Thêm kết quả...

Tổng quan về hệ thống ngân hàng tại Việt Nam

Sự phát triển của ngành ngân hàng Việt Nam có thể được đánh dấu từ sự ra đời của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam vào ngày 06/05/1951. Tuy nhiên, trước 1990, hệ thống ngân hàng Việt Nam là hệ thống một cấp, không có sự tách biệt giữa chức năng quản lý và chức năng kinh doanh. NHNN vừa đóng vai trò Ngân hàng Trung ương vừa là Ngân hàng thương mại. Đến năm 1990, do nhu cầu chuyển đổi từ cơ chế quản lý kinh doanh xã hội chủ nghĩa sang cơ chế thị trường có sựđiều tiết của nhà nước trong chủ trương phát triển nền kinh tếđa thành phần, ngày 23/05/1990, Hội đồng Nhà Nước ban hành pháp lệnh về Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và pháp lệnh về các tổ chức tín dụng.

Hai pháp lệnh này đã chính thức chuyển cơ chế hoạt động của hệ thống ngân hàng Việt Nam từ hệ thống một cấp sang hệ thống hai cấp. Từ đó, hệ thống ngân hàng Việt Nam đã được tổ chức tương tự như hệ thống ngân hàng các nước có nền kinh tế thị trường: chức năng của NHNN được thu hẹp lại, chỉ còn giám sát chính sách tiền tệ, phát hành tiền, quản lý hệ thống tín dụng, giám sát các ngân hàng thương mại, quản lý dự trữ ngoại hối với mục tiêu hàng đầu là bình ổn tiền tệ và kiểm soát lạm phát, trong khi chức năng trung gian tài chính (huy động và phân bổ vốn) được chuyển sang cho các ngân hàng thương mại.

Cải cách hệ thống ngân hàng năm 1990 đã xoá bỏ được tính chất độc quyền nhà nước, góp phần đa dạng hoá hoạt động ngân hàng về mặt hình thức sở hữu cũng như về số lượng ngân hàng. Cụ thể, số lượng ngân hàng TMCP (NHTMCP) đã tăng lên nhanh chóng. Từ năm 1991-1993, số lượng NHTMCP nhảy vọt từ 4 ngân hàng lên đến 41 ngân hàng và đạt đỉnh điểm là 51 ngân hàng vào năm 1997. Sau cuộc khủng hoảng tài chính tiền tệ 1997, một số NHTMCP do kinh doanh không hiệu quả, bị phá sản hoặc rút giấy phép hoạt động nên con số này đã giảm.

Giai đoạn 2000 – 2007, là giai đoạn đẩy mạnh tiến trình tái cơ cấu lại toàn diện hệ thống ngân hàng nhằm củng cố và phát triển theo hướng tăng cường năng lực quản lý về tài chính, đồng thời giải thể, sáp nhập, hợp nhất hoặc bán lại các NHTMCP yếu kém về hiệu quả kinh doanh. Do đó, thời kỳ này số lượng các ngân hàng TMCP đã giảm xuống đôi chút so với những năm cuối của thập kỷ 1990. Ngoài ra, số lượng các chi nhánh và đại diện của các ngân hàng nước ngoài có xu hướng gia tăng theo các cam kết đã ký, trước hết là hiệp định thương mại Việt-Mỹ, hiệp định khung về thương mại dịch vụ (AFAS) của ASEAN. Kết quả là, tỷ trọng về số lượng NHTMCP giảm xuống so với toàn hệ thống ngân hàng thương mại, từ đỉnh cao 73% ở năm 1993 xuống còn 40% vào năm 2007. Đến năm 2008 và 2009, do hai ngân hàng thương mại nhà nước (NHTMNN) là ngân hàng Ngoại thương và ngân hàng Công thương lần lượt chuyển đổi sang hình thức cổ phần nên tỷ lệ này đã tăng lên chiếm khoảng 42% năm 2008 và 43% năm 2009 so với toàn ngành.

Số lượng các ngân hàng thương mại nhà nước vẫn tương đối ổn định, từ bốn NHTMNN được thành lập ban đầu tăng lên 7 ngân hàng trong năm 2015. Trong số các NHTMNN, có bốn ngân hàng lớn nhất hệ thống: NHTMCP Ngoại thương (VCB), NHTMCP Công thương (CTG), NHTMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV), NH Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Agribank). Các ngân hàng còn lại bao gồm Ngân hàng TNHH MTV Dầu khí toàn cầu (GP Bank), Ngân hàng TNHH MTV Đại Dương và Ngân hàng TNHH MTV Xây dựng. Số lượng các ngân hàng được chia thành các nhóm ngân hàng nhà nước (NHNN), ngân hàng thương mại cổ phần (NHTMCP), chi nhánh ngân hàng nước ngoài (CNNHNN) và ngân hàng liên doanh được thể hiện cụ thể tại bảng cơ cấu hệ thống ngân hàng thương mại giai đoạn 2009-2015 dưới đây:

Hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam giai đoạn 2009-2015

Nguồn: Thống kê của NHNN

Tài liệu tham khảo

  1. Nguyễn Thu Nga (2017). Phân tích mối quan hệ giữa rủi ro tín dụng với hiệu quả kinh doanh của các NHTMCP Việt Nam. Luận án tiến sĩ kinh tế. Trường Đại học Kinh tế Quốc dân.
  2. Berger, A. N., De Young, R. (1997), ‘Problem loans and cost efficiency in commercial Banks’, Journal of Banking And Finance, (21) 6, pp. 849-870.
  3. Williams, J., ( 2004), ‘Determining management behaviour in European Banking’ Journal of Banking and Finance 28, pp. 2427-2460.
  4. Rossi, S., Schwaiger, M., and Winkler, G. (2005), ‘Managerial Behaviour and Cost/Profit Efficiency in the Banking Sectors of Central and Eastern European Countries’, Working Paper, No. 96, Austrian National Bank.

Nguồn: ditiep.com

2021-10-29 / by / in
Quy mô hệ thống ngân hàng đã thay đổi thế nào trong 5 năm trở lại đây?

Từ lúc chỉ có 4 ngân hàng có tổng tài sản trên 10 tỷ đô cuối năm 2013 thì đến 2018 đã có 11 ngân hàng – đều là những ngân hàng có sức ảnh hưởng rất lớn khi thị phần tiền gửi và tín dụng chiếm đến hơn 2/3 thị trường.

Chỉ trong vòng 5 năm trở lại đây, quy mô của hệ thống TCTD Việt Nam đã tăng lên đáng kể. Từ mức tổng tài sản hơn 5,7 triệu tỷ đồng cuối năm 2013, đến cuối năm 2018 con số này đã vượt qua mốc 11 triệu tỷ, tức tăng gần gấp đôi sau 5 năm.

Tổng tài sản của hệ thống đang tập trung ở các NHTM Nhà nước (tỷ trọng 44%), sau đó là các NHTM cổ phần (41%). Tổng tài sản của các ngân hàng liên doanh, ngân hàng nước ngoài chỉ chiếm 10%. 3% còn lại là của các loại hình TCTD khác như công ty tài chính, cho thuê tài chính, ngân hàng hợp tác xã, ngân hàng chính sách xã hội, các quỹ tín dụng nhân dân.

Cuối năm 2013, cả nước chỉ có 4 ngân hàng có tổng tài sản đạt trên 10 tỷ USD và đều là các ngân hàng có vốn chi phối của nhà nước. Tuy nhiên, đến cuối năm 2018, con số này đã lên tới 11 ngân hàng bao gồm: BIDV, Agribank, VietinBank, Vietcombank, SCB, Sacombank, MB, ACB, SHB, VPBank và Techcombank. Trong đó, BIDV và Agribank đang có tổng tài sản lớn nhất, đạt trên 1,3 triệu tỷ đồng.

11 cái tên này đang có sức ảnh hưởng rất lớn trên thị trường khi ước tính có thị phần tiền gửi và tín dụng trên 2/3 toàn thị trường, ngày càng tỏ ra cách biệt với những ngân hàng nhỏ phía sau.

SCB, VPBank, Sacombank, BIDV và Vietcombank là 5 ngân hàng có tăng trưởng tổng tài sản nhanh nhất trong nhóm này, lần lượt tăng 176%, 167%, 152%, 139% và 129%.

Trong khi tổng tài sản tăng theo cấp số nhân, vốn tự có và vốn điều lệ của các ngân hàng lại tăng khá chậm chạp. Đến cuối năm 2018, tổng số vốn tự có của hệ thống TCTD đạt hơn 806 nghìn tỷ đồng, tăng hơn 339 nghìn tỷ tương đương tăng 73% so với cuối năm 2013. Trong đó, vốn tự có của các công ty tài chính, cho thuê tài chính tăng mạnh nhất với hơn 10 lần. Còn các NHTM Nhà nước có vốn tự có tăng chậm nhất (tăng 59%).

Trong 5 năm, vốn điều lệ của hệ thống được bổ sung hơn 152 nghìn tỷ đồng, tương đương tăng 36%. Theo đó, cuối năm 2018, tổng vốn điều lệ của cả hệ thống TCTD đạt trên 576 nghìn tỷ đồng. Trong đó, vốn điều lệ của khối ngân hàng cổ phần là lớn nhất và cũng tăng nhanh nhất trong 5 năm qua ( tăng 38%).

Tuy nhiên, trên thực tế trong nhóm ngân hàng cổ phần cũng có sự phân hóa rõ rệt. Những ngân hàng Top đầu như VPBank, Techcombank, MBBank, ACB,…có được nhiều thuận lợi trong việc tăng vốn nhờ kết quả kinh doanh ấn tượng, cổ phiếu tăng trưởng tốt và nhận được sự quan tâm của các nhà đầu tư ngoại. Trong khi đó, hàng loạt ngân hàng nhỏ có vốn điều lệ quanh 3.000 tỷ đồng vẫn đang loay hoay tìm đường tăng vốn nhưng bế tắc.

Việc tăng trưởng quy mô tổng tài sản quá nhanh trong khi vốn điều lệ được bổ sung vào không kịp đã dẫn đến tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu (CAR) có xu hướng giảm ở nhiều TCTD. Cuối năm 2018, chỉ số CAR của cả hệ thống TCTD là 12,14%, trong đó, khối NHTM Nhà nước chỉ đạt 9,53%. Khối các ngân hàng liên doanh, ngân hàng nước ngoài vẫn duy trì CAR khá cao, đạt 23,88%.

Nguồn: cafef

2021-10-29 / by / in
Thanh khoản hệ thống ngân hàng thương mại Việt Nam: Thực trạng và khuyến nghị
Tính đến cuối 2010, hệ thống ngân hàng thương mại gồm có 5 NHTM Nhà nước, 37 NHTM cổ phần, 50 chi nhánh NHTM nước ngoài, 5 NHTM liên doanh, 5 NH 100% vốn nước ngoài.

1. Thực trạng thanh khoản tại các NHTM giai đoạn 2006 – 2017

Về lý thuyết, tính thanh khoản của ngân hàng thương mại (NHTM) được xem như khả năng đáp ứng những nhu cầu tức thời về tiền của NHTM như rút tiền gửi và giải ngân các khoản tín dụng đã cam kết, chi trả chi phí hoạt động hay những nhu cầu cần phải thanh toán bằng tiền khác. Do đó, rủi ro thanh khoản là loại rủi ro khi ngân hàng (NH) không có khả năng cung ứng đầy đủ lượng tiền mặt cho nhu cầu thanh khoản tức thời hoặc cung ứng đủ nhưng với chi phí cao.

