhựa PS nhãn số 6.

Vấn đề của loại nhựa này là nó có chứa styrene, một hóa chất tạo ra độ xốp. Styrene đặc biệt dễ bị rò rỉ nếu bạn dùng nó để đựng thực phẩm nóng chẳng hạn như cà phê hoặc xôi. Trong khi, phơi nhiễm với styrene có thể gây ra các vấn đề về hô hấp, suy giảm trí nhớ, trầm cảm, ảnh hưởng đến chức năng thận, thính giác và tăng nguy cơ mắc một số bệnh ung thư như ung thư hạch, ung thư máu.

Nhựa PS an toàn hơn khi nó được sử dụng để làm hộp đựng trứng, bao bì xốp và vật liệu cách nhiệt. Nhưng nó chắc chắn không bao giờ phù hợp để đựng nước hay thực phẩm.

Đừng bao giờ sử dụng chai hộp nhựa có ký hiệu 3,6,7 để đựng nước và thực phẩm, đây là lý do tại sao - Ảnh 4.

3. Chai hộp nhựa có nhãn số 7 hoặc không có nhãn

Các sản phẩm nhựa được dán nhãn số 7 (nhãn cuối cùng) hoặc không có nhãn thực chất là nhựa không được phân loại. Tuy nhiên, nó thường chứa thành phần chính là nhựa PC (polycarbonate). Nguyên liệu của loại nhựa này có chứa bisphenol-A (BPA) là một hóa chất rất độc hại với sức khỏe.

BPA hoạt động như một loại estrogen tổng hợp, giống với phthalate, nó có thể gây ra rối loạn nội tiết tố, làm tăng nguy cơ vô sinh, ảnh hưởng tới sự phát triển của não bộ thai nhi, làm tăng nguy cơ béo phì ở trẻ em.

Ngoài ra, BPA còn làm tăng nguy cơ hai loại ung thư là ung thư vú và ung thư tuyến tiền liệt.

Đừng bao giờ sử dụng chai hộp nhựa có ký hiệu 3,6,7 để đựng nước và thực phẩm, đây là lý do tại sao - Ảnh 5.

4. Vậy nên chọn các loại nhựa nào?

Ngoài 3 loại nhựa trên, chúng ta có các sản phẩm nhựa nhãn số 2, số 4 và số 5 được cho là an toàn với sức khỏe. Nhựa có nhãn số 1 là nhựa PETE hoặc PET (Polyethylene Terephthalate) cũng thường được dùng để làm chai đựng nước khoáng, nước ngọt, bia.

Mặc dù loại nhựa này ít có nguy cơ rò rỉ hóa chất vào thực phẩm hơn, tuy nhiên, bạn không nên tận dụng các chai nhựa PET này để đựng nước đi đựng nước lại nhiều lần. Đó là bởi nhựa số 1 rất dễ tích tụ vi khuẩn, có thể khiến bạn bị ngộ độc thực phẩm.

Đừng bao giờ sử dụng chai hộp nhựa có ký hiệu 3,6,7 để đựng nước và thực phẩm, đây là lý do tại sao - Ảnh 6.

Nhựa có nhãn số 2 là nhựa HDPE (High Density Polyethylene). Đây là loại nhựa an toàn nhất nên thường được dùng để làm bình đựng sữa cho trẻ sơ sinh. Đó là bởi nhựa HDPE có chất lượng cao, không phát hành hóa chất vào thực phẩm. Các chuyên gia y tế đều khuyên dùng loại nhựa này.

Đừng bao giờ sử dụng chai hộp nhựa có ký hiệu 3,6,7 để đựng nước và thực phẩm, đây là lý do tại sao - Ảnh 7.

Nhựa có nhãn số 4 là LDPE (Low Density Polyethylene) cũng được coi là an toàn. Tuy nhiên, nó thường ít được sử dụng để làm chai hoặc hộp đựng thực phẩm. Thay vào đó, nhựa LDPE hay được dùng làm túi nilon, giấy gói bánh. Bạn có thể yên tâm nếu trên nhãn túi nilon đựng thực phẩm của mình có nhãn số 4 này.

Đừng bao giờ sử dụng chai hộp nhựa có ký hiệu 3,6,7 để đựng nước và thực phẩm, đây là lý do tại sao - Ảnh 8.

Nhựa có nhãn số 5 là PP (Polypropylene) thường được dùng làm hộp các sản phẩm thực phẩm có màu sắc bắt mắt như kem, siro, sữa chua. Đó là bởi nhựa PP có màu trắng, dễ nhuộm và trang trí. Ưu điểm của PP là nó có khả năng chịu nhiệt tốt, nên sẽ không tan chảy hoặc phát hành hóa chất nếu dùng để đựng thực phẩm ở nhiệt độ cao.

Đừng bao giờ sử dụng chai hộp nhựa có ký hiệu 3,6,7 để đựng nước và thực phẩm, đây là lý do tại sao - Ảnh 9.

Tham khảo Theguardian, Ongreenplanet

 

2021-11-18 / by / in
Ngành nhựa vẫn duy trì sản xuất kinh doanh trong bối cảnh dịch

Trong bối cảnh nền kinh tế thế giới và trong nước gặp nhiều khó khăn do dịch bệnh COVID – 19 tác động đã làm đứt gãy các chuỗi cung ứng, sản xuất kinh doanh nhiều lĩnh vực, ngành nghề gặp khó khăn, trong đó có ngành công nghiệp nhựa, nhưng năm 2020 ngành nhựa vẫn duy trì khá tốt được hoạt động sản xuất, kinh doanh và tăng trưởng.

Trong giai đoạn 2016 – 2020, ngành Nhựa Việt Nam đã nắm bắt được xu hướng dịch chuyển sản xuất của thế giới. Bên cạnh việc giữ vững, đạt mức tăng trưởng tốt ở những  thị trường xuất khẩu lớn như Mỹ, Nhật Bản, EU, Hàn Quốc và Trung Quốc thì mặt hàng sản phẩm nhựa của Việt Nam đã được đẩy mạnh xuất khẩu sang các thị trường khác.

Túi nhựa là sản phẩm nhựa chiếm tỷ trọng xuất khẩu cao nhất trong giai đoạn 2016 – 2020. Tuy nhiên tốc độ tăng trưởng bình quân của mặt hàng túi nhựa không cao vì trong những năm gần đây rất nhiều thị trường lớn của sản phẩm túi nhựa của Việt Nam như Nhật Bản và một số thị trường EU như Hà Lan, Đức đều hạn chế hoặc cấm sử dụng sản phẩm túi nhựa dùng một lần, khó phân hủy ảnh hưởng đến môi trường.

Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm túi nhựa trong năm 2020 đạt 910 triệu USD, tăng 46,3% so với năm 2016. Tỷ trọng xuất khẩu sản phẩm túi nhựa chiếm 25,6% trong tổng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm nhựa trong năm 2020, giảm 3,2 điểm phần trăm so với năm 2016.

Các mặt hàng sản phẩm nhựa khác của Việt Nam xuất khẩu trong giai đoạn 2016 – 2020 cũng nhiều biến động theo nhu cầu của các thị trường xuất khẩu nhựa như: tăng cường xuất khẩu các mặt hàng dùng trong cuộc sống hằng ngày hay sử dụng cho xây dựng như tấm, phiến, màng nhựa, sản phẩm nhựa gia dụng, đồ dùng trong xây lắp…

Bên cạnh đó, cơ cấu chủng loại mặt hàng sản phẩm nhựa xuất khẩu của Việt Nam đã dịch chuyển khá rõ dưới tác động của dịch COVID – 19. Thói quen mua sắm của người dân như ở một số thị trường lớn của mặt hàng nhựa như Mỹ, Nhật Bản, EU, Hàn Quốc… đã chuyển từ hàng hoá cơ bản sang những hàng hóa phục vụ cho việc làm đẹp tại nhà hoặc xây dựng, sửa sang trang trí nhà cửa trong thời gian dịch COVID – 19 do người dân ở nhà nhiều hơn. Thị trường nhà mới đang được thúc đẩy nhờ số lượng căn tồn ở gần mức thấp kỷ lục, đặc biệt là những nhà cấp thấp. Dịch COVID-19 đã thúc đẩy nhu cầu về chỗ ở rộng rãi và đắt tiền hơn khi hàng triệu người phải làm việc và học tập tại nhà.

Chính vì vậy, sản phẩm nhựa Việt Nam tập trung xuất khẩu các mặt hàng mà trong thời  kỳ dịch bệnh mọi người ở nhà nhiều hơn nên dành nhiều thời gian làm đẹp hay sửa sang, trang trí nhà cửa như tấm, phiến, màng nhựa; sản phẩm nhựa gia dụng; vải bạt; đồ dùng trong xây dựng; linh kiện lắp đặt đồ đạc trong nhà, xe cộ; vỏ mỹ phẩm…và giảm tỷ trọng xuất khẩu các mặt hàng như túi nhựa.

Đáng chú ý, tấm, phiến, màng nhựa là mặt hàng lớn có tỷ trọng xuất khẩu trong năm 2020 đạt 21,5%, tăng 6,3 điểm phần trăm so với năm 2016. Trong 7 tháng đầu năm 2021, sản phẩm tấm, phiến, màng nhựa thay thế túi nhựa trở thành sản phẩm xuất khẩu nhiều nhất của Việt Nam. Sản phẩm nhựa này xuất khẩu tăng trưởng mạnh là do nhu cầu của thị trường Mỹ tăng mạnh nhất là đối với các mặt hàng tấm trải sàn bằng plastic dạng rời; mút xốp; cuộn nhựa…Ngoài ra, sản phẩm nhựa này được xuất khẩu nhiều nhất đến các thị trường Mỹ, Hàn Quốc, Trung Quốc, Nhật Bản và một số thị trường ASEAN với kim ngạch xuất khẩu tăng trưởng rất mạnh.

Ngoài ra, các mặt hàng đồ dùng trong xây lắp, vỏ mỹ phẩm của Việt Nam tăng mạnh xuất khẩu trong 7 tháng đầu năm 2021 là do xuất khẩu tăng mạnh xuất khẩu sang thị trường Mỹ.

Theo dõi tình hình xuất khẩu sản phẩm nhựa Việt Nam trong 7 tháng đầu năm 2021 nhận thấy, cơ cấu sản phẩm nhựa xuất khẩu của Việt Nam xuất trong 7 tháng đầu năm 2021 và 7 tháng đầu năm 2020 có sự thay đổi đáng kể. Trong nhóm cơ cấu về 5 mặt hàng sản phẩm nhựa lớn nhất, sản phẩm đồ dùng trong xây lắp thay thế cho sản phẩm nhựa công nghiệp trở thành một trong 5 sản phẩm nhựa xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam trong 7 tháng đầu năm 2021.

Tấm, phiến, màng nhựa thay thế túi nhựa trở thành sản phẩm xuất khẩu nhiều nhất của Việt Nam trong 7 tháng đầu năm 2021. Trong khi tỷ trọng xuất khẩu sản phẩm túi nhựa giảm từ 27,7% trong 7 tháng đầu năm 2020 xuống 19,6% trong 7 tháng đầu năm 2021 thì tỷ trọng xuất khẩu sản phẩm tấm, phiến màng nhựa tăng từ 19,4% trong 7 tháng đầu năm 2020 lên 20,3% trong 7 tháng đầu năm 2021.

Trong giai đoạn năm 2016-2019, Nhật Bản giữ vững là thị trường lớn nhất của sản phẩm nhựa xuất khẩu của Việt Nam. Tuy nhiên, trong năm 2020, do tác động dịch COVID – 19, một số mặt hàng xuất khẩu sang thị trường Mỹ tăng rất mạnh như tấm, phiến, màng nhựa và đồ dùng trong xây lắp do nhu cầu cao nên Mỹ thay thế Nhật Bản trở thành thị trường lớn nhất của sản phẩm nhựa xuất khẩu Việt Nam.

Trong 7 tháng đầu năm 2021, các sản phẩm nhựa của Việt Nam xuất khẩu tới hơn 150 thị trường. Mỹ tiếp tục là thị trường lớn nhất của sản phẩm nhựa xuất khẩu của Việt Nam trong 7 tháng đầu năm 2021, chiếm tới 36,8% tổng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm nhựa, đạt 1,01 tỷ USD, tăng 93,4% so với cùng kỳ năm 2020.

Các mặt hàng đồ dùng trong xây lắp của Việt Nam tăng mạnh xuất khẩu sang thị trường Mỹ là một trong nguyên nhân dẫn đến kim ngạch xuất khẩu sản phẩm nhựa sang Mỹ tăng mạnh trong 7 tháng đầu năm 2021. Sản phẩm nhựa này đáp ứng nhu cầu của người Mỹ trong xây dựng, sửa sang trang trí nhà cửa như tấm sàn nhựa, ván sàn nhựa, rèm treo cửa, tấm trải sàn…Và một mặt hàng khác cũng đẩy mạnh sang thị trường Mỹ là các sản phẩm phục vụ cho nhu cầu làm đẹp như là bộ móng tay nhựa, dũa móng…

Theo ITC, trong 6 tháng đầu năm 2021, mặt hàng nhựa đồ vật dùng trong xây lắp (HS 3925) xuất khẩu vào thị trường Mỹ tăng 33,1% so với cùng kỳ năm 2020, đạt 1,27 tỷ USD. Chứng  tỏ nhu cầu sản phẩm nhựa đồ vật dùng trong xây lắp của thị trường Mỹ trong năm 2021 là rất lớn.

