Thêm kết quả...

Ký hiệu – biểu tượng cảnh báo hóa chất nguy hiểm

Trong bài viết này chúng tôi sẽ giới thiệu một số biển cảnh báo hóa chất nguy hiểm, cũng như ý nghĩa của biển cảnh báo hóa chất nguy hiểm. Ký hiệu an toàn trên nhãn hóa chất sẽ giúp khách hàng cẩn thận hơn trong việc xử lý và sử dụng. Ngoài ra, còn giúp cho bạn chú ý đến việc lưu trữ, bảo quản và vận chuyển các hóa chất nguy hiểm và độc hại. Sau đây là một số thông tin về cảnh báo hóa chất nguy hiểm và ký hiệu an toàn trên nhãn hóa chất, hãy cùng lưu lại ngay sau đây nhé bạn.

I/ Ký hiệu và biểu tượng cảnh báo nguy hiểm trong sản xuất sử dụng hóa chất

Từ thủ tục nhập khẩu, kinh doanh, buôn bán, sử dụng, vận chuyển hóa chất công nghiệp và các khâu khác, quản lý rất chặt chẽ các loại hóa chất nói chung và đặc biệt là hóa chất nguy hiểm. Hôm nay, chúng tôi sẽ chia sẻ đến bạn đọc những thông tin hữu ích về cách nhận biết các chất hóa học nguy hiểm thông qua các ký hiệu cảnh báo hóa chất nguy hiểm.

Ký hiệu và biểu tượng cảnh báo nguy hiểm

Bảng dữ liệu an toàn hóa chất

Bảng Dữ liệu An toàn hóa chất là một định dạng tài liệu chứa thông tin về đặc tính của các từng hóa chất cụ thể. Nó được thiết kế để cảnh báo những người tiếp xúc hoặc sử dụng hóa chất một cách an toàn. Hoặc có biện pháp điều trị thích hợp khi nó bị ảnh hưởng (dù là ngắn hạn hay dài hạn).

Biển cảnh báo trong sản xuất

Các biển cảnh báo trong sản xuất có thể giúp người lao động tăng cường nhận thức về bản chất công việc họ đang làm. Điều này giúp họ đảm bảo rằng họ tuân thủ đúng các yêu cầu bảo vệ sức khỏe của họ.

Ví dụ như các biển cảnh báo kẹt xe, không cháy, cảnh báo chập điện, …

Biển cảnh báo an toàn hóa chất

Mục đích của biển cảnh báo an toàn hóa chất: dùng để cảnh báo cho người lao động biết các hóa chất nguy hiểm trong bồn (thùng) chứa. Khi sử dụng các loại hóa chất này gần khu vực bảo quản phải hết sức cẩn thận, tránh gây cháy.

Vị trí đặt biển báo: Đặt trên bồn chứa (bể chứa) hoặc trên lối đi vào nơi chứa đồ, nơi dễ thấy nhất.

Biển cảnh báo hóa chất nguy hiểm

Biển cảnh báo hóa chất nguy hiểm, cảnh báo chú ý các chất hóa học nguy hiểm. Chúng thường được lắp đặt trong các nhà máy, xí nghiệp, công trình xây dựng, cao ốc văn phòng, khách sạn … Giúp nhân viên giảm thiểu rủi ro trong công việc và tai nạn.

II/ Ký hiệu và biểu tượng cảnh báo nguy hiểm hóa chất độc hại trong ngành cơ khí

biểu tượng cảnh báo nguy hiểm hóa chất độc hại trong ngành cơ khí

Biểu tượng cảnh báo nguy hiểm trong vật lý

Bảng hiệu GHS01 Tên: Chất nổ

Thường sử dụng cho:

– Thuốc nổ không ổn định.

– Thuốc nổ thuộc nhóm 1.1, 1.2, 1.3 và 1.4.

– Các chất và hỗn hợp tự phản ứng, loại A, B.

– A, B peroxit hữu cơ.

Tên biển báo hiệu GHS02: Dễ cháy

Thường sử dụng cho:

– Khí dễ cháy, loại 1.

– Bình xịt dễ cháy, loại 1, 2.

– Chất lỏng dễ cháy thuộc loại 1, 2, 3 và 4.