1.1. Khái quát về hệ thống NHTM Việt Nam
Tính đến cuối 2010, hệ thống NHTM gồm có 5 NHTM Nhà nước, 37 NHTM cổ phần, 50 chi nhánh NHTM nước ngoài, 5 NHTM liên doanh, 5 NH 100% vốn nước ngoài. (Bảng 1)
Từ năm 2010, do ảnh hưởng của thị trường thế giới cũng như hệ quả của quá trình mở rộng quá nhanh trước đây, hệ thống ngân hàng đã bộc lộ một số vấn đề bất cập. Chất lượng tín dụng sụt giảm, thanh khoản của hệ thống bất ổn, nguy cơ gây ra đổ vỡ hệ thống… Vì vậy, đầu năm 2012, hệ thống NHTM bắt đầu quá trình tái cơ cấu theo Đề án cơ cấu lại hệ thống tổ chức tín dụng (TCTD) giai đoạn 2011-2015 (Đề án 254). Sau 05 năm triển khai, đề án cơ bản đã đạt được mục tiêu đề ra, xử lý cơ bản được các NHTM yếu kém và giữ được ổn định chung của toàn hệ thống. Từ năm 2012 đến năm 2015, hệ thống đã giảm đi 5 NHTM cổ phần thông qua hoạt động sáp nhập, hợp nhất (Đệ Nhất, Tín Nghĩa, Nhà Hà Nội, Phương Tây, Đại Á) và Ngân hàng Nhà nước (NHNN) đã mua lại 3 NHTM cổ phần (VNCB, OceanBank và GPBank). Đến cuối năm 2015, hệ thống có 7 NHTM Nhà nước (gồm 3 NHTM được Nhà nước mua lại với giá 0 đồng, Agribank và 4 NHTM cổ phần Nhà nước), 28 ngân hàng TMCP, 5 NH 100% vốn nước ngoài, 5 NH liên doanh. Tuy nhiên, hệ thống vẫn tiềm ẩn những vấn đề đáng lo ngại về sở hữu chéo, nợ xấu ở mức cao cũng như năng lực tài chính của các NHTM vẫn ở mức kém.
Chính vì vậy, Đề án Tái cơ cấu NH giai đoạn 2 (2016 – 2020) được Chính phủ phê duyệt tại Quyết định số 1058/QĐ-TTg, với các mục tiêu cụ thể: Tiếp tục cắt giảm tỷ lệ nợ xấu một cách bền vững và cắt giảm đáng kể số NHTM yếu kém; kéo lãi suất cho vay xuống mức trung bình của các nước đang phát triển là khoảng 5%/năm; đảm bảo 70% số NHTM thực hiện đầy đủ Basel II vào năm 2020. Đến nay, sau gần 2 năm, quá trình này đã đạt được kết quả bước đầu. NHNN đã phê duyệt phương án cơ cấu lại gắn với xử lý nợ xấu của 3/4 NHTM Nhà nước. Các NHTM cổ phần tập trung củng cố, chấn chỉnh toàn diện trên các mặt tài chính, quản trị và hoạt động nhằm nâng cao hiệu quả kinh doanh, năng lực cạnh tranh. Nợ xấu của toàn hệ thống tiếp tục được kiểm soát và duy trì ở mức dưới 3%. Bên cạnh đó, một số mục tiêu cần tiếp tục đẩy mạnh thực hiện như yêu cầu tăng vốn để đảm bảo an toàn hoạt động. Theo tính toán của Ủy ban Giám sát tài chính Quốc gia, tới cuối năm 2020 nhu cầu vốn tự có tăng thêm của 3 NH VietinBank, BIDV và Vietcombank dự kiến gấp 1,8 – 2 lần so với thời điểm hiện tại mới có thể đáp ứng quy định của Basel II. Nhưng các NHTM Nhà nước này chưa được sử dụng lợi nhuận giữ lại để tăng vốn, trong khi đó, tăng vốn theo hình thức bán cổ phần bị hạn chế bởi quy định về tỷ lệ nắm giữ cổ phần tối thiểu của Nhà nước.
Hiện nay, hệ thống NHTM đang trong giai đoạn tiếp tục cơ cấu lại để đảm bảo an toàn hoạt động và hướng tới quản trị điều hành theo thông lệ quốc tế. Trong đó, những vấn đề cụ thể được quy định chi tiết trong các văn bản pháp lý riêng. Đặc biệt là quản lý thanh khoản của các NHTM được quan tâm và các quy định được cập nhật liên tục.
1.2. Hiện trạng thanh khoản tại các NHTM
Nghiên cứu thanh khoản hệ thống các NHTM trong giai đoạn 2006-2017, có thể thấy, về cơ bản được đảm bảo an toàn. Trong giai đoạn này, tình trạng khủng hoảng thanh khoản diện rộng không xảy ra. Song cũng có NH đôi lúc còn căng thẳng thanh khoản và những khó khăn thanh khoản cục bộ đối với một số NHTM. Những trường hợp căng thẳng thanh khoản của hệ thống NHTM có thể được nhận biết thông qua biến động lãi suất trên thị trường.
Căng thẳng thanh khoản của hệ thống trong giai đoạn 2006 đến 2011 có 3 lần xảy ra với diễn biến và tính chất khác biệt nhau. Cụ thể từng lần như sau: (Biểu đồ 1)
Lần thứ nhất là vào năm 2008, khi tỷ lệ tín dụng/huy động vốn của hệ thống vượt qua mức 100% từ tháng 1/2008 thì ngay từ tháng 2/2008, lãi suất huy động vốn và cho vay tăng cao. Cụ thể, các NHTM phải áp dụng nhiều hình thức khuyến mại bằng tiền, hiện vật để tìm cách thu hút nguồn vốn. Xuất hiện tình trạng huy động vốn với kỳ hạn rất ngắn, tương tự như thị trường liên ngân hàng (LNH) với mức lãi suất rất cao. Các kỳ hạn đã được huy động là từ 2 đến 6 ngày với mức lãi suất hấp dẫn từ 0,45-0,65%/tháng. Tình trạng này kéo dài đến tháng 7 khiến cho mặt bằng lãi suất trên thị trường bán lẻ liên tục tăng. Mức tăng bình quân theo tháng từ 1 đến 2%/năm. Kết quả là mức lãi suất huy động vốn kỳ hạn 6 tháng tăng mạnh lên mức 10,5%/năm, vượt ngưỡng hơn 0,61%/năm so với quy định về mức lãi suất không được vượt quá 150% lãi suất cơ bản. Đồng thời, mức lãi suất cho vay cũng tăng lên đáng kể. Đến tháng 7/2008, mức lãi suất cho vay ngắn hạn bình quân của các NHTM tăng lên mức 13,8%/năm, trước tháng 2/2008 dao động ổn định quanh mức 12,3-12,7%/năm. Tình hình căng thẳng hơn khi chịu thêm ảnh hưởng của thị trường chứng khoán. Bởi vì, các NHTM không thể thực hiện bán giải chấp với các khoản vay kinh doanh chứng khoán khi thị trường sụt giảm. Nguyên nhân là do VNIndex sụt giảm trên 60% trong 6 tháng đầu năm 2008. Để tránh tình trạng trở nên tệ hơn, Ủy ban chứng khoán Nhà nước đã vận động ngừng bán giải chấp cổ phiếu.
Lần thứ hai thanh khoản NHTM có biểu hiện căng thẳng là tháng 12/2009 khi lãi suất tái cấp vốn ở mức 8%/năm. Tỷ lệ vốn thanh khoản/tiền gửi huy động từ nền kinh tế tháng 12/2009 giảm ở tất cả các nhóm NHTM so với cuối năm 2008. Trong đó: Nhóm NHTM Nhà nước giảm từ 34,5% xuống 25,8%; Nhóm NHTM cổ phần giảm từ 47,2% xuống 43,4%; Nhóm NH liên doanh và NH nước ngoài giảm từ 65,3% xuống 60,8%. Cuối tháng 12/2009, số dư huy động vốn của các NHTM từ thị trường LNH tăng 65,8% so với cuối năm 2008. Riêng tháng 12/2009, huy động vốn trên thị trường LNH tăng đột biến (gần 21%) so với tháng 11/2009. Theo đó: Tỷ lệ huy động vốn từ thị trường LNH so tổng dư nợ cho vay nền kinh tế tăng từ 21,6% năm 2008 lên 26%; Tỷ lệ chênh lệch (tổng dư nợ tín dụng – huy động vốn trên thị trường I) so với huy động vốn trên thị trường LNH tăng từ -25,3% năm 2008 lên 5,4% năm 2009. Lãi suất LNH qua đêm và 1 tuần tăng mạnh. Trong khi lãi suất thị trường mở và tái cấp vốn chỉ tăng 1% từ mức 7% lên 8%/năm vào tháng 12/2009 thì lãi suất LNH bình quân tăng từ mức trung bình 6%/năm ở các tháng trong năm lên gần 11%/năm vào tháng 12 đối với kỳ hạn qua đêm, tăng từ 8%/năm lên 12%/năm đối với kỳ hạn 1 tuần.
Lần thứ ba trong giai đoạn từ tháng 10/2010 – 1/2011, tỷ lệ tín dụng/huy động vốn VND của toàn hệ thống TCTD tăng đáng kể từ mức 98,6% tháng 10/2010 lên mức 100,07% tháng 11/2010. Mặc dù đến thời điểm cuối năm 2010, tỷ lệ này đã giảm nhẹ xuống còn 99,1%. Nhưng ngay sau đó, vào tháng 1/2011, mức 100% lại tiếp tục bị vượt qua và duy trì đến tháng 5/2011. Nguyên nhân chủ yếu do tốc độ tăng trưởng tín dụng nhanh hơn tăng trưởng huy động vốn bằng VND liên tục diễn ra trong vòng 6 tháng kể từ tháng 10/2010. Thậm chí trong 3 tháng đầu năm 2011, số dư huy động vốn VND vào hệ thống NHTM liên tiếp giảm so với các tháng liền trước. Trên thị trường LNH, mức lãi suất qua đêm tăng liên tục. Mặc dù, trước đó, lãi suất đang duy trì xu hướng giảm từ đầu năm 2010 thì xu hướng ngược lại đã được xác lập từ tháng 7 đến cuối năm. Từ tháng 7/2010 đến tháng 10/2010, mức tăng bình quân tháng của mặt bằng lãi suất LNH liên tục là từ 0,1-0,5%/năm. Đến tháng 11/2010, chỉ trong vòng 1 tháng, mức lãi suất đã tăng cao đột biến 2,8%/năm lên mức 10,3%/năm vào tháng 11/2010. Lãi suất bình quân các kỳ hạn từ 1 tuần đến 12 tháng dao động xung quanh mức 13,3-13,5%/năm, cao hơn mức ổn định 7-11%/năm trong các tháng trước đó. Đồng thời, các NHTM tăng vay mượn trên thị trường LNH từ tháng 8/2010. Mức tăng mạnh nhất diễn ra vào tháng 10/2010 với mức tăng theo tháng đạt 19,3%. Sự gia tăng lãi suất này chính là nguyên nhân giúp cho tỷ lệ dư nợ/huy động vốn của các NHTM có dấu hiệu sụt giảm nhẹ vào cuối năm. Bởi vì, số dư huy động vốn VND của các NHTM từ thị trường LNH trong 11 tháng đầu năm tăng khá so với cuối năm 2009, đạt 14,34%. Tỷ lệ vốn huy động từ thị trường LNH/tổng vốn huy động tăng từ mức phổ biến 14% trong 7 tháng liền trước lên mức 17,1% tháng 11/2010 và tăng lên mức cao nhất 21,03% vào tháng 1/2011.
Nguyên nhân gây ra tình trạng rủi ro thanh khoản của các NHTM trong thời gian này là do nhiều yếu tố, từ điều kiện khách quan đến các yếu tố chủ quan của NHTM. Điều kiện khách quan có thể kể đến là ảnh hưởng của khủng hoảng kinh tế thế giới, điều kiện kinh tế vĩ mô trong nước. Nhưng nguyên nhân chủ yếu vẫn là các yếu tố chủ quan của hệ thống khi các NHTM không đáp ứng được các yêu cầu về đảm bảo an toàn thanh khoản của NHNN đưa ra cũng như vấn đề về xử lý khủng hoảng thông tin liên quan đến uy tín, ảnh hưởng của Ban Lãnh đạo NHTM.
1.3. Khung pháp lý về quản lý thanh khoản tại các NHTM
Từ Quyết định 457/2005/QĐ-NHNN về tỷ lệ đảm bảo an toàn trong hoạt động của các TCTD, các định hướng ban đầu về đảm bảo an toàn thanh khoản của các NHTM đã được quy định. Cụ thể gồm có: (i) yêu cầu nhân sự cũng như cách thức quản lý thanh khoản đối với các NHTM. NHNN yêu cầu các NHTM đều phải thành lập bộ phận chuyên biệt dưới sự điều hành của thành viên Ban Giám đốc (Ban Tổng Giám đốc) để quản lý chiến lược và chính sách đảm bảo khả năng chi trả của NHTM. Cụ thể hơn về cách thức vận hành, các quy định về việc xây dựng hệ thống cảnh báo sớm và các dự kiến/phương án ứng phó cũng được đưa ra; (ii) mức an toàn tối thiểu về tỷ lệ an toàn vốn, tỷ lệ khả năng chi trả cho kỳ hạn 7 ngày và 30 ngày, tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn dùng để cho vay trung dài hạn. Có thể nói, Quyết định 457 có vai trò quan trọng trong việc hình thành ý thức về quản lý thanh khoản trong hoạt động của các NHTM.