Việt Nam là thị trường lớn thứ 5 cung cấp mặt hàng sản phẩm nhựa này cho thị trường Mỹ trong 6 tháng đầu năm 2021 với kim ngạch tăng khá mạnh, đạt 108,2 triệu USD, tăng 29,5% so với cùng kỳ năm 2020, chiếm 8,5% tổng trị giá nhập khẩu của thị trường Mỹ. Sản phẩm nhựa đồ dùng trong xây lắp (HS 3925) của Việt Nam có nhiều triển vọng xuất khẩu sang thị trường Mỹ trong năm 2021 do nhu cầu mặt hàng này tại thị trường Mỹ đang tăng mạnh.

Khả năng cạnh tranh của sản phẩm nhựa Việt Nam được nâng cao, thị phần mặt hàng sản phẩm nhựa xuất khẩu của Việt Nam trên thị trường thế giới tăng. So với nhiều nước trong khu vực, Việt Nam có một số lợi thế để tranh thủ sự dịch chuyển đầu tư và chuỗi cung ứng, như chính trị – xã hội ổn định, nguồn lao động trẻ dồi dào, tiềm năng thị trường gần 100 triệu dân với tầng lớp khá giả ngày càng tăng… Mạng lưới các hiệp định thương mại tự do (FTA) mà Việt Nam tham gia được nhiều doanh nghiệp đánh giá là một lợi thế lớn của Việt Nam để thu hút các nhà đầu tư di chuyển sản xuất sang Việt Nam nhằm tiếp cận các thị trường có FTA với Việt Nam. Đơn cử như, FTA Việt Nam – EU (EVFTA) bắt đầu có hiệu lực từ tháng 8-2020, tạo cho Việt Nam lợi thế đi trước hầu hết các nước trong khu vực từ 7 – 10 năm về đặc quyền tiếp cận thị trường EU rộng lớn với cam kết giảm thuế quan đối với gần 100% dòng thuế.

Tăng trưởng kim ngạch xuất khẩu nhựa trong bối cảnh khó khăn đã cho thấy, các sản phẩm nhựa của Việt Nam đang được nhiều nước trên thế giới sử dụng, khẳng định vị trí quan trọng của ngành sản xuất nhựa trong tổng thể lĩnh vực sản xuất công nghiệp nói chung. Tại thị trường nước ngoài, sản phẩm nhựa của Việt Nam đã được đánh giá là có khả năng cạnh tranh cao do công nghệ sản xuất một bộ phận lớn đã tiếp cận với trình độ hiện đại của thế giới. Sản phẩm nhựa của Việt Nam đã được tiêu thụ ở cả những thị trường có nền công nghiệp phát triển và khó tính trên thế giới như Mỹ, Nhật Bản, EU,…

Doanh nghiệp nhựa và cao su còn dư địa phát triển

Dịch COVID-19 đã dẫn đến những biến đổi lớn trên thị trường chất dẻo toàn cầu, khiến cho các nhà sản xuất polyme phải vất vả chuyển hướng và điều chỉnh trong thời gian ngắn. Các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm nhựa xuất khẩu Việt Nam cũng điều chỉnh với xu hướng mới của thế giới.

Dịch bệnh COVID-19 đã làm bộc lộ những khó khăn khi cung ứng các sản phẩm nhựa bị gián đoạn, không kịp thời do mạng lưới chuỗi cung ứng trải rộng toàn cầu cũng như nhiều chuỗi cung ứng quá phụ thuộc vào các trung tâm sản xuất và các thị trường lớn, nhất là Trung Quốc. Bên cạnh việc tối ưu hóa sản xuất và chi phí, việc dịch chuyển đầu tư và chuỗi cung ứng còn nhằm để phân tán và giảm thiểu rủi ro. Hiện nay, cùng với sự phát triển mạnh mẽ của khoa học – công nghệ và cạnh tranh chiến lược Mỹ – Trung Quốc ngày càng quyết liệt, xu hướng dịch chuyển đầu tư và chuỗi cung ứng toàn cầu đang thể hiện mạnh mẽ, đặt ra cho Việt Nam nhiều cơ hội và thách thức đan xen.

Có thể thấy, dịch chuyển đầu tư và chuỗi cung ứng ra khỏi Trung Quốc thực chất là một xu hướng khách quan đã diễn ra trong nhiều năm nay với động lực chính được thúc đẩy bởi mục tiêu lợi nhuận, tối ưu hóa sản xuất, chi phí và sự phát triển của khoa học – công nghệ. Dưới tác động của dịch bệnh COVID-19, xu hướng này được đẩy mạnh hơn, bởi ngoài các động lực nói trên nay có thêm động lực phân tán và giảm thiểu rủi ro./.

2021-11-18 / by / in
Ngành Nhựa đang là “đích ngắm” của nhiều nhà đầu tư nước ngoài

Theo Hiệp hội Nhựa Việt Nam (VPA), trong giai đoạn 2015-2020, ngành nhựa là một trong những ngành công nghiệp có mức tăng trưởng cao nhất tại Việt Nam, chỉ sau viễn thông và dệt may.

Theo đánh giá của VPA, kim ngạch xuất khẩu ngành nhựa từ năm 2015 đến năm 2020 liên tục tăng trưởng mạnh từ 16%-18%/năm. Trong đó có những mặt hàng nhựa có tốc độ tăng trưởng đạt gần 100%. Với mức tăng trưởng như vậy, ngành nhựa được đánh giá lá một trong những ngành năng động, mũi nhọn của Việt Nam. Hiện nay, sản phẩm nhựa của Việt Nam đã xuất khẩu đến 159 thị trường trên thế giới.

Tuy nhiên, dù có sự phát triển mạnh trong những năm gần đây nhưng ngành nhựa chủ yếu vẫn chỉ được biết đến như một ngành kinh tế kỹ thuật về gia công chất dẻo, vì phải nhập khẩu đến 80% nguyên liệu. Hiện mỗi năm ngành nhựa cần 3,5 triệu tấn các loại nguyên liệu đầu vào chưa kể hàng trăm hóa chất phụ trợ khác trong khi khả năng trong nước chỉ đáp ứng gần 900.000 tấn nguyên liệu và hóa chất phụ gia cho nhu cầu.