– Chất rắn dễ cháy thuộc Nhóm 1 và 2.

– Các chất và hỗn hợp tự phản ứng, loại B, C, D, E, F.

– Chất lỏng dễ cháy thuộc vào loại 1.

– Chất rắn pyrophoric thuộc vào loại 1.

– Chất rắn dễ cháy thuộc vào loại 3.

– Chất lỏng dễ cháy thuộc vào loại 3.

– Chất tự gia nhiệt và hỗn hợp, loại 1, 2.

– Các chất và hỗn hợp phản ứng với nước tạo ra khí dễ cháy, loại 1, 2, 3.

– Các peroxit hữu cơ thuộc nhóm B, C, D, E và F.

Tên bảng hiệu GHS03: chất oxy hóa

Thường sử dụng cho:

– Khí oxy hóa, loại 1.

– Chất lỏng oxy hóa thuộc loại 1, 2 và 3.

– Chất rắn oxy hóa thuộc loại 1, 2 và 3.

Tên biển báo hiệu GHS04: khí nén

Thường sử dụng cho:

– Khí nén.

– Khí hóa lỏng.

– Khí lỏng lạnh.

– Khí hòa tan.

Kí hiệu tên GHS05: dùng cho các chất ăn mòn kim loại 1

Nếu biển báo không yêu cầu ký hiệu, hãy sử dụng chúng để:

– Thuốc nổ thuộc nhóm 1.5 và 1.6.

– Khí dễ cháy thuộc loại 2.

– Chất tự phản ứng và hỗn hợp G.

– Loại G peroxit hữu cơ.

Ký hiệu, biểu tượng cảnh báo hóa chất độc hại đến sức khỏe và thể chất

biểu tượng cảnh báo hóa chất độc hại đến sức khỏe và thể chất

Kí hiệu tên GHS06: Chất độc, dùng để ngộ độc cấp tính (tác dụng qua đường miệng, da, hô hấp), loại 1, 2, 3.

Tên bảng hiệu GHS07: Có hại, thường được dùng cho:

– Độc cấp tính (miệng, da, đường hô hấp) thuộc loại 4.

– Kích ứng da loại 2 và 3

– Kích ứng mắt thuộc loại 2A.

– Dị ứng da loại 1

– Độc tính cơ quan cụ thể sau khi tiếp xúc một lần, loại 3.

– Kích ứng đường hô hấp.

– Tác dụng của thuốc.

Nếu cũng quan sát thấy các dấu hiệu ăn mòn và nguy hiểm cho sức khỏe hoặc dị ứng đường hô hấp, vui lòng không sử dụng biểu tượng “đầu lâu xương chéo” hoặc biểu thị kích ứng da hoặc mắt.

Dấu tên GHS08: Nguy hiểm cho sức khỏe, thường được dùng cho:

– Nhạy cảm với đường hô hấp, loại 1.

– Thể đột biến ty thể, loại 1A, 1B, 2.

– Khả năng gây ung thư, loại 1A, 1B, 2.

– Độc tính sinh sản, gồm loại 1A, 1B, 2.

– Độc tính cơ quan đích sau khi phơi nhiễm một lần, loại 1, 2.

– Độc tính cơ quan đích sau khi phơi nhiễm nhiều lần, loại 1, 2.

– Nguy cơ hít phải, loại 1, 2.

– Nếu biển báo không yêu cầu ký hiệu, hãy sử dụng chúng để:

– Độc tính cấp (ảnh hưởng qua đường miệng, da, hô hấp) loại 5.

– Kích ứng mắt loại 2B.

– Độc tính trên sinh sản (thông qua tiết sữa).

Tên của dấu ăn mòn, thường được dùng cho:

– Ăn mòn da, loại 1A, 1B, 1C.

– Mối nguy hiểm nghiêm trọng về mắt thuộc loại 1.

Biểu tượng cảnh báo nguy cơ môi trường

Dấu hiệu GHS09: nguy cơ môi trường

– Khi đó bạn nên sử dụng các công thức như sau:

– Nguy hiểm trực tiếp đối với môi trường nước thuộc nhóm 1.

– Nguy hiểm đối với sinh vật dưới nước, loại 1, 2.