Trong giai đoạn 2006-2010, NHNN đẩy mạnh hoàn thiện các quy định pháp lý trong lĩnh vực ngân hàng để đảm bảo an toàn hệ thống. Nổi bật là yêu cầu nâng mức vốn pháp định và tăng cường kiểm soát việc chuyển đổi các NHTM cổ phần nông thôn lên thành các NHTM cổ phần đô thị. Đồng thời, các quy định về đảm bảo an toàn thanh khoản của hệ thống tiếp tục được bổ sung, chỉnh sửa cho phù hợp với điều kiện của hệ thống cũng như tiến gần đến các thông lệ quốc tế. Cụ thể là Thông tư 15/2009/TT-NHNN đã quy định “Quy định về tỷ lệ tối đa của nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để cho vay trung hạn và dài hạn đối với TCTD”. Thông tư 13/2010/TT-NHNN ngày 20/05/2010 “Quy định về các tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của TCTD” quy định chi tiết về tỷ lệ an toàn vốn, tỷ lệ khả năng chi trả, tỷ lệ cấp tín dụng so với nguồn vốn huy động.
Trong giai đoạn cơ cấu lại hệ thống theo Đề án 254, NHNN đã phối hợp với các NHTM lành mạnh để cung cấp thanh khoản cho các ngân hàng yếu để giảm thiểu rủi ro thanh khoản của hệ thống. Ðồng thời, NHNN đã cho các NHTM gia hạn nợ đối với doanh nghiệp (DN) và cho phép một số NHTM mua bán nợ dưới dạng cho DN vay và nợ của các TCTD vay lẫn nhau. Đồng thời, NHNN ban hành Thông tư 36/2014/TT-NHNN quy định các giới hạn, tỷ lệ bảo đảm an toàn trong hoạt động của TCTD, chi nhánh ngân hàng nước ngoài (TT 36). TT 36 đã tập trung được tất cả các quy định trước đây và tiếp tục nâng dần quy định về đảm bảo an toàn thanh khoản của các NHTM. Quy định của TT 36 đã chi tiết hơn về quản trị nội bộ về thanh khoản của NHTM cũng như các tỷ lệ an toàn thanh khoản. Các tỷ lệ về khả năng chi trả đã được quy định tương đối đầy đủ nhằm phòng ngừa rủi ro thanh khoản, rủi ro chênh lệch kỳ hạn của NHTM như: Tỷ lệ dự trữ thanh khoản (báo cáo theo ngày); Tỷ lệ khả năng chi trả trong vòng 30 ngày (theo ngày); Tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để đầu tư trung và dài hạn; Tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để đầu tư trái phiếu chính phủ; Tỷ lệ dư nợ cho vay so với tổng tiền gửi. Trong đó, tỷ lệ khả năng chi trả trong vòng 30 ngày và tỷ lệ tối đa nguồn vốn ngắn hạn được sử dụng để đầu tư trung và dài hạn có ý nghĩa gần giống với các khuyến nghị về thanh khoản của Basel III (LCR và NSFR).
Đến giữa năm 2016, Thông tư 06/2016/TT-NHNN (TT06) được ban hành nhằm sửa đổi và bổ sung một số điều của TT 36. Trong đó, các nội dung về quản lý thanh khoản đã có những thay đổi quan trọng: (i) Tỷ lệ nguồn vốn ngắn hạn cho vay trung dài hạn điều chỉnh giảm từ 60% xuống 40% đối với NHTM và quy định lộ trình giảm trong 2 năm (2017: 50%, 2018: 40%); (ii) Định nghĩa lại khái niệm NHTM Nhà nước, giữ nguyên tỷ lệ dư nợ cho vay trên tổng tiền gửi đối với nhóm NHTM cổ phần Nhà nước sở hữu trên 50% vốn điều lệ là 80%; (iii) Thay đổi tỷ lệ đầu tư trên vốn ngắn hạn đối với NHTM Nhà nước từ 15% lên 25%, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài từ 15% lên 35%, Ngân hàng Hợp tác xã từ 40% về 35%. Bổ sung nguồn vốn ngắn hạn bao gồm cả các khoản tiền gửi cá nhân và tiền gửi không kỳ hạn của tổ chức. Như vậy, các quy định về an toàn thanh khoản của hệ thống NHTM được điều chỉnh theo hướng chú trọng hơn đến đảm bảo an toàn thanh khoản trong dài hạn, tránh tình trạng các NHTM lạm dụng chuyển đổi kỳ hạn.
Nhìn lại quá trình phát triển của hệ thống có thể thấy, các vấn đề về thanh khoản của hệ thống đã luôn được NHNN hết sức quan tâm và điều hành sát sao. Bởi vì, chính những yếu kém về thanh khoản là nguyên nhân sâu xa dẫn đến việc phải thực hiện cơ cấu lại hệ thống để đảm bảo an toàn và phát triển lành mạnh.
2. Một số khuyến nghị 
Từ việc nhận biết nguyên nhân của tình trạng khó khăn thanh khoản của NHTM cũng như đánh giá hệ thống pháp lý hiện nay về quản lý thanh khoản được NHNN ban hành, tác giả xin đề xuất một số khuyến nghị nhằm khắc phục tình trạng căng thẳng thanh khoản của các NHTM.
2.1. Đối với cơ quan quản lý
Việc xây dựng được hệ thống hành lang pháp lý phù hợp với hệ thống NHTM là nhiệm vụ hàng đầu và có vai trò hết sức quan trọng. Bên cạnh đó, những vấn đề về cảnh báo và giám sát hệ thống, cùng với công tác phối hợp xử lý khủng hoảng thông tin trong giai đoạn căng thẳng là đặc biệt quan trọng, trong đó cần hướng đến:
Thứ nhất, xây dựng hệ thống chỉ số phản ánh thanh khoản của cả hệ thống: với góc độ của cơ quan quản lý hệ thống, NHNN không chỉ cần quan tâm đến việc xây dựng được các tiêu chuẩn đánh giá cho từng NHTM mà còn phải có hệ thống chỉ số cảnh báo chung cho cả thị trường. Hệ thống cảnh báo sớm về thanh khoản cho toàn thị trường sẽ có vai trò đặc biệt quan trọng với an toàn thanh khoản của cả hệ thống. Hệ thống này sẽ giúp cảnh báo trước được các trường hợp căng thẳng thanh khoản với biểu hiện là lãi suất thị trường liên tục tăng cao như đã phân tích. Việc giám sát an toàn của hệ thống chỉ dựa vào đảm bảo các hệ số của từng NHTM đáp ứng theo yêu cầu là không đủ. Trong điều kiện các NHTM sẽ phụ thuộc lớn vào đặc điểm của thị trường tài chính thì những chỉ báo chung của thị trường sẽ có tác dụng lớn trong việc cảnh báo cho NHNN lường trước những ảnh hưởng có thể có từ môi trường vĩ mô đến hệ thống. Từ đó, NHNN có các chính sách điều tiết thị trường một cách kịp thời. Hệ thống chỉ số của thị trường có thể áp dụng gồm có các mô hình định lượng về cảnh báo sớm rủi ro thanh khoản cho hệ thống NHTM, áp dụng các chỉ số thanh khoản cho toàn hệ thống theo quy định Basel…
Thứ hai, đảm bảo công tác giám sát hệ thống NHTM và có chế tài xử phạt thích đáng. Trường hợp mất thanh khoản của 3 NHTM thực hiện hợp nhất vào năm 2011 được nhìn nhận nguyên nhân do chủ quan trong quá trình hoạt động của bản thân các NHTM. Mặc dù đã được xử lý nhanh chóng, tuy nhiên, những thiệt hại của ngân sách vẫn chưa được công bố. Do đó, vai trò của công tác giám sát hệ thống NHTM là rất quan trọng. Thực hiện giám sát thường xuyên sẽ giúp NHNN sớm phát hiện được trường hợp các NHTM đang có nguy cơ xảy ra rủi ro thanh khoản. Từ đó, NHNN có thể áp dụng các chế tài chấn chỉnh sớm ngay từ thời điểm phát sinh để tránh những rủi ro chung cho hệ thống.
Thứ ba, vấn đề về xử lý khủng hoảng truyền thông là rất quan trọng với thanh khoản. Vai trò thanh khoản của NHTM chỉ thực hiện được khi niềm tin của người gửi tiền được củng cố. Trường hợp ACB xảy ra sự cố về khủng hoảng thanh khoản, có thể nói, nguyên nhân không bắt nguồn từ hoạt động kinh doanh thường xuyên mà là từ vấn đề về truyền thông. Do đó, NHNN cùng các cơ quan chức năng cần hết sức thận trọng khi có bất cứ thông báo nào về tình hình của NHTM. Nếu xảy ra trường hợp bất khả kháng phải công bố về các thông tin tiêu cực liên quan đến các NHTM, NHNN có thể yêu cầu các NHTM có sự chuẩn bị trước và lên các phương án đối phó kỹ lưỡng.
2.2. Đối với các NHTM
Mọi quyết định kinh doanh của NHTM đều phải cân bằng giữa rủi ro và lợi ích. Do đó, với mục tiêu chính là sinh lợi thì việc đảm bảo an toàn thanh khoản thậm chí đôi khi còn được nhìn nhận như là “vật cản”. Tuy nhiên, các trường hợp căng thẳng thanh khoản đã xảy ra cũng cho các NHTM một số bài học. Cụ thể:
Thứ nhất, NHTM phải tuyệt đối tuân thủ các quy định về đảm bảo an toàn trong thanh khoản nói riêng và tuân thủ các quy định về hoạt động kinh doanh trong ngân hàng nói chung. Đối với các tỷ lệ an toàn thanh khoản, thậm chí, trong thực tiễn hoạt động, các NHTM cần duy trì mức độ an toàn cao hơn so với quy định tối thiểu của cơ quan chức năng. Điều này sẽ giúp các NHTM có thêm cơ hội tránh được rủi ro từ các yếu tố bất thường trong kinh doanh. Đối với tuân thủ các quy định về hoạt động kinh doanh, những vi phạm về mặt pháp luật, có khi chỉ từ một thành viên của Ban điều hành, cũng có thể ảnh hưởng nghiêm trọng đến an toàn thanh khoản của cả ngân hàng. Do đó, hoạt động giám sát và kiểm tra trong ngân hàng cần phải được thực hiện thường xuyên. Từ đó, có thể kịp thời phát hiện những sai sót và điều chỉnh.
Thứ hai, các NHTM hoạt động kinh doanh cần tránh tình trạng chạy đua lãi suất huy động, cạnh tranh không lành mạnh bằng giá. Phương pháp cạnh tranh này sẽ gây thiệt hại cho chính bản thân các NHTM nhiều nhất. Sự hỗn loạn trên thị trường huy động vốn dân cư trong các giai đoạn căng thẳng của hệ thống cũng phần nào làm cho tình trạng chung trở nên tệ hơn. Thay vào đó, các NHTM có thể cạnh tranh thông qua các chính sách phi giá như nâng cao chất lượng sản phẩm, thực hiện tăng cường quan hệ với khách hàng…
Thứ ba, thực hiện tốt quản lý khe hở thanh khoản và các vấn đề liên quan đến rủi ro lãi suất. Các NHTM cần hoàn thiện các quy định liên quan đến huy động và cho vay (nhất là huy động, cho vay trung, dài hạn) theo lãi suất thị trường; cần có cách giải quyết khoa học để không xảy ra tình trạng các khách hàng gửi tiền rút tiền trước hạn khi lãi suất thị trường tăng cao hoặc khi có các đối thủ khác đưa ra lãi suất cao, hấp dẫn khách hàng hơn. Ngoài ra, quản lý sự không cân đối về kỳ hạn giữa tài sản nợ và tài sản có của ngân hàng là nội dung quan trọng để quản lý thanh khoản được hiệu quả.
Có thể nói, dù hệ thống NHTM Việt Nam chưa gặp phải cuộc khủng khoảng thanh khoản hệ thống, tuy nhiên,  quản lý thanh khoản của các NHTM luôn cần được quan tâm và hoàn thiện để đảm bảo an toàn hoạt động và hướng tới quản trị điều hành theo thông lệ quốc tế.