Dự báo đến năm 2021, doanh nghiệp ngành nhựa Việt Nam sẽ cần khoảng 5 triệu tấn nguyên liệu để phục vụ cho hoạt động sản xuất. Tuy nhiên, năng lực cung ứng đầu vào thấp, công nghiệp hỗ trợ ngành nhựa chưa phát triển. Hàng năm các doanh nghiệp phải nhập khẩu 70%-80% nguyên liệu đầu vào làm giảm sức cạnh tranh, doanh nghiệp xuất khẩu khó tận dụng được ưu đãi thuế do quy định liên quan đến xuất xứ hàng hóa.

Giáo sư Keith Stevenson: loại bỏ nhựa có nghĩa là trở lại thời đồ đá - Tin  tức - Công ty Cổ Phần Nhựa Thiên Quốc

Kỳ vọng lớn nhất cho ngành sản xuất nhựa Việt Nam vẫn là 3 hiệp định thương mại tự do: Hiệp định Thương mại tự do Việt Nam – Liên minh châu Âu (EVFTA), Hiệp định Đối tác Chiến lược xuyên Thái Bình Dương (TPP) và Hiệp định Đối tác Kinh tế Toàn diện Khu vực (RCEP). Theo đó, sản phẩm Việt Nam sẽ tăng khả năng cạnh tranh khi xuất khẩu sang những thị trường trên nhờ được giảm thuế còn từ 5% đến 0%.

Bên cạnh đó, nhờ mức tăng trưởng cao, với cơ hội mang lại từ hội nhập, đặc biệt là được hưởng nhiều lợi thế từ TPP đang khiến các doanh nghiệp ngành nhựa Việt Nam trở nên hấp dẫn trong mắt các nhà đầu tư nước ngoài.

Tại buổi hợp giới thiệu về Hội chợ K 2021, do Phòng Công Nghiệp và Thương Mại Đức (GIC/AHK Vietnam) phối hợp với Messe Duesseldorf; Hiệp hội nhựa Việt Nam tổ chức ngày 02/03/2021, ông Hồ Đức Lam, Chủ tịch VPA cho biết, thời gian qua, có nhiều doanh nghiệp nước ngoài đã mua lại các công ty nhựa của Việt Nam, nhiều trường hợp không chỉ tham gia cổ phần theo dạng đầu tư, mà còn mua 100% để tham gia chi phối.

Có thể kể một số cái tên đã bán 100% cho đối tác Thái Lan, Nhật, Hàn Quốc, như: Công ty Nhựa Batico, Công ty cổ phần Nhựa bao bì Sài Gòn, Công ty cổ phần Nhựa bao bì Tân Tiến…

Theo phân tích của ông Lam, ngành nhựa trong nước có mức độ tăng trưởng từ 16-18% mỗi năm, đây là mức tăng trưởng cao chỉ sau ngành viễn thông và may mặc. Nếu năm 1990, sản phẩm nhựa trên đầu người chỉ đạt 3,8 kg/năm, thì 2015 đã tăng lên 41 kg/năm. Con số này vẫn còn thấp hơn gần một nửa so với các nước trong khu vực, như Thái Lan chẳng hạn.

Bên cạnh đó, ngành nhựa Việt Nam chắc chắn sẽ được hưởng lợi từ hiệp định từ TPP vì chỉ yêu cầu chứng minh nguồn gốc sản xuất ở Việt Nam chứ không yêu cầu chứng minh nguyên liệu đó được sản xuất tại Việt Nam.

Ông Lam cũng khuyến nghị, các doanh nghiệp Việt Nam nên đẩy mạnh các sản phẩm có giá trị gia tăng cao và có sự phát triển trong tương lai, điển hình là ngành nhựa kỹ thuật cao. Điều này cần sự đầu tư nghiêm túc về công nghệ thiết bị máy móc.

Nguồn: vplas.com.vn

2021-11-18 / by / in
Coca-Cola Việt Nam mang thông điệp “Tái chế tôi” lên bao bì sản phẩm chai nhựa

Với chiến dịch thay đổi bao bì lần này, Coca-Cola trực tiếp đưa ra thông điệp khuyến khích người tiêu dùng chung tay vào các hoạt động hỗ trợ tái chế bao bì sau khi sử dụng sản phẩm.

Thông điệp “Tái chế tôi” sẽ được áp dụng trên tất cả các thương hiệu và bao bì sản phẩm của Công ty tại Việt Nam. Theo đó, đến cuối năm 2021, Công ty sẽ hoàn tất quá trình chuyển đổi này trên phần lớn bao bì sản phẩm trong nước. Ở phạm vi rộng hơn, Coca-Cola Việt Nam cũng sẽ đưa thông điệp khuyến khích tái chế vào các chiến dịch tiếp thị và truyền thông của Công ty để tạo cảm hứng cho người tiêu dùng tham gia vào các hoạt động tái chế.

Bà Bùi Đặng Duyên Mai – Giám đốc Đối ngoại, Truyền thông và Phát triển bền vững của Coca-Cola Đông Dương, cho biết: “Cũng như tất cả mọi người, chúng tôi không muốn chai nhựa trở thành rác thải. Vì vậy, Coca-Cola, đã và đang là một trong những thành viên cam kết và tích cực hành động trong các chương trình, giải pháp xử lý rác thải nhựa. Công ty đang tiếp tục các hoạt động hỗ trợ thu gom bao bì, xây dựng và củng cố cơ sở hạ tầng phục vụ tái chế, đẩy mạnh quan hệ hợp tác thu gom và tái chế tại cộng đồng sở tại, góp phần quan trọng vào giảm thiểu tình trạng rác nhựa trên biển ở Việt Nam.

Chúng tôi cũng nhận thấy một trong những hoạt động có hiệu quả khác là việc hỗ trợ truyền thông từ các thương hiệu của sản phẩm, bằng việc truyền tải thông điệp “Tái chế tôi” trên từng bao bì. Chúng tôi muốn tận dụng sức mạnh của thương hiệu để khuyến khích người tiêu dùng cùng nhau chung tay thu gom và tái chế những bao bì sản phẩm của Coca-Cola sau khi sử dụng, để các sản phẩm bao bì có vòng đời mới, góp phần vào mục tiêu của nền kinh tế tuần hoàn mà Việt Nam đang hướng đến”.

Trong khuôn khổ Chiến lược “Vì một thế giới không rác thải”, Coca-Cola đang hợp tác cùng nhiều tổ chức thu gom và tái chế rác thải nhựa tại địa phương. Trong đó, Dự án “Mạng lưới hành động giảm thiểu – tái sử dụng – tái chế rác thải nhựa” (Plastic Action Network – PAN) do Coca-Cola cùng với Trung tâm Hỗ trợ Phát triển Xanh (GreenHub) triển khai từ năm 2018 là một trong những dự án hiệu quả nhất. Dự án giúp định nghĩa lại giá trị của rác thải nhựa cũng như thúc đẩy hoạt động của các nhóm cộng đồng ở từng địa phương trong hệ thống quản lý rác thải tại Việt Nam.