1 VN Economy, Ba ngân hàng hợp nhất là “tự nguyện”, 6 tháng 12 năm 2011. http://vneconomy.vn/20111206101234647P0C6/ba-ngan-hang-hop-nhat-la-tu-nguyen.htm

TS. Đỗ Hoài Linh 
ThS. Lại Thị Thanh Loan 
Nguồn: TCNH số 21-2018
2021-10-29 / by / in
Vay vốn ngân hàng chính sách xã hội 2021

Vay vốn ngân hàng chính sách xã hội lãi suất thấp nên là một trong những sự lựa chọn mà nhiều người hiện nay lựa chọn, tuy nhiên không phải ai cũng có thể vay được. Và để mọi người hiểu hơn về ngân hàng này, các gói vay, đối tượng, cũng như lãi suất, điều kiện như thế nào thì chúng tôi chia sẻ dưới đây:

Có nên vay vốn ngân hàng chính sách xã hội

Ngân hàng chính sách xã hội hiện nay là ngân hàng Nhà nước, không phải là ngân hàng TMCP như những loại hình ngân hàng khác trên thị trường hiện nay. Mục đích hoạt động chủ yếu là vì mục đích an sinh xã hội, vậy nên có thể nói đây là ngân hàn có tính chất hoạt động cho vay đặc thù dành cho những đối tượng riêng biệt và cụ thể.

Về ưu điểm: 

  • Có từng chương trình vay riêng biệt, phục vụ nhóm đối tượng đặc biệt trong xã hội
  • Từng chương trình vay nhưng đáp ứng đầy đủ cá nhu cầu vốn:

+ Cho vay hộ nghèo

+ Cho vay xuất khẩu lao động

+ Cho vay  hộ nghèo về nhà ở theo Quyết định 167 của Thủ tướng Chính phủ

+ Cho vay hộ nghèo tại 62 huyện nghèo

+ Cho vay học sinh, sinh viên

+ Cho vay học sinh, sinh viên

+ Cho vay nhà ở vùng thường xuyên ngập lũ ĐBSCL

+ Cho vay hộ gia đình sản xuất kinh doanh vùng khó khăn

  • Lãi suất vay cực thấp
  • Thời hạn vay linh hoạt theo từng mục đích vay vốn
  • Hồ sơ, thủ tục vay vốn nhanh chóng
  • Ngân hàng uy tín, an toàn

Hạn chế

  • Là hạn chế đối với các đối tượng bình thường nhưng là ưu điểm đối với những người khó khăn, người nghèo…
  • Điều kiện vay mang tính đặc thù
  • Tuy làm hồ sơ vay nhanh nhưng thời gian giải ngân khá chậm, khó trong việc cần vốn gấp

Vậy nên nếu bạn thuộc đối tượng mà các khoản vay này nói đến thì nên vay ngân hàng chính sách xã hội bởi đối với ngân hàng TMCP hay ngân hàng nước ngoài ở Việt Nam thì chỉ cho vay với những đối tượng khách hàng tầm trung trở lên.

Nếu xét với ngân hàng Nông nghiệp và phát triển nông thôn thì 2 hình thức cho vay khác nhau, điều kiện và lãi suất vay của ngân hàng Chính sách đơn giản và dễ vay vôn hơn rất nhiều.

Đối tượng vay vốn ngân hàng chính sách

Với ngân hàng chính sách xã hội thì chỉ áp dụng cho các đối tượng đặc thì theo từng gói vay và nhắm vào các đối tượng đặc biệt:

  • Hộ nghèo
  • Hộ cần nghèo
  • Người lao động sống ở huyện nghèo
  • Người dân tộc thiểu số nghèo
  • Các đối tượng nằm trong các dự án, đề xuất hỗ trợ của chính phủ
  • Đối tượng người lao động là người thân với người có công với cách mạng
  • Các hộ kinh doanh, doanh nghiệp trong vùng nghèo với hình thức kinh doanh mảng nông nghiệp, nghề thủ công, ngư nghiệp, lâm nghiệp

Gói vay ngân hàng chính sách xã hội

Mức vay ngân hàng chính sách xã hội

Gói vay Hạn mức vay Kỳ hạn vay
Cho vay hộ nghèo 100 triệu đồng – Ngắn hạn: 12 tháng
– Trung hạn: 12 – 120 tháng
Cho vay xuất khẩu lao động 100% chi phí xuất khẩu lao động Theo thời gian làm việc tại nước ngoài
Cho vay học sinh sinh viên 1.500.000đ/tháng Thời hạn phát tiền vay + 12 tháng + thời hạn trả nợ
Cho vay hộ nghèo về nhà ở theo Quyết định 167 của Thủ tướng Chính phủ 25.000.000đ/hộ 15 năm
Cho vay hộ nghèo tại 62 huyện nghèo 10 triệu 3 năm
Cho vay giải quyết việc làm – Cá nhân: Tối đa 50 triệu
– Doanh nghiệp: Tối đa 1 tỷ
Cho vay nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn 12 triệu Tối đa 60 tháng
Cho vay nhà ở vùng thường xuyên ngập lũ ĐBSCL 20 triệu 10 năm
Cho vay hộ gia đình sản xuất kinh doanh vùng khó khăn 50 triệu đồng Ngắn hạn, trung hạn và dài hạn
Cho vay Doanh nghiệp nhỏ và vừa (KfW) 80% giá trị dự án – Ngắn hạn: 12 tháng
– Trung hạn : 12 – 60 tháng

Điều kiện vay ngân hàng chính sách xã hội

Hiện ngân hàng có 10 chương trình vay vốn khác nhau phục vụ 10 nhóm đối tượng và nhu cầu khác, vậy nên xét về điều kiện vay thì có rất nhiều, nó tùy thuộc từng chương trình

Điều kiện vay vốn hộ nghèo ngân hàng chính sách xã hội

  •  Hộ nghèo: Là những hộ được xác định theo chuẩn nghèo của Chính phủ từng thời kỳ.
  • Là tổ viên của Tổ tiết kiệm và vay vốn được tổ bình xét, lập thành danh sách đề nghị vay vốn có xác nhận của UBND xã, phường, thị trấn.
  • Hộ nghèo cư trú hợp pháp tại địa phương
  • Các thành viên trong hộ vay  từ đủ 18 tuổi trở lên, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy
    định của pháp luật phải thỏa thuận cử 01 (một) cá nhân trongsố các thành viên này đại diện theo ủy quyền để đứng tên người vay và thực hiện các giao dịch với NHCSXH nơi cho vay

Điều kiện vay vốn xây nhà ngân hàng chính sách xã hội

  • Có quyết định giao nền nhà của UNBD (cấp huyện hoặc xã do UBND cấp tỉnh quy định)
  • Có tên trong danh sách các hộ dân thuộc đối tượng vay vốn do UBND cấp tỉnh xác nhận hoặc ủy quyền cho UBND cấp huyện xác nhận.
  • Hộ vay vốn sau khi đã  hoàn tất các thủ tục, hồ sơ theo quy định, được giải ngân lần đầu tối đa bằng 60% mức vay theo quy định, phần vốn còn lại được giải ngân sau khi hộ dân xuất trình giấy xác nhận nhà ở đã hoàn thành xây dựng phần thô của UBND cấp xã

Điều kiện vay vốn sinh viên ngân hàng chính sách xã hội

  • HSSV đang sinh sống trong hộ gia đình cư trú hợp pháp tại địa phương nơi cho vay.
  • Đối với HSSV năm thứ nhất phải có giấy báo trúng tuyển hoặc giấy xác nhận được vào học của nhà trường.
  • Đối với HSSV năm thứ hai trở đi phải có Giấy xác nhận của nhà trường về việc đang theo học tại trường và không bị xử phạt hành chính trở lên về các hành vi cờ bạc, nghiện hút, trộm cắp, buôn lậu.

Điều kiện vay xuất khẩu lao động ngân hàng chính sách xã hội

Với cá nhân có nhu cầu xấu khẩu lao động thì có thể vay vốn nhanh chóng:

  • Đối tượng được vay ngân hàng chính sách: Người lao động thuộc hộ nghèo tại thời kỳ vay; người lao động dân tộc thiểu số; thuộc hộ cận nghèo; là nhân thân với người có công với cách mạng; người lao động sinh sống tại huyện nghèo; thuộc hộ gia đình có cá nhân trong danh sách bị thiệt hại do sự cố môi trường biển tại các tỉnh Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên – Huế
  • Có Hợp đồng ký kết giữa người lao động và doanh nghiệp dịch vụ, tổ chức sự nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng

Vay vốn xuất khẩu lao động ngân hàng chính sách xã hội

Điều kiện vay thế chấp ngân hàng chính sách xã hội

Với hình thức vay thế chấp là nếu bạn vay theo diện vay kinh doanh, đối với vay kinh doanh bắt buộc có tài sản thế chấp. Với các doanh nghiệp vừa và nhỏ còn đối với vay kinh doanh hộ gia đình chỉ chỉ cần đưa phương án hay dự án là được.

  • Có giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp
  • Có dự án vay vốn phù hợp với ngành nghề đăng ký kinh doanh
  •  Có tài sản bảo đảm có thể là nhà, bất động sản hoặc cơ sở sản xuất kinh doanh

Hồ sơ vay vốn ngân hàng chính sách xã hội

Với ngân hàng chính sách vay thì hồ sơ vay vốn sẽ phụ thuộc vào chương trình vay của mọi người là như thế nào, bởi mỗi chương trình vay yêu cầu hồ sơ, thủ tục khác nhau.

  • Giấy đề nghị vay vốn theo mẫu quy định của ngân hàng
  • Giấy công nhận, xác nhận hộ nghèo/ hộ cận nghèo/ dân tộc thiểu số/ người thân với người có công…
  • Các giấy tờ theo đặc thù:

+ Sinh viên: Giấy bao nhập học hoặc giấy xác nhận theo học tại trường

+ Vay kinh doanh: Xác nhận và dự án thực hiện

+ Xuất khẩu lao động: Có hợp đồng lao động ký kết và xác nhận về đơn vị/tổ chức sự nghiệp đưa người lao động đi làm việc ở nước ngoài theo hợp đồng

+ Giấy tờ tài sản đảm bảo nếu vay theo doanh nghiệp vừa và nhỏ

  • Kèm thêm các giấy tờ khác theo yêu cầu

Mẫu đơn vay vốn ngân hàng chính sách xã hội

Mọi người xem về mẫu đơn vay vốn ngân hàng chính sách xã hội hiện nay.

Đơn vay vốn ngân hàng Chính sách xã hội

Lãi suất vay ngân hàng chính sách xã hội

Gói vay Lãi suất
Cho vay hộ nghèo 0,55%/tháng
Cho vay xuất khẩu lao động 0,55%/tháng
Cho vay học sinh sinh viên 0,55%/tháng
Cho vay hộ nghèo về nhà ở theo Quyết định 167 của Thủ tướng Chính phủ 3%/năm
Cho vay hộ nghèo tại 62 huyện nghèo 50% lãi suất cho vay hộ nghèo
Cho vay giải quyết việc làm – 0,55%/tháng với người lao động thường
– 0,275%/tháng đối tượng đặc biệt
Cho vay nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn 0,75%/tháng
Cho vay nhà ở vùng thường xuyên ngập lũ ĐBSCL 0,25%/tháng
Cho vay hộ gia đình sản xuất kinh doanh vùng khó khăn 0,75%/tháng
Cho vay Doanh nghiệp nhỏ và vừa (KfW) 0,7%/tháng

Với lãi suất quá hạn là: 130% lãi suất cho vay hiện tại

Hướng dẫn vay ngân hàng chính sách xã hội

Mọi người có 2 phương án vay :

  • Vay cá nhân: Có nghĩa là đến trực tiếp ngân hàng chính sách để vay ( cái này liên hệ ngay ngân hàng chính sách ở các huyện )
  • Hoặc là vay qua tổ vay vốn ngân hàng chính sách xã hội: Đa số sẽ vay qua tổ vay vốn ngân hàng chính sách xã hội, bởi chi nhánh ngân hàng chính sách xã hội không nhiều rất ít và nằm trong khuôn khổ Ngân hàng Nhà nước.

Dưới đây là hướng dẫn mọi người vay qua tổ vay vốn ngân hàng chính sách

Tổ vay vốn ngân hàng chính sách

Tổ vay vốn là một tập hợp các hộ nghèo, hộ cận nghèo và các đối tượng chính sách khác có nhu cầu vay vốn Ngân hàng Chính sách xã hội để sản xuất, kinh doanh, tạo việc làm, cải thiện đời sống…hiện nay ở mỗi xã sẽ có 1 tổ vay vốn riêng. Ở đó tập hợp các hộ nghèo, hộ cận nghèo của xã, có 1 nhiều thành viên của tổ vay vốn sẽ làm cầu nối với ngân hàng chính sách xã hội.

Các thành viên của tổ vay vốn sẽ thông báo các chương trình vay, tư vấn vay cho người vay. Người vay chỉ cần giao dịch, làm thủ tục theo như hướng dẫn của người tư vấn sau đó bên tổ đó sẽ đưa hồ sơ lên ngân hàng chính sách.

Sau đó tổ vay vốn sẽ thông báo được duyệt hay không cũng như thời gian giải ngân, giấy tờ giải ngân cụ thể để người vay chuẩn bị.

Quy trình vay vốn ngân hàng chinh sách xã hội

Một số vấn đề cần biết khi vay vốn ngân hàng chính sách

Có nợ xấu vay vốn ngân hàng chính sách xã hội được không

Có một vấn đề nữa khi vay vốn ngân hàng chính sách xã hội đó chính là nợ xấu, nhiều người tò mò khi có nợ xấu thì vay vốn  ngân hàng được không. Thì câu trả lời cho mọi người đó chính xác là không vay được, bởi ngân hàng chính sách chỉ đáp ứng cho vay vốn theo đúng đặc thù từng chương trình vay.

Vậy nên khi có nợ xấu ngân hàng hay công ty tài chính mọi người không thể nào thực hiện vay vốn ngân hàng chính sách được.

Có một vấn đề nữa khi vay vốn ngân hàng chính sách xã hội đó chính là nợ xấu, nhiều người tò mò khi có nợ xấu thì vay vốn  ngân hàng được không. Thì câu trả lời cho mọi người đó chính xác là không vay được, bởi ngân hàng chính sách chỉ đáp ứng cho vay vốn theo đúng đặc thù từng chương trình vay.

Vậy nên khi có nợ xấu ngân hàng hay công ty tài chính mọi người không thể nào thực hiện vay vốn ngân hàng chính sách được.

Trên đây là những thông tin cơ bản nếu bạn muốn hay có nhu cầu tìm hiểu về vay vốn ngân hàng chính sách xã hội hiện nay. Lưu ý muốn vay bắt buộc phải nằm trong đối tượng mà chương trình vay hỗ trợ, còn các đối tượng khác sẽ không được vay ở đây.

Nguồn: infofinance.vn

2021-10-29 / by / in
Ngân hàng Chính sách Xã hội là kênh quan trọng thực hiện an sinh xã hội

(ĐCSVN) -Thủ tướng nêu rõ, mô hình hoạt động của Ngân hàng Chính sách Xã hội được thực tế chứng minh là phù hợp với điều kiện, cấu trúc hệ thống chính trị của nước ta, không những về hiệu quả kinh tế, khả năng tiếp cận tín dụng, sử dụng vốn mà còn có ý nghĩa chính trị xã hội rất lớn.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đến thăm, gặp mặt cán bộ,
người lao động Ngân hàng Chính sách Xã hội

Sáng 11/2, trong ngày làm việc đầu tiên sau kỳ nghỉ Tết Nguyên đán Kỷ Hợi, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã đến thăm, gặp mặt cán bộ, người lao động Ngân hàng Chính sách Xã hội, ngân hàng có sứ mệnh phục vụ người nghèo, đối tượng chính sách.

Đây cũng được xem là cuộc giao ban đầu năm của hệ thống Ngân hàng Chính sách Xã hội khi tất cả các chi nhánh trên toàn quốc đều dự, theo dõi qua truyền hình trực tuyến.

Phát biểu tại cuộc gặp mặt, gửi lời chúc mừng năm mới toàn hệ thống Ngân hàng Chính sách Xã hội, đặc biệt là các chi nhánh ở vùng xa xôi, hẻo lánh, Thủ tướng nhắc chuyến thăm cách đây 2 năm đến điểm cho vay vốn của Ngân hàng Chính sách Xã hội tại huyện Bảo Lộc (Cao Bằng).

Theo Thủ tướng, thời gian qua, Việt Nam được các tổ chức của Liên Hợp Quốc đánh giá cao về việc thực hiện an sinh xã hội, trong đó Ngân hàng Chính sách Xã hội là kênh quan trọng thực hiện nhiệm vụ này. “Các đồng chí đã làm tốt nhiệm vụ này trong thời gian qua”, Thủ tướng đánh giá. Đặc biệt, năm 2018, Ngân hàng Chính sách Xã hội đã hoàn thành toàn diện, vượt mức chỉ tiêu đề ra, trong đó, Thủ tướng nhấn mạnh con số nợ xấu ở mức rất thấp, 0,78%.

Điều ấn tượng nữa là hệ thống chính trị như Hội Phụ nữ, Hội Nông dân, Hội Cựu Chiến binh, Đoàn Thanh niên… đã vào cuộc, cùng với Ngân hàng Chính sách Xã hội huy động, cho vay, giám sát thực hiện, cho nên, đồng vốn đã đến tận tay người dân vùng sâu, vùng xa, vùng khó khăn. Ngân hàng Chính sách Xã hội trở thành cánh tay nối dài của Đảng, Nhà nước trong việc quan tâm đến người nghèo, đối tượng chính sách.

Thủ tướng nêu rõ, mô hình hoạt động của Ngân hàng Chính sách Xã hội được thực tế chứng minh là phù hợp với điều kiện, cấu trúc hệ thống chính trị của nước ta, không những về hiệu quả kinh tế, khả năng tiếp cận tín dụng, sử dụng vốn mà còn có ý nghĩa chính trị xã hội rất lớn.

“Chúng ta theo đuổi mục tiêu tăng trưởng bao trùm, không để ai bị bỏ lại phía sau. Chúng ta cần tiếp tục thực hiện quyết liệt chủ trương giảm nghèo bền vững và đặc biệt là đẩy lùi tín dụng đen”, Thủ tướng nói. Với nhiệm vụ quan trọng này, vai trò, trách nhiệm của Ngân hàng Chính sách Xã hội ngày càng lớn, cần tiếp tục củng cố, phát triển mạnh mẽ hơn.

Thủ tướng đề nghị Ngân hàng Chính sách Xã hội cần tiếp tục quản lý tốt nguồn vốn tín dụng chính sách xã hội, đáp ứng kịp thời, bảo đảm cho vay thuận lợi cho người dân, đúng đối tượng, đúng mục đích sử dụng, công khai, minh bạch. Thủ tục phải ngày càng đơn giản, thuận lợi, bên cạnh đó, cần chống thất thoát.

Các ngân hàng thương mại đang cải cách, đổi mới thì Ngân hàng Chính sách Xã hội cũng phải cải cách, đổi mới, để đồng vốn tới người dân thuận lợi hơn. Nêu ra hiện tượng tín dụng đen ở một số nơi, Thủ tướng yêu cầu Ngân hàng Chính sách Xã hội cần tham gia, góp phần giải quyết vấn đề này.

Ngân hàng Chính sách Xã hội cần phối hợp tăng cường kiểm tra, giám sát thực hiện, củng cố chất lượng hoạt động để hệ thống Ngân hàng Chính sách Xã hội đáp ứng yêu cầu thực hiện nhiệm vụ ngày càng cao trong giai đoạn phát triển mới.

Hệ thống Ngân hàng Chính sách Xã hội cả nước cần đẩy mạnh ứng dụng công nghệ, nâng cao chất lượng hoạt động, nâng cao năng suất, giảm chi phí. Cần phối hợp chặt chẽ với các cơ quan chuyên môn tư vấn, hỗ trợ kỹ thuật cho người vay vốn để nâng cao khả năng bảo toàn vốn. “Họ đã nghèo đeo lấy khổ rồi, không biết kinh doanh gì thì chúng ta vừa làm tín dụng, vừa hướng dẫn sản xuất nữa”, không để tình trạng tiền vay về cất vào ống nứa, bỏ trên gác bếp rồi sau quay lại, trả cho Ngân hàng Chính sách Xã hội, Thủ tướng phát biểu.

Thủ tướng yêu cầu các cơ quan như Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Văn phòng Chính phủ trình Thủ tướng Chính phủ giao vốn điều lệ, cấp vốn kịp thời cho Ngân hàng Chính sách Xã hội để thực hiện các chương trình chính sách xã hội hằng năm.

Đánh giá cao việc nhiều địa phương đã ủy thác vốn ngân sách sang Ngân hàng Chính sách Xã hội, Thủ tướng lưu ý còn có địa phương chưa quan tâm hỗ trợ Ngân hàng Chính sách Xã hội để thực hiện nhiệm vụ an sinh xã hội, xóa đói giảm nghèo. Do đó, chi nhánh Ngân hàng Chính sách Xã hội cần tham mưu cho cấp ủy, chính quyền cơ sở để làm sao địa phương quan tâm hơn đến vấn đề này, lãnh đạo chi nhánh Ngân hàng Chính sách Xã hội tham mưu tốt thì địa phương sẽ lắng nghe để “giải quyết nguồn lực cho các đồng chí”.

Thủ tướng yêu cầu các địa phương quan tâm đến hoạt động tín dụng chính sách, dành thêm vốn ngân sách ủy thác cho Ngân hàng Chính sách Xã hội để bổ sung nguồn vốn cho vay hộ nghèo bởi đây là việc làm cần thiết, đầu tư cho con người, cho người nghèo là quan trọng nhất.

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc gặp mặt cán bộ, công chức,
người lao động Văn phòng Chính phủ

*Trước đó, sáng cùng ngày, Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc đã có cuộc gặp mặt cán bộ, công chức, người lao động Văn phòng Chính phủ.

Thủ tướng đánh giá cao Văn phòng Chính phủ trong dịp nghỉ Tết vẫn thường xuyên báo báo cáo về tình hình trong nước và quốc tế, tham mưu Thủ tướng giải quyết các vấn đề của đất nước.

Nhắc lại những thành tựu quan trọng của đất nước năm 2018, các chỉ tiêu đều hoàn thành và vượt mức cả về số lượng và chất lượng, Thủ tướng cho biết, niềm tin xã hội và thị trường nâng lên, uy tín quốc tế của Việt Nam ngày càng cao. Thủ tướng nhấn mạnh, trong thành công đó có đóng góp quan trọng của Văn phòng Chính phủ, góp phần làm đẹp thêm “bức tranh màu sắc rực rỡ” về mọi mặt của đất nước.