Thông qua Dự án này, Coca-Cola và GreenHub cùng nhau hiện thực hóa một mục tiêu chung rõ ràng: Giới thiệu và thiết lập một hệ thống thu gom và phân loại rác đã được thử nghiệm, đồng thời cải thiện các hoạt động tái chế tại địa phương, đảm bảo 3 tiêu chí an toàn, thực tiễn và có thể nhân rộng mô hình này cho các đơn vị, cá nhân thu gom rác thải trong nước. Dự án đã được triển khai tại vịnh Hạ Long, thành phố Hạ Long, Quảng Ninh và mới đây là huyện Cần Giờ, TP.HCM.

Bà Nguyễn Thị Thu Trang – Đồng sáng lập, Phó Giám đốc GreenHub Việt Nam – chia sẻ: Các doanh nghiệp như Coca-Cola đóng vai trò rất quan trọng trong việc nâng cao nhận thức của người tiêu dùng về tái chế và truyền cảm hứng để mọi người cùng hành động. Sự hỗ trợ của Coca-Cola đối với các hoạt động thu gom và tái chế bao bì theo hướng bền vững là một đóng góp quan trọng vào mục tiêu chung nhằm quản lý rác thải tốt hơn tại từng địa phương. Chúng tôi hoan nghênh Coca-Cola đã khuyến khích và tạo cảm hứng để người tiêu dùng chung tay thu gom và tái chế bao bì, để chúng không trở thành rác thải. Thu gom và tái chế rác thải nhựa ngay từ đất liền là hoạt động cơ bản nhưng có ý nghĩa rất lớn trong việc ngăn chặn rác thải nhựa đổ ra các con sông và đại dương”.

Nâng cao nhận thức của người tiêu dùng về việc thu gom và tái chế bao bì là một phần quan trọng trong chiến lược “Vì một thế giới không rác thải” của Coca-Cola. Theo đó, Công ty đặt mục tiêu đến năm 2030, thu gom và tái chế tương đương 100% lượng bao bì mà Công ty bán ra trên toàn cầu; đến năm 2025, đạt tỉ lệ 100% bao bì có thể tái chế; và đến năm 2030, sử dụng ít nhất 50% vật liệu tái chế trong bao bì sản phẩm của Công ty.

Sáng kiến đưa thông điệp “Tái chế tôi” lên bao bì là hoạt động mới nhất của Coca-Cola trong hướng tiếp cận và giải quyết vấn đề rác thải bao bì tại Việt Nam một cách toàn diện.

Được biết, trước đó, năm 2019, Coca-Cola Việt Nam đã chính thức bỏ màng co nhựa trên sản phẩm nước đóng chai Dasani (dung tích 350ml, 500ml và 1500ml). Năm 2020, Coca-Cola là Công ty nước giải khát đầu tiên giới thiệu bao bì được làm từ 100% nhựa tái chế (rPET), áp dụng cho sản phẩm nước đóng chai Dasani (dung tích 500ml) tại thị trường Việt Nam. Và năm nay (2021), Công ty đã thay thế chai nhựa xanh đặc trưng bằng chai nhựa PET trong suốt dễ tái chế cho các sản phẩm Sprite, qua đó, thúc đẩy hoạt động tái chế chai Sprite tại địa phương. Coca-Cola cũng hợp tác cùng các công ty khác thành lập Liên minh Tái chế Bao bì Việt Nam (PRO Vietnam) với mục tiêu thúc đẩy mô hình kinh tế tuần hoàn thông qua phát triển quy trình thu gom và tái chế bao bì theo hướng dễ tiếp cận và bền vững hơn tại Việt Nam.

Nguồn: baotainguyenmoitruong.vn

2021-11-18 / by / in
Quy trình sản xuất đồ nhựa

Ở Việt Nam đồ dùng bằng nhựa được rất ưa chuộng và phổ biến, sản phẩm bằng nhựa có giá thành rẻ, chất lượng tương đối tốt. Bởi thế, hầu hết các công ty sản xuất bao bì đều chiếm lĩnh được thị trường và có thể dễ dàng nhận thấy, thị phần bao bì nhựa ngày càng mở rộng hơn.

Ở khuôn khổ bài viết này, hãy cùng tìm hiểu quy trình để sản xuất được các sản phẩm nhựa  – nền tảng của các sản phẩm đóng gói tiêu dùng hiện tại nhé!

Hạt nhựa nguyên sinh

Quy trình sản xuất hạt nhựa nguyên sinh là một quy trình phức tạp, được tạo ra từ dầu mỏ với những quy tắc phân tách hóa học đặc biệt, sử dụng máy móc chuyên dụng. Hạt nhựa nguyên sinh bao gồm các loại như PA, PP, ABS, PET, PS, POM,…có chất lượng cực tốt. Từ đây, nhà sản xuất bắt đầu sản xuất ra các sản phẩm nhựa đáp ứng tiêu chuẩn trong nước và quốc tế.

 

công ty sản xuất bao bì

Sản phẩm hộp nhựa dùng để chứa đựng thực phẩm

Pha màu

Đáp ứng yêu cầu của các công ty sản xuất bao bì hoặc từ phía khách hàng, mà công đoạn pha màu được tạo dựng để biến các hạt nhựa tinh khiết lúc ban đầu thành muôn vàn màu sắc sống động khác nhau. Các sản phẩm nhựa sẽ có đa dạng màu và tạo thành sự phong phú, bắt mắt khi đưa ra thị trường.

Kéo sợi nhựa

Từ quy trình sản xuất hạt nhựa nguyên sinh, trải qua công đoạn pha màu, tiếp theo, nhà sản xuất sẽ kéo sợi nhựa theo kích cỡ và đường kính khác nhau – tùy mục đích sử dụng. Tạo ra những sợi nhựa dẻo dai, dễ dàng phù hợp với việc sản xuất bao bì, hộp đựng, đồ gia dụng,…

Trộn các chất phụ gia

Với những loại sản phẩm nhựa khác nhau thì sẽ được trộn phụ gia khác nhau. Các chất phụ gia thường là phụ gia liên kết, phụ gia dai, phụ gia cứng, phụ gia đặc biệt tùy tiêu chí,…Các sản phẩm nhựa sẽ đạt độ bền, chịu được va đập, cọ sát hoặc đạt độ cứng nhờ các chất phụ gia này.