Thủ tướng cũng đánh giá cao Văn phòng Chính phủ đã tham mưu cho Chính phủ xử lý hiệu quả công tác chăm lo Tết cho người dân, nhất là người nghèo, hộ gia đình chính sách, bảo đảm mọi người đều có Tết, góp phần làm nên một cái Tết sung túc, đầm ấm, vui vẻ, an lành.

Nhắc lại phương châm hành động “12 chữ” của Chính phủ trong năm 2019, Thủ tướng đề nghị mỗi cán bộ của Văn phòng đều phải thực hiện tốt chủ trương này, tạo sự bứt phá. Do đó phải làm tốt công tác kế hoạch, chuyên môn, đổi mới phong cách làm việc để nâng cao hiệu quả công tác; khắc phục các tồn tại mà Thủ tướng đã chỉ ra trong dịp tổng kết công tác của Văn phòng mới đây.

* Nhân dịp đầu Xuân năm mới, sáng nay (11/2) Thủ tướng đã trồng cây tại Khu di tích Chủ tịch Hồ Chí Minh./.

Mạnh Hùng
Nguồn: dangcongsan.vn
2021-10-29 / by / in
Giờ làm việc của ngân hàng chính sách xã hội

Ngân hàng chính sách xã hội (VBSP) được thành lập vào ngày 4/10/2002theo quyết định số 131/2002/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ trên cơ sở hoạt động phục vụ người nghèo, giúp hộ nghèo và các đối tượng chính sách có điều kiện tiếp cận nguồn vốn tín dụng ưu đãi để kinh doanh, tạo việc làm và phát triển sản xuất.  Bởi vậy đây là ngân hàng nhận được nhiều sự quan tâm của khách hàng, đặc biệt là các hộ nghèo, có hoàn cảnh khó khăn. Để giúp người dân giao dịch tốt với ngân hàng, ngay sau đây sẽ là thông tin cụ thể về giờ làm việc của ngân hàng VBSP.

ngan-hang-chinh-sach-xa-hoi

Ngân hàng chính sách xã hội

Giờ làm việc của ngân hàng Chính sách xã hội

Ngân hàng Chính sách xã hội làm việc hành chính cố định từ thứ 2 đến hết thứ 6 với khung thời gian  cụ thể như sau:

  • Buổi sáng: Từ 7h00 đến 11h30.

  • Buổi chiều: Từ 13h00 đến 17h00.

Đối với các điểm giao dịch xã: Phiên giao dịch diễn ra vào ngày cố định hàng tháng, kể cả ngày lễ hoặc ngày nghỉ cuối tuần, và chỉ thực hiện giao dịch bù vào ngày khác nếu ngày giao dịch cố định tháng đó trùng vào ngày nghỉ Tết Nguyên đán. Các ngày giao dịch cố định của từng xã được niêm yết trên website của ngân hàng Chính sách xã hội.  Thời gian giao dịch tại các điểm xã, phường cũng được quy định rõ theo từng địa phương.

Ngân hàng chính sách xã hội làm việc theo giờ hành chínhngna-hang-chinh-sach-xa-hoi-lam-viec-theo-gio-hanh-chinh

Ngân hàng chính sách xã hội làm việc theo giờ hành chính

Khi đã nắm rõ giờ làm việc của ngân hàng chính sách xã hội bạn có thể lựa chọn chi nhánh/phòng giao dịch gần nhất để thuận tiện cho việc di chuyển, đồng thời giúp bạn tiết kiệm thời gian và giao dịch hiệu quả nhất. Với những khách hàng ở Hà Nội, để tiện cho giao dịch với chi nhánh VBSP gần nhất, bạn có thể tra cứu hệ thống chi nhánh VBSP tại Hà Nội để nắm rõ hơn thông tin này.

Ngân hàng VBSP có làm việc thứ 7 không?

Nếu các ngân hàng thương mại như Vietcombank, TPBank,… mở rộng giao dịch tăng cường giờ làm việc vào sáng thứ 7 thì ngân hàng Chính sách xã hội không làm việc ngày thứ 7.

Ngân hàng VBSP chỉ hoạt động hỗ trợ khách hàng từ thứ 2 đến hết thứ 6, thứ 7, chủ nhật và các ngày lễ ngân hàng không giao dịch với khách hàng. Bởi vậy, nếu muốn giao dịch làm việc tại ngân hàng VBSP, bạn nên đến vào các ngày trong tuần và theo đúng thời gian làm việc như trên.

Nguồn: ngan-hang.vn

2021-10-29 / by / in
Ý nghĩa logo ngân hàng chính sách xã hội

Biểu tượng logo ngân hàng chính sách đã phần nào nói lên ý nghĩa tương thân tương ái, mục đích giúp người dân nghèo vượt khó, thể hiện quyết tâm cùng sát cánh với người dân của các ban lãnh đạo Việt Nam.

Ngân hàng chính sách xã hội là ngân hàng hỗ trợ cho hộ nghèo vay vốn nhằm xóa đói giảm nghèo.

Để thực hiện chiến lược nghị quyết của Đảng về xóa đói giảm nghèo, vào tháng 3 năm 1995 chính phủ đã thành lập quỹ cho vay ưu đãi hộ nghèo với số vốn ban đầu là 400 tỷ đồng, do ngân hàng nông nghiệp và phát triển nông thôn, ngân hàng ngoại thương và ngân hàng nhà nước đóng góp.

Quỹ được sử dụng với mục đích cho vay hộ nghèo thiếu vốn để sản xuất kinh doanh với lãi suất ưu đãi, mức vay 500.000 VND/hộ và người vay không phải bảo đảm tiền vay.

Chính sách xã hội góp phần giúp người dân bớt một phần khó khăn trong kinh tế. Với biểu tượng logo đặc biệt mà đơn giản chứa đựng nhiều ý nghĩa được nhắc đến.

Logo ngân hàng chính sách xã hội

Ý nghĩa logo ngân hàng chính sách xã hội

Về phần biểu tượng hình ảnh: Với biểu tượng logo búp sen của ngân hàng chính sách xã hội được tạo bởi hình ảnh cách điệu của 3 bàn tay đan nhau, tạo hình  chữ “N” là viết tắt của người nghèo và 3 khối chéo trên đỉnh, tượng trưng cho 03 miền Bắc – Trung – Nam.

Ngoài ra biểu tượng búp sen cũng là hình tượng của văn hóa Việt Nam thể hiện nền văn hóa vững bền. Biểu tượng búp sen còn được thể hiện là tượng trưng cho hình ảnh thân thiện, hiền hòa, có sức sống mãnh liệt, nỗ lực không ngừng gắn liền với đời sống của người dân Việt Nam. Hơn hết còn mang ý nghĩa đùm bọc, tương thân tương ái, từng cánh sen đùm bọc lẫn nhau thể hiện “lá lành đùm lá rách”.

Về phần chữ viết: Phía dưới hình ảnh búp sen là dòng chữ “VBSP” đây là viết tắt tên tiếng Anh của NHCSXH (Vietnam Bank For Social Policies). Dòng chữ như đài hoa sen tạo một bệ đỡ vững chắc thể hiện tinh thần vì người nghèo và cam kết chung tay cùng người dân vượt khó.

Về màu sắc: Với màu chủ đạo là màu hồng là màu thuần của hoa sen truyền thống cũng mang một ý nghĩa hướng đến cuộc sống nhân dân sẽ được khởi sắc hồng hào, cùng sự quyết tâm xóa đói giảm nghèo sát cánh với người dân nghèo của các cán bộ lãnh đạo.

Hình tượng logo ngân hàng chính sách đã phần nào nói lên được tinh thần quyết tâm, đồng lòng xóa đói giảm nghèo, đùm bọc sát cánh cùng người dân của các cán bộ lãnh đạo Việt Nam.

Nguồn: thebank.vn

2021-10-29 / by / in
Việt nam có bao nhiêu ngân hàng

Việt nam có bao nhiêu ngân hàng?

Việt Nam có bao nhiêu ngân hàng là câu hỏi rất quen thuộc nhưng không phải ai cũng có thể giải thích được. Tính đến thời điểm hiện nay, Việt Nam có khoảng 100 ngân hàng đang hoạt động – một con số khá lớn!

Các loại ngân hàng tại Việt Nam?

Việt Nam hiện có 5 ngân hàng chính hoạt động:
1. Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
2. Ngân hàng thương mại cổ phần
3. Ngân hàng liên doanh
4. Chi nhánh ngân hàng nước ngoài tại Việt Nam
5. Ngân hàng 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam.
Danh sách các ngân hàng các loại tại Việt Nam
Ngân hàng Nhà nước Việt Nam
1. Ngân hàng ngọai thương Việt Nam (VietcomBank)
2. Ngân hàng Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV)
3. Ngân hàng Chính sách xã hội (VBSP)
4. Ngân hàng Công thương Việt Nam (Vietinbank)
5. Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn VN-AGribank
6. Ngân hàng Phát triển Nhà Đồng bằng sông Cửu long (MHB)
7. Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB)

Các ngân hàng thương mại cổ phần ở Việt Nam

1. Ngan hang TMCP Ban Viet
2. Ngan hang TMCP Dai A
3. Ngan hang TMCP Phat trien MeKong
4. Ngan hang TMCP Quoc Dan (Nam Viet cu)
5. Ngan hang TMCP Viet A
6. Ngan hang TMCP Viet Nam Thuong Tin
7. Ngan hang TMCP Xay dung VN(Dai Tin)
8. NH BAO VIET (Bao Viet Bank)
9. NH Tien Phong (Tien Phong Bank)
10. NH TMCP BUU DIEN LIEN VIET
11. NHTMCP A Chau (ACB)
12. NHTMCP An Binh (ABBank)
13. NHTMCP Bac A (Bac A bank)
14. NHTMCP Dai Duong (Oceanbank)
15. NHTMCP Dau khi Toan cau (GPBank)
16. NHTMCP Dong A (Dong A bank)
17. NHTMCP Dong Nam A (Seabank)
18. NHTMCP Hang Hai (Maritime Bank)
19. NHTMCP Kien Long (Kien Long bank)
20. NHTMCP Ky thuong VN (Techcombank)
21. NHTMCP Nam A (Nam A Bank)
22. NHTMCP phat trien Tp HCM (HD Bank)
23. NHTMCP Phuong Dong (OCB)
24. NHTMCP Phuong Nam (Southern Bank)
25. NHTMCP Quan Doi (MB)
26. NHTMCP Quoc Te (VIB)
27. NHTMCP Sai Gon (SCB)
28. NHTMCP Sai gon – Ha Noi (SHB)
29. NHTMCP Sai gon Thuong Tin (Sacombank)
30. NHTMCP SG Cong Thuong (SaigonBank)
31. NHTMCP Viet Hoa (Viet hoa JS bank)
32. NHTMCP VN Thinh Vuong(VP Bank)
33. NHTMCP Xang dau Petrolimex (PGBank)
34. NHTMCP Xuat Nhap Khau (Eximbank)
35. PV com bank_NH Dai Chung (P.Tay+TCDK)
Các ngân hàng liên doanh
1. IN DOVINA BANK
2. NH lien doanh Viet Nga
3. NH lien doanh Viet Thai
4. VID PUBLIC BANK

Chi nhánh các ngân hàng nước ngoài ở Việt Nam

1. ABN-AMRO BANK
2. ANZ BANK
3. BANGKOK BANK
4. BANK OF CHINA
5. Bank of Communications
6. BANKO OF TOKYO-MITSUBISHI UFJ,LTD CN HCM
7. BANKO OF TOKYO-MITSUBISHI UFJ,LTD CN HN
8. BNP- PARIBAS
9. CITI BANK HCM
10. CITI BANK HN
11. Credit Agricole CIB
12. DEUTSCHE BANK
13. FIRST COMMERCIAL BANK HCM
14. HONGKONG AND SHANGHAI BANK (HSBC)
15. HUANAN COMMERECIAL BANK LTD chi nhanh SG
16. Industrial Bank of korea
17. JP MORGAN CHASE BANK
18. KOREA EXCHANGE BANK
19. MAY BANK
20. MEGA INTERNATIONAL COMMERCIAL Co.LTD
21. Mizuho Corporate Bank Ltd., Hanoi Branch
22. MIZUHO CORPORATE BANK, LTD chi nhanh HCM
23. NATEXIS BANQUES – POPULAIRES SUCCURSALE
24. NGAN HANG FIRST COMMERCIAL BANK HANOI
25. Ngan hang WOORI – Chi nhanh Tp HCM
26. NH MALAYAN BANKING BERHAD
27. NH CATHAY
28. NH China Construction Bank Corporation
29. NH Commonwealth Bank of Australia
30. NH Cong nghiep Han Quoc
31. NH DBS Bank Ltd CN HCM
32. NH DTPT Campuchia Ha Noi
33. NH DTPT Campuchia – HCM
34. NH FAR EAST NATIONAL BANK
35. NH Industrial & Commercial Bank of China
36. NH Kookmin thanh pho Ho Chi Minh
37. NH Taipei FubonC.B
38. NH TM Taipei Fubon
39. NH TNHH CTBC ( NHTM Chinatrust)
40. NH TNHH MTV Shinhan VN
41. NHTM Taipei Fubon
42. NHTNHH MTV Hong Leong VN
43. OVERSEA – CHINESE BANKING COPORATION Ltd
44. STANDARD CHARTERED BANK
45. SUMITOMO MITSUI BANKING CORPORATION
46. The Shanghai Com&Savings Bank
47. UNITED OVERSEAS BANK (UOB)
48. WOORI BANK HA NOI

ngan hang 3

Ảnh minh họa: Nhân viên ngân hàng đang làm việc

Như vậy, trong mạng lưới hệ thống ngân hàng Việt Nam có 43 Ngân hàng Thương mại nội địa, trong đó có 4 ngân hàng thuộc 100% vốn sở hữu của Nhà nước, VCB và Viettinbank do Nhà nước chiếm đ số, 5 ngân hàng 100% vốn nước ngoài, 5 ngân hàng liên doanh và 47 chi nhánh ngân hàng nước ngoài.
Riêng các ngân hàng thương mại do nhà nước chủ quản có lịch sử hoạt động lâu đời nên hệ thống mạng lưới được trải dài trên khắp 63 tỉnh thành trên cả nước. Ngân hàng Nông nghiệp & Phát triển Nông thôn VN-AGribank có mạng lưới rộng khắp 63 tỉnh thành phố, cụ thể là 73 chi nhánh loại 1, 85 Chi nhánh loại 2, 776 Chi nhánh loại 3 và 1.350 phòng giao dịch với 37.557 cán bộ.
Ngân hàng Công thương Việt Nam (Vietinbank) có 151 chi nhánh, 837 phòng giao dịch và các đơn vị, công ty độc lập, có quan hệ đại lý với 850 ngân hàng quốc tế.
Ngân hàng nước ngoài và ngân hàng liên doanh chủ yếu tập trung tại các thành phố trực thuộc Trung ương, nhất là Hà Nội và TP.HCM với 276 ngân hành và chi nhánh ngân hàng thương mại hoạt động.

Với những chia sẻ trên đây, quý bạn đọc đã phần nào giải đáp được thắc mắc Việt nam có bao nhiêu ngân hàng rồi đúng không nào. Nhìn chung, theo số liệu tổng hợp được, Việt Nam hiện có khoảng 100 ngân hàng đang hoạt động dưới sự chủ quản của Nhà nước, cổ phần, vốn đầu tư nước ngoài, liên doanh.

Bình An

Nguồn: utchtmc.org

 

 

 

 

 

 

2021-10-29 / by / in
Điểm mặt những ngân hàng nước ngoài lớn nhất tại Việt Nam

Cùng sự phát triển và hội nhập quốc tế như ngày nay, nhu cầu về sử dụng tín dụng ngân hàng ngày càng được đánh giá cao. Vì vậy, việc hợp tác cùng xây dựng và phát triển với nước ngoài là một điều tất yếu. Thường thì những ngân hàng này đều có uy tín trên thế giới, công nghệ bảo mật cao và thái độ làm việc chuyên nghiệp của nhân viên trong ngành.

1. HSBC
HSBC (Hongkong – Shanghai Bank Vietnam Limited) được biết đến là một trong những tổ chức dịch vụ tài chính và ngân hàng lớn nhất thế giới. Mạng lưới ngân hàng này có mặt ở 72 quốc gia và vùng lãnh thổ tại nhiều nơi như: Châu Âu, châu Á Trung Đông, Bắc Phi, Bắc Mỹ và châu Mỹ La-tinh.

Tháng 1/2009, HSBC là ngân hàng nước ngoài đầu tiên với 100% vốn nước ngoài, tên gọi Ngân hàng TNHH một thành viên HSBC (Việt Nam) với hai chi nhánh, năm phòng giao dịch tại TP. Hồ Chí Minh; một chi nhánh, ba phòng giao dịch, một quỹ tiết kiệm tại Hà Nội và ba chi nhánh tại Bình Dương, Cần Thơ, Đà Nẵng.

 

Trụ sở HSBC tại TP. Hồ Chí Minh (Nguồn: Zing News)

2. ANZ Việt Nam (ANZ Bank)

Năm 2008, Ngân hàng ANZ (Australia and New Zealand Banking Group Limited) được cấp giấy phép thành lập ngân hàng thương mại có 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam. Với mạng lưới ngân hàng gồm 8 chi nhánh và phòng giao dịch, 1 quỹ tiết kiệm tại hai thành phố Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh cùng 2 văn phòng đại diện tại Cần Thơ và Bình Dương.

Vào năm 2013, ANZ vinh dự nhận được giải thưởng “Ngân Hàng Bán Lẻ Tốt Nhất Việt Nam” do Tạp chí The Asian Banker trao tặng.

Logo của Ngân hàng ANZ (Nguồn: Ngân hàng điện tử)

3. Standard Chartered

Standard Chartered Việt Nam thuộc 100% vốn của Standard Chartered Anh quốc, chính thức thành lập ngày 1/8/2009. Hiện tại, Ngân hàng Standard Chartered có ba chi nhánh (2 tại Hà Nội và 1 ở TP. Hồ Chí Minh), trụ sở chính được đặt ở Hà Nội. Chủ yếu cung cấp các sản phẩm và dịch vụ của ngân hàng thương mại và bán lẻ cho khách hàng là các doanh nghiệp, các định chế tài chính, doanh nghiệp vừa, nhỏ và khách hàng cá nhân.

Standard Chartered triển khai dịch vụ ví điện tử trên di động với Mservice (Nguồn: Dân trí)

4. Shinhan Vietnam

Shinhan là một tập đoàn tài chính tiên phong về việc nắm giữ tài chính tại Hàn Quốc, được thành lập trên nền tảng của Ngân hàng Shinhan, Quỹ đầu tư Shinhan và Công ty Quản lý đầu tư Shinhan. Năm 1993, Ngân hàng này mở chi nhánh đầu tiên tại Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh, và trở thành một trong những người tiên phong trong việc đẩy mạnh mối quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Hàn Quốc.

Hiện tại, mạng lưới hoạt động của ngân hàng Shinhan Việt Nam bao gồm 1 trụ sở chính, 18 chi nhánh và phòng giao dịch tại TP.Hồ Chí Minh, Hà Nội, Bình Dương, Đồng Nai, Thái Nguyên, Hải Phòng và Bắc Ninh.

Ngân hàng Shinhan tại Việt Nam (Nguồn: Crystal)

5. Citibank Vietnam

Citibank phát triển mạnh mẽ tại những thị trường tài chính lớn của thế giới, và trải dài từ Trung Quốc, Malaysia, Hàn Quốc và Ấn Độ ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương, Ba Lan và Nga ở châu Âu, tới Mexico, Brazil, Colombia, Argentina và Panama ở Mỹ Latinh.

Vào năm 1993, Citibank chính thức hoạt động tại thị trường Việt Nam, và được đặt chi nhánh tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh tạo nên một mạng lưới phân bổ rộng khắp đến 64 tỉnh thành tại Việt Nam. Ngân hàng này đã khẳng định vai trò của mình trong sự phát triển thị trường tài chính của nước ta, đưa ra các sản phẩm mang tính sáng tạo đáp ứng nhu cầu đa dạng của mọi khách hàng trong nước lẫn nước ngoài đầu tư vào Việt Nam.

Citibank và VietNam Airline hợp tác cùng nhau (Nguồn: An ninh Thủ đô)

Trên đây là top 5 ngân hàng nước ngoài lớn nhất Tại Việt Nam có vốn đầu tư 100% nước ngoài tại Việt Nam. Nhìn chung đây là những ngân hàng lớn và nổi tiếng với mạng lưới phân bổ trên khắp thế giới và luôn được khách hàng tin dùng, trong đó có khách hàng Việt Nam.

Nguồn: Edu2Review 

2021-10-28 / by / in
Ngân hàng chính sách xã hội là gì ? Mức lãi suất của ngân hàng chính sách xã hội

Ngân hàng chính sách xã hội đã được hình thành từ năm 2002, nhưng mục đích hoạt động và mức lãi suất không phải ai cũng hiểu rõ. Thông qua bài viết này Công ty Luật Minh Khuê hi vọng sẽ cung cấp thêm kiến thức cho quý bạn đọc.

1. Khái niệm ngân hàng chính sách ?

Ngân hàng chính sách trước đây được gọi là Ngân hàng Phục vụ người nghèo, đặt trong Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, được thành lập theo Quyết định số 525/QĐ-TTg ngày 31/8/1995 của Thủ tướng Chính phủ; là tổ chức tín dụng thuộc sở hữu nhà nước, hoạt động trong phạm vi cả nước, có tư cách pháp nhân, có vốn điều lệ, có tài sản, có bảng cân đối, có con dấu; trụ sở chính đặt tại Hà Nội. Vốn điều lệ ban đầu là 5 ngàn tỉ đồng, được cấp bổ sung phù hợp với yêu cầu hoạt động từng thời kì.

Ngân hàng Phục vụ người nghèo có chức năng khai thác các nguồn vốn của các tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước, tiếp nhận các nguồn vốn tín dụng của Nhà nước đối với người nghèo và các nguồn vốn khác được Nhà nước cho phép để lập quỹ cho người nghèo vay, thực hiện chương trình của Chính phủ đối với người nghèo. Hoạt động của Ngân hàng Phục vụ người nghèo vì mục tiêu xóa đói, giảm nghèo, không vì mục đích lợi nhuận, thực hiện bảo toàn vốn ban đầu, phát triển vốn, bù đắp chi phí. Ngân hàng Phục vụ người nghèo thực hiện cho vay trực tiếp đối với hộ nghèo có sức lao động nhưng thiếu vốn, được vay vốn để phát triển sản xuất, không phải thế chấp tài sản, có hoàn trả vốn vay và theo lãi suất quy định.

Ngân hàng phục vụ người nghèo được xét miễn giảm thuế doanh thu (thuế giá trị gia tăng) và thuế lợi tức (thuế thu nhập doanh nghiệp), để giảm lãi suất cho vay đối với người nghèo. Các rủi ro bất khả kháng trong quá trình hoạt động của Ngân hàng phục vụ người nghèo được bù đắp bằng quỹ bù đắp rủi ro theo quy chế tài chính của Bộ Tài chính.