 

công ty sản xuất bao bì

Hộp nhựa đựng giầy

Ép khuôn nhựa

Các công ty sản xuất bao bì hoặc sản xuất đồ nhựa gia dụng có những yêu cầu riêng về hình dáng, kích thước, kiểu mẫu của sản phẩm. Cho nên, nhựa đã được trộn phụ gia sẽ được cho vào khuôn ép với độ chính xác cao, công nghệ hiện đại để làm nên thành phẩm vừa ý khách hàng.

Cắt gọn bavia

Công đoạn này phải do các công nhân có tay nghề cao xử lý. Bavia có thể gây xước tay hoặc làm hỏng các chi tiết khi chứa đựng sản phẩm. Bởi vậy, cắt gọn bavia để sản phẩm trở nên đảm bảo mỹ quan và an toàn khi sử dụng.

Thành phẩm

Sau tất cả các công đoạn kể trên, chúng ta sẽ có được sản phẩm nhựa như mong muốn được cung cấp tới các công ty sản xuất, cơ sở kinh doanh chế biến hoặc thị trường bán lẻ.

Nguồn: dachoaan.com

2021-11-12 / by / in
NHỮNG SẢN PHẨM CÓ THỂ TẠO RA TỪ CÔNG NGHỆ ÉP PHUN NHỰA

Ép phun nhựa hiện đã trở thành phương pháp chủ yếu để tạo ra đa dạng các sản phẩm ngành nhựa 

Công nghệ ép phun nhựa ra đời không chỉ tạo ra khối lượng sản phẩm nhựa vô cùng lớn, mà còn đa dạng chủng loại, màu sắc để đáp ứng nhu cầu sử dụng ngày càng cao của con người.

Công nghệ ép phun nhựa là gì?

Công nghệ ép phun nhựa là quá trình để sản xuất ra các sản phẩm nhựa bằng cách làm nóng chảy nhựa và bơm vào khuôn ép để tạo hình sản phẩm. Sau đó, các khuôn được làm nguội để giải phóng các bộ phận nhựa đã hoàn thành.

Ép phun nhựa rất linh hoạt và có thể tạo ra các sản phẩm nhựa từ đơn giản đến phức tạp, với số lượng lớn phục vụ cho nhiều ứng dụng khác nhau.

Một số sản phẩm nhựa được sản xuất bằng công nghệ ép phun nhựa

Đa dạng các sản phẩm nhựa được tạo ra bởi công nghệ ép phun

Ép phun nhựa là công nghệ sản xuất nhựa hiện đại, được ứng dụng và tạo ra hàng ngàn, hàng triệu các sản phẩm nhựa dùng trong đời sống hay sản xuất chi tiết lắp đặt công nghiệp. Dưới đây là một số sản phẩm nhựa thường gặp nhất:

  • Chai nhựa: là sản phẩm phổ biến được sản xuất để sử dụng hàng tỷ đơn vị mỗi năm, với nhiều hình dạng, kích cỡ và màu sắc. Thông thường, các chai nhựa được sử dụng để đựng nước và đồ uống được sản xuất bằng công nghệ ép phun được làm từ nhựa PET bởi vừa nhẹ lại bền khi sử dụng
  • Đồ gia dụng: Đồ gia dụng nhựa xuất hiện ngay ở bên cạnh chúng ta, từ những hộp đựng, đến tủ bàn, đồ dùng nhà bếp,…
  • Vỏ đồ điện tử – các thiết bị như tivi, máy tính, điều khiển từ xa, các linh kiện điện tử tiêu dùng khác,… cũng được chế tạo phổ biến bằng công nghệ ép phun nhựa
  • Đồ chơi nhựa: Nhựa với đặc tính nhẹ và bền, với nhiều kích cỡ và màu sắc khác nhau vì thế là lựa chọn tuyệt vời để sản xuất các sản phẩm đồ chơi nhựa.
  • Thiết kế cho thị trường nông nghiệp đang chuyển dịch từ vật liệu kim loại sang nhựa như một giải pháp để giảm thiểu chi phí. Sản phẩm nhựa có khả năng chống lại các tác động trong quá trình sử dụng: chịu được độ ẩm cao, bền ở nhiệt độ cao và thấp, không bị ăn mòn,…
  • Linh kiện nhựa thiết bị y tế: Trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, có hàng nghìn sản phẩm được tạo ra từ quá trình ép phun. Các sản phẩm nhựa đa dụng được sử dụng trong y tế phần lớn là đồ dùng một lần, dùng để vô trùng, ngăn ngừa sự lây lan của vi trùng hoặc bệnh tật.
  • Linh kiện ô tô: Một chiếc ô tô hiện nay bao gồm rất nhiều các chi tiết được sản xuất bằng công nghệ ép phun nhựa. Chúng ta phục vụ cho ngành công nghiệp ô tô những chi tiết như bảng điều khiển, loa, ghế ngồi,…

Các ứng dụng của sản phẩm ép phun nhựa bao gồm các sản phẩm tiêu dùng, thương mại và công nghiệp. Công nghệ ép phun nhựa cung cấp tính linh hoạt để tạo ra các thiết kế có chi tiết từ đơn giản đến phức tạp ở bất kỳ kích thước nào.

 

2021-11-12 / by / in
THỰC TRẠNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT SẢN PHẨM CAO SU – NHỰA NGÀNH CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ

Thuộc ngành công nghiệp hỗ trợ, các sản phẩm nhựa và cao su của Việt Nam cũng đang dần phải được tiêu chuẩn hóa nhằm phù hợp với xu hướng hội nhập và đáp ứng những chuẩn mực quốc tế mà Việt Nam cam kết thực hiện. Hiện nay, sự phát triển của ngành nhựa – cao su có nhiều thay đổi và tính cạnh tranh ngày càng cao trong việc sản xuất các sản phẩm nói chung và sản phẩm cao su – nhựa ngành công nghiệp hỗ trợ nói riêng. Theo đó, mục tiêu cần được hướng đến là nâng cao khả năng cung ứng sản phẩm công nghiệp hỗ trợ cho các doanh nghiệp công nghệ cao đồng thời nâng cao chất lượng sản phẩm nhựa cao su truyền thống.

 

Giai đoạn từ 2016 – 2020, trên cả nước có hơn 3.000 doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh trong lĩnh vực cao su – nhựa. Trong đó, 70% Doanh nghiệp thuộc TP.Hồ Chí Minh với hơn 120 hội viên của Hội Cao su – Nhựa TP. Hồ Chí Minh đang sản xuất 30% lốp xe hơi, 50% lốp xe hai bánh, 70% cao su kỹ thuật,… Năm 2020, tỷ trọng đóng góp của ngành vào khoảng 15,75%, giảm 1,25% so với năm 2013

Các sản phẩm cao su – nhựa ngành công nghiệp hỗ trợ chủ yếu được tiêu thụ thị trường trong nước, với khoảng 92% doanh thu. Nhìn chung năng lực cung ứng và sản xuất của các doanh nghiệp sản xuất nhựa – cao su còn thấp: đáp ứng được 85-90% nhu cầu của ngành sản xuất, lắp ráp xe máy; 20% nhu cầu của ngành sản xuất, lắp ráp ô tô; 40% nhu cầu của ngành điện tử gia dụng; 15% nhu cầu của ngành điện tử tin học, viễn thông và 5% nhu cầu của ngành công nghiệp công nghệ cao.

Một số sản phẩm cao su cơ bản được các doanh nghiệp trong công nghiệp hỗ trợ cao su sản xuất như: Cao su gác chân, giảm chấn, cao su đệm…. Trong khi đó, đa phần những sản phẩm cao su cao cấp như dây đai truyền lực, phớt, ống cao su thủy lực… đều được nhập khẩu hoặc do các doanh nghiệp FDI cung cấp.

Có thể thấy chính sự manh mún trong phát triển ngành chưa tạo ra một chuỗi cung ứng khiến cho các doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm cao su – nhựa ngành công nghiệp hỗ trợ phát triển chưa hiệu quả, các doanh nghiệp sản xuất đơn lẻ, không kết hợp tạo ra cụm sản phẩm, đồng thời chưa có sự đầu tư lớn về công nghệ sản xuất hiện đại, do đó, năng lực để làm các đơn hàng số lượng lớn và chất lượng cao còn rất hạn chế. Không chỉ vậy, một trong những thách thức lớn nhất của ngành chính là việc chịu sức ép cạnh tranh trực tiếp từ các sản phẩm nước ngoài, khi phần lớn các công ty này đều sản xuất theo chuỗi cung ứng toàn cầu, áp dụng cải tiến công nghệ hiện đại, thân thiện với môi trường. Do đó, để tăng sức cạnh tranh thị phần trong nước cũng như hướng đến xuất khẩu, các doanh nghiệp trong nước cần phải khắc phục các hạn chế trên.

Nguồn: tuonglai.vn

2021-11-12 / by / in
Quy trình sản xuất sản phẩm nhựa sinh học

Sản xuất sản phẩm nhựa sinh học và đưa vào sử dụng, đặc biệt là trong ngành thực phẩm, đồ uống… Hiện đang là xu hướng được khuyến khích và theo đuổi hiện nay. Nhất là khi vấn đề ô nhiềm môi trường do vật liệu nhựa sử dụng một lần đang ngày càng nghiêm trọng. Gây nên tình rạng nóng lên toàn cầu do phát thải CO2 như hiện nay.
Chính việc này đã thúc đẩy sự phát triển của ngành sản xuất sản phẩm nhựa sinh học. Đặt ra các vấn đề về môi trường và sức khỏe trong sản xuất và tiêu dùng. Để hiểu rõ hơn về nhựa sinh học cũng như quy trình để tạo ra các sản phẩm nhựa tự hủy sinh học. Ở bài viết này sẽ chia sẻ chi tiết cùng bạn đọc.

1. Nhựa sinh học là gì?

Dù vẫn chưa có một câu trả thống nhất nào cho câu hỏi nhựa sinh học là gì– Bioplastic. Nhưng bạn có thể hiểu: Nhựa sinh học là loại vật liệu nhựa có nguồn gốc sinh học (bio-based) và/hoặc có khả năng phân hủy sinh học (biodegradable).

Phân loại nhựa sinh học:

Hiện nay nhựa sinh học được chia làm 3 nhóm dựa trên đặc tính của chất liệu:

Hạt nhựa sinh học PLA
Hạt nhựa sinh học PLA
  • Nhóm 1 (Bio-based): Bioplastic có nguồn gốc sinh học nhưng không có tính phân hủy sinh học. Các loại nhựa này bao gồm: Bio-PE, Bio-PP, Bio-PET… Chúng có tính chất hoàn toàn giống với nhựa truyền thống (có nguồn gốc hóa thạch) là PE, PP, PET.
  • Nhóm 2 (Bio-based và Biodegradable): Bioplastic vừa có tính tự phân hủy sinh học lại vừa có nguồn gốc sinh  học như: PLA (Polylactic acid), Polyhydroxyalkanoates (PHA), TPS (Thermoplastic starch).
  • Nhóm 3 (Biodegradable): Bioplastic chỉ có tính phân hủy sinh học (nhưng lại có nguồn gốc nguyên liệu hóa thạch) như: PBAT (Polybutylene adipate terephthalate), PCL (Polycaprolactone), PBS (Polybutylene succinate) và PEF (Polyethylene furanoate)…

Vì thế mà dù đều là sản xuất sản phẩm nhựa sinh học thế nhưng không phải sản phẩm nhựa sinh học nào cũng có thể tự phân hủy sinh học.

Thế nào là phân hủy sinh học?

Hiểu đơn giản thì phân hủy sinh học là sự phân hủy chất hữu cơ của các vi sinh vật, chẳng hạn như vi khuẩn, nấm… Các sản phẩm nhựa phân hủy sinh học là sự kết hợp của các sản phẩm nhựa với các phân tử polymer rất lớn. Nó chỉ chứa carbon và hydro, với oxy trong không khí. Nên sản xuất sản phẩm nhựa sinh học từ loại nhựa sinh học này sẽ có khả năng phân hủy trong bất cứ nơi nào từ một tuần đến một đến hai năm.

Bao bì nhựa sinh học tuyệt đối an toàn với sức khỏe người dùng và môi trường
Bao bì nhựa sinh học tuyệt đối an toàn với sức khỏe người dùng và môi trường
  • Nguyên liệu được sử dụng để sản xuất hạt nhựa phân hủy sinh học đều có nguồn gốc thực vật như: Lúa mì, ngô, khoai, củ cải,… Sản phẩm nhựa sản xuất ra có thể tự hủy trong thời gian ngắn. Và đâu cũng là nguyên liệu yêu thích được ưa chuộng để sản xuất sản phẩm nhựa sinh học trong nền công nghiệp thực phẩm.
  • Ngoài ra cũng có các hạt nhựa sinh học được sản xuất từ: Bột gỗ, mùn cưa, bào, dăm,… Ngành công nghiệp sản xuất sản phẩm nhựa sinh học tự hủy sinh học đã mang lại nguồn lợi rất lớn cho các nước châu Á như: Trung Quốc, Thái Lan, Đài Loan,… Những sản phẩm này ngày càng trở nên phổ biến ở các nước châu Âu. Nơi mà con người ngày càng quan tâm tới vấn đề môi trường và sức khỏe.