Tại Nghị quyết số 05-NQ/HNTW, ngày 10/6/1993 Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII, về việc tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế – xã hội nông thôn, Đảng ta chủ trương có chế độ tín dụng ưu đãi đối với hộ nghèo, hộ chính sách, vùng nghèo, vùng dân tộc thiểu số, vùng cao, vùng căn cứ cách mạng; mở rộng hình thức cho vay thông qua tín chấp đối với các hộ nghèo…

Để thực hiện có hiệu quả Nghị quyết của Đảng và Chiến lược quốc gia về xóa đói giảm nghèo, tháng 3 năm 1995, Chính phủ đã thành lập Quỹ cho vay ưu đãi hộ nghèo với số vốn ban đầu là 400 tỷ đồng, do Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ngân hàng Ngoại thương và Ngân hàng Nhà nước đóng góp. Quỹ được sử dụng cho vay hộ nghèo thiếu vốn sản xuất kinh doanh với lãi suất ưu đãi, mức cho vay 500.000 đồng/hộ, người vay không phải bảo đảm tiền vay.Ngày 31/8/1995, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 525/QĐ-TTg về việc thành lập Ngân hàng Phục vụ người nghèo, đặt trong Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (NHNo&PTNT Việt Nam), hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, để cung cấp nguồn vốn ưu đãi cho hộ nghèo thiếu vốn sản xuất.Với mô hình tổ chức được triển khai đồng bộ từ Trung ương đến địa phương trên cơ sở tận dụng bộ máy và màng lưới sẵn có của NHNo&PTNT Việt Nam, Ngân hàng Phục vụ người nghèo đã thiết lập được kênh tín dụng riêng để hỗ trợ tài chính cho các hộ nghèo ở Việt Nam với các chính sách tín dụng hợp lý, giúp hộ nghèo có vốn sản xuất, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập, từng bước làm quen với nền sản xuất hàng hoá và có điều kiện thoát khỏi đói nghèo.

Tuy nhiên, từ bộ phận quản trị đến bộ phận điều hành của Ngân hàng Phục vụ người nghèo đều làm việc theo chế độ kiêm nhiệm nên rất ít thời gian để nghiên cứu những vấn đề thực tiễn, hạn chế công việc nghiên cứu đề xuất chính sách, cơ chế quản lý điều hành. Mọi hoạt động về nghiên cứu, đề xuất cơ chế chính sách đều giao cho ban điều hành nghiên cứu soạn thảo trong khi ban điều hành đang thuộc NHNo&PTNT Việt Nam. Như vậy, không tách được chức năng hoạch định chính sách và điều hành theo chính sách.Hơn nữa, bên cạnh Ngân hàng Phục vụ người nghèo, nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước hỗ trợ người nghèo và các đối tượng chính sách khác còn được giao cho nhiều cơ quan Nhà nước, hội đoàn thể và Ngân hàng thương mại Nhà nước cùng thực hiện theo các kênh khác nhau, làm cho nguồn lực của Nhà nước bị phân tán, chồng chéo, trùng lắp, thậm chí cản trở lẫn nhau. Bên cạnh nguồn vốn cho vay hộ nghèo được Ngân hàng Phục vụ người nghèo và NHNo&PTNT Việt Nam thực hiện thì thực tế còn có: nguồn vốn cho vay giải quyết việc làm do Kho bạc Nhà nước quản lý và cho vay; nguồn vốn cho vay đối với học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn do Ngân hàng Công thương thực hiện; nguồn vốn cho vay ưu đãi các tổ chức kinh tế và hộ sản xuất, kinh doanh thuộc hải đảo, thuộc khu vực II, III miền núi, các xã đặc biệt khó khăn thuộc Chương trình 135 của Chính phủ…Việc hình thành các nguồn vốn cho vay chính sách nằm rải rác ở nhiều tổ chức tài chính với cơ chế quản lý khác nhau đã gây nhiều trở ngại cho quá trình kiểm soát của Nhà nước, không tách bạch được tín dụng chính sách với tín dụng thương mại. Để triển khai Luật các tổ chức tín dụng trong việc thực hiện chính sách tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách; các nghị quyết của Đại hội Đảng IX, nghị quyết kỳ họp thứ 6 Quốc hội khoá X về việc sớm hoàn thiện tổ chức và hoạt động của NHCSXH, tách tín dụng ưu đãi ra khỏi tín dụng thương mại; đồng thời thực hiện cam kết với Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ tiền tệ thế giới (IMF) về việc thành lập Ngân hàng Chính sách; ngày 04/10/2002, Chính phủ ban hành Nghị định số 78/2002/NĐ-CP về tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 131/2002/QĐ-TTg về việc thành lập NHCSXH trên cơ sở tổ chức lại Ngân hàng Phục vụ người nghèo, tách khỏi NHNo&PTNT Việt Nam.

 

2. Hệ thống ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam

Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam có hệ thống giao dịch từ trung ương đến địa phương. Cơ cấu tổ chức gồm: trụ sở chính đặt tại Hà Nội, chỉ nhánh đặt tại các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Hội đồng quản trị gồm có 12 thành viên, trong đó có 9 thành viên kiêm nhiệm, do Thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam làm Chủ tịch; 3 thành viên chuyên trách giữ chức Phó Chủ tịch thường trực, Tổng Giám đốc, Trưởng ban kiểm soát.

Hoạt động của Ngân hàng chính sách xã hội không vì mục đích lợi nhuận, được Nhà nước bảo đảm khả năng thanh toán, tỈ lệ dự trữ bắt buộc bằng 0% (không phần trăm), không phải tham gia bảo hiểm tiền gửi, được miễn thuế và các khoản phải nộp ngân sách nhà nước.

 

3. Các đối tượng được vay vốn của ngân hàng chính sách

– Cho vay hộ nghèo.

– Cho vay hộ cận nghèo.

– Cho vay hộ mới thoát nghèo.

– Cho vay học sinh, sinh viên.

– Cho vay đối tượng chính sách đi lao động nước ngoài.

– Cho vay nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn.

– Cho vay sản xuất kinh doanh vùng khó khăn.

– Cho vay thương nhân vùng khó khăn.

– Cho vay mua nhà trả chậm đồng bằng sông Cửu Long và Tây Nguyên.

– Cho vay hộ nghèo làm nhà ở.

– Cho vay hộ nghèo làm nhà ở tránh lũ.

– Cho vay hộ gia đình có người HIV, sau cai nghiện.

– Cho vay hỗ trợ đất sản xuất, chuyển đổi ngành nghề.

– Cho vay hỗ trợ trồng rừng, phát triển chăn nuôi.

– Cho vay hộ dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn.

– Cho vay hộ hộ dân tộc thiểu số vùng đồng bằng sống Cửu Long.

– Cho vay hỗ trợ đất sản xuất, chuyển đổi ngành nghề.

– Cho vay xuất khẩu lao động tại huyện nghèo.

– Các chương trình dự án vốn nước ngoài.

4. Mẫu đơn đề nghị vay vốn của ngân hàng chính sách

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
———————–

 

GIẤY ĐỀ NGHỊ VAY VỐN KIÊM PHƯƠNG ÁN SỬ DỤNG VỐN VAY

Kính gửi: Ngân hàng Chính sách xã hội ………………..

1. Họ tên người vay: ………………………………….. Năm sinh: …………………………..

– Số CMND:………………………, ngày cấp: …./…./….., nơi cấp: ………………………..

– Địa chỉ cư trú: thôn ………………………….; xã …………………. Huyện ……………….

– Là thành viên Tổ TK&VV do ông (bà) …………………….. làm tổ trưởng.

– Thuộc tổ chức Hội: ………………………………………………… quản lý.

2. Họ tên người thừa kế: ………………………………… Năm sinh …….. Quan hệ với người vay.

Chúng tôi đề nghị NHCSXH cho vay số tiền: ………………….. đồng

(Bằng chữ ……………………………………………………………………………………………)

Để thực hiện phương án: ……………………………………………………………………….

Tổng nhu cầu vốn:………………………………………………….đồng. Trong đó:

 

+ Vốn tự có tham gia:……………………………………..đồng.

+ Vốn vay NHCSXH:…………………………………….đồng để dùng vào việc:

Đối tượng

………………………………….

………………………………….

………………………………….

Số lượng

…………………………….

…………………………….

…………………………….

Thành tiền

………………………………….

………………………………….

………………………………….

– Thời hạn xin vay: ……… tháng; Kỳ hạn trả nợ: …….. tháng/lần.

– Số tiền trả nợ: ……………đồng/lần. Hạn trả nợ cuối cùng: Ngày…./…../……

– Lãi suất cho vay: …………..%/tháng, lãi suất nợ quá hạn:……………..% lãi suất khi cho vay.

Lãi tiền vay được trả định kỳ hàng tháng, vào ngày ………………………………………

Chúng tôi cam kết: sử dụng vốn vay đúng mục đích, trả nợ gốc và lãi đầy đủ, đúng hạn. Nếu sai trái, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật.

……, ngày…tháng…năm….
Tổ trưởng

Tổ TK&VV

(Ký, ghi rõ họ tên)

Người thừa kế

(Ký, ghi rõ họ tên)

Người vay

(Ký, ghi rõ họ tên hoặc điểm chỉ)

PHÊ DUYỆT CỦA NGÂN HÀNG

1. Số tiền cho vay: ……………. đồng (Bằng chữ: ……………………………………………..)

2. Lãi suất: ……… %/tháng. Lãi suất nợ quá hạn: ………… % lãi suất khi cho vay.

3. Thời hạn cho vay: …….. tháng. Hạn trả nợ cuối cùng: Ngày…../……/………

………., ngày…tháng…năm….
Cán bộ tín dụng

(Ký, ghi rõ họ tên)

Trưởng phòng

(Tổ trưởng) TD

(Ký, ghi rõ họ tên)

Giám đốc

(Ký tên, đóng dấu)

 

5. Lãi suất vay vốn tại ngân hàng chính sách ?

5.1 Lãi suất cho vay đối với người nghèo

Hiện nay, lãi suất cho vay đối với các đối tượng người nghèo rất ưu đãi. Nhằm giúp các hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo hay HSSV khó khăn có điều kiện cải thiện cuộc sống, vươn lên thoát nghèo, học tập tốt góp phần thực hiện các chính sách của Đảng và Nhà nước về xóa đói, giảm nghèo, tăng nhận thức, đảm bảo an sinh xã hội…

Đối tượng cho vay Lãi suất cho vay
Hộ nghèo 6,6%/Năm
Hộ nghèo tại 64 huyện nghèo theo Nghị quyết 30a năm 2008 của Chính Phủ 3,3%/Năm
Hộ cận nghèo 7,92%/Năm
Hộ mới thoát nghèo 8,25%/Năm
HSSV có hoàn cảnh khó khăn 6,6%/Năm

 

5.2 Lãi suất vay dành cho các đối tượng hoàn cảnh khác

Bên cạnh những ưu đãi dành cho đối tượng người nghèo thì Ngân hàng Chính sách xã hội cũng đáp ứng được khả năng của các đối tượng muốn vay để giải quyết việc làm và đi lao động có thời hạn nước ngoài bằng mức lãi suất thấp. Cụ thể như sau:

Đối tượng cho vay Lãi suất cho vay
Các đối tượng cần vay vốn để giải quyết việc làm:
Người lao động là người dân tộc thiểu số đang sinh sống tại vùng có điều kiện KT – XH đặc biệt khó khăn, người khuyết tật. 3,3%/năm
Hộ gia đình vay vốn cho người lao động mà người lao động là người dân tộc thiểu số đang sinh sống tại vùng có điều kiện KT – XH đặc biệt khó khăn, người khuyết tật. 3,3%/năm
Cơ sở sản xuất kinh doanh sử dụng từ 30% tổng số lao động trở lên là người khuyết tật. 3,3%/năm
Cơ sở sản xuất kinh doanh sử dụng 30% tổng số lao động trở lên là người dân tộc thiểu số. 3,3%/năm
Cơ sở sản xuất kinh doanh sử dụng 30% tổng số lao động trở lên là người khuyết tật và người dân tộc thiểu số. 3,3%/năm
Các đối tượng khác 6,6%/năm
Các đối tượng đi lao động có thời hạn ở nước ngoài:
Người lao động là hộ nghèo và người dân tộc thiểu số thuộc 64 huyện nghèo theo Nghị quyết 30a năm 2008 của Chính Phủ. 3,3%/năm
Các đối tượng còn lại thuộc 64 huyện nghèo theo Nghị quyết 30a năm 2008 của Chính Phủ. 6,6%/năm
Cho vay xuất khẩu lao động 6,6%/năm

Nguồn: Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)

2021-10-28 / by / in