2. Quá trình sản xuất hạt nhựa tự hủy sinh học.

Để sản xuất sản phẩm nhựa sinh học các loại, đầu tiên chúng ra phải có nguyên liệu đầu vào là các hạt nhựa tự hủy sinh học. Quy trình sản xuất nhựa sinh học được thực hiện theo quy trình sau:

Sản xuất hạt nhựa sinh học
Sản xuất hạt nhựa sinh học
  • Đầu tiên nguyên liệu đầu vào là tinh bột sẽ được khử nước ở nhiệt độ khoảng 160-170 độ C. Sau đó sẽ được nghiền  thật mịn dưới áp suất cao bằng cách trộn thêm “chất đệm” (100- 150% khối lượng so với tinh bột). chất bôi trơn và 1-5% (khối lượng so với tinh bột) chất phân tán). Việc này giúp tinh bột sau khi nghiền đạt kích cỡ thật nhỏ, khoảng 10 µm. Sau đó, tinh bột sẽ được tách ra khỏi “chất đệm” bằng máy ly tâm.
  • Tinh bột sau khi nghiền mịn sẽ đem đi trộn chung với: Nhựa tổng hợp tự hủy sinh học (10- 40%), nhựa tổng hợp (5-15%), chất ái lực (8-15%), chất kết hợp (1-3%), chất phụ gia (1-15%). Quá trình khấy trộn sẽ được thực hiện máy với tốc độ 1000- 2800 rpm (số vòng quay trong 1 phút). Thời gian khuấy trộn đạt chuẩn rơi vào khoảng 5- 20 phút. Và nhiệt độ khi khuấy trộn từ 30- 120 độ C.
  • Hỗn hợp trộn xong sẽ được đưa vào máy đùn 2 mã lực để tiến hành quá trình trộn kết hợp. Quá trình này được tiến hành ở nhiệt độ 120- 220 độ C, áp suất từ 5-20 Mpa trong khoảng thời gian từ 3- 12 phút. Dưới nhiệt độ và áp suất cao. Các chất sẽ được trộn đều hoàn toàn và tạo thành polyme.
  • Cuối cùng là làm lạnh và tạo dạng hạt nhựa sinh học thành phẩm. Sản phẩm cuối cùng sẽ có màu trắng, dạng hạt. Đây là nguyên liệu đầu vào để sản xuất sản phẩm nhựa sinh học như: Bao bì nhựa sinh học, túi đựng tự hủy, hộp, khay, cốc, thìa, dĩa…

Noet: Thành phần các chất hoặc tỉ lệ các chất khi trộn có thể được thay đổi tùy theo trong phạm vi cho phép để tạo ra các sản phẩm có độ bền, độ cứng hoặc độ đàn hồi khác nhau.

3. Quy trình sản xuất sản phẩm nhựa sinh học.

Về cơ bản thì sau khi đã có hạt nhựa sinh học tự hủy thành phẩm. Việc sản xuất sản phẩm nhựa sinh học các loại như: Cốc, túi, khay, hộp nhựa sinh học không khác biệt nhiều so với việc sản xuất các sản phẩm nhựa thông thường.

Quy trình sản xuất sản phẩm nhựa sinh học tự hủy
Quy trình sản xuất sản phẩm nhựa sinh học tự hủy

Bước 1: Trộn nguyên liệu:

Tùy theo sản phẩm nhựa sinh học sản xuất khác nhau sẽ có tỷ lệ trộn khác nhau. Về cơ bản nguyên liệu được đưa vào máy trộn sẽ bao gồm:

  • Nhựa nguyên sinh (HDPE, LDPE, LLDPE…), như tại Tập đoàn Nhựa Bình Thuận, chúng tôi sử dụng nhựa nguyên sinh HDPE nhập khẩu chất lượng cao được tuyển chọn.
  • Các hạt màu nếu như bạn muốn sản xuất các sản phẩm nhựa có màu tương ứng.
  • Các chất phụ gia có thể là chất tăng cường độ cứng, bền, dẻo, chất chống tia cực tím…
  • Tinh bột…

Bước 2: Sản xuất sản phẩm nhựa sinh học:

  • Lúc này thì tùy theo sản phẩm, công nghệ ứng dụng là phun ép nhựa định hình, đúc khuôn… Mà hạt nhựa được trộn sẽ được đưa vào các loại máy ép phun, máy đúc… để sản xuất sản phẩm nhựa sinh học theo khuôn mẫu sản phẩm yêu cầu từ khách hàng.
  • Sản phẩm sản xuất ra sẽ được in ấn tên thương hiệu, logo, thông tin sản phẩm phục vụ các công ty, doanh nghiệp.

Tại Nhựa Bình Thuận, bên cạnh hệ thống máy ép nhựa công suất lớn (lên tới 2.800 tấn) thì chúng tôi còn có hệ hống máy in hiện đại được nhập khẩu từ nước ngoài. Với kỹ thuật in ấn tiên tiến sẽ in ấn trên bao bì ản phẩm. Một số sản phẩm sản xuất theo khuôn mẫu cũng sẽ được khắc sẵn dòng chữ, logo (ngược) để sản phẩm nhựa sinh học sản xuất ra có đầy đủ hình ảnh, logo, dòng chữ theo yêu cầu vô cùng sắc nét.

Bước 3: Cắt bavia:

  • Sản phẩm nhựa sinh học trước khi được đóng gói và đưa ra thị trường hoặc chuyển đến tay khách hàng sẽ trải qua một khâu kiểm tra chất lượng nữa và cắt bỏ bavia ở cạnh biên. Đảm bảo các sản phẩm đảm bảo tính thẩm mỹ và an toàn trong quá trình sử dụng.
  • Thành phẩm sẽ được chuyển trực tiếp đến tay khách hàng (doanh nghiệp) theo đúng cam kết về số lượng, chất lượng trong đơn đặt hàng. Đúng deadline và nhanh chóng.

Trên đây là quy trình để tạo ra các hạt nhựa sinh học tự hủy và quá trình sản xuất sản phẩm nhựa sinh học. Hy vọng những chia sẻ trên đã giúp bạn hiểu thêm phần nào về hạt nhựa tự hủy và các sản phẩm nhựa sinh học. Nếu bạn còn thắc mắc hay có nhu cầu đặt sản xuất các sản phẩm nhựa sinh học phục vụ nhu cầu kinh doanh, sản xuất của doanh nghiệp mình.

Nguồn: nhuabinhthuan.com.vn

2021-11-02 / by / in ,