Ký hiệu và biểu tượng nguy hiểm trong vận chuyển

Loại 1: Chất nổ cấp 1,1 đến 1,3 (dấu hoa thị sẽ được thay thế bằng số cấp và mã tương thích)

– Phân loại 1.1: Chất, vật phẩm có nguy cơ cháy nổ lớn.

– Phân loại 1.2: Các chất và vật phẩm có nguy cơ bắn tóe nhưng không có nguy cơ nổ lớn.

– Phân loại 1.3: Các chất và vật phẩm có nguy cơ cháy nổ thấp. Nguy cơ cháy là nhỏ hoặc cả hai, nhưng không gây nổ trên diện rộng.

– Phân loại 1.4: Các chất và vật phẩm sẽ được phân loại là chất nổ, nhưng chúng sẽ không gây hại lớn

– Phân loại 1.5: Các chất rất nhạy cảm, có nguy cơ cháy nổ lớn.

– Loại 1.6: không có hình đồ cảnh báo nguy hiểm

Loại 2: Khí đốt

– Loại 2.1 là khí dễ cháy

+ Ở nhiệt độ tiêu chuẩn 20 ° C và áp suất tiêu chuẩn 101,3 kPa, khí trong hỗn hợp trộn với không khí có thể bốc cháy từ 13% trở xuống.

+ Hoặc phạm vi dễ cháy khi tiếp xúc với không khí tối thiểu là 12%, không phụ thuộc vào giới hạn cháy dưới.

– Phân loại 2.2: Khí không cháy và không độc

– Phân loại 2.3: Khí độc

Loại 3 và loại 4: chất lỏng và chất rắn dễ cháy

– Loại 3: Về ký hiệu hóa học đối với chất lỏng dễ cháy

– Phân loại 4.1: Chất rắn dễ cháy, chất tự phản ứng và chất nổ giải mẫn cảm.

– Phân loại 4.2: Các chất có khả năng tự cháy.

– Phân loại 4.3: Các chất tiếp xúc với nước phát ra khí dễ cháy

Như vậy, trong bài viết này chúng tôi cũng đã mang đến cho bạn các ký hiệu và biểu tượng cảnh báo hóa chất nguy hiểm. Mong rằng, những gì mà chúng tôi đã chia sẻ đến bạn sẽ là thông tin hữu ích nhất.

Nguồn: magazinesusa.com

2021-11-29 / by / in
Các Loại Hóa Chất Dùng Trong Xử Lý Nước Thải Phổ Biến
Ô nhiễm nguồn nước là vấn đề rất đáng quan ngại hàng đầu hiện nay khi các nguồn nước thải sinh hoạt, rác thải dân cư… khiến nguồn nước sạch bị ô nhiễm trầm trọng. Vậy giải pháp sử dụng hóa chất dùng trong xử lý nước thải có đảm bảo hay không? Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu qua bài viết này nhé!

1.  Tìm hiểu về hóa chất làm sạch nước

Xử lý nước thải ô nhiễm để bảo vệ nguồn nước là một trong những ưu tiên hàng đầu cần phải thực hiện để bảo vệ sức khỏe. Có rất nhiều giải pháp xử lý nước thải được áp dụng hiện nay, tuy nhiên việc sử dụng hóa chất cho xử lý nước thải luôn phát huy được hiệu quả nhanh chóng, áp dụng trên quy mô lớn.

1.1  Hóa chất xử lý nước là gì?

Hóa chất xử lý nước thải là tên gọi chung dùng để chỉ các loại hóa chất có khả năng khử sạch các chất độc hại, tạp chất có chứa trong nguồn nước thải từ các hộ gia đình hoặc nước thải nhà máy trước khi đưa ra môi trường.

Các hóa chất này sẽ phản ứng với chất độc, dầu mỡ trong nguồn nước thải để hình thành chất cặn bã lắng đọng, chất khí và nước sinh hoạt an toàn. Sau khi hoàn tất quá trình xử lý nước thải, chúng ta sẽ thu được nguồn nước an toàn, đạt chuẩn cho con người sử dụng để tưới tiêu,….

Hóa chất cho xử lý nước thải được chia làm 3 loại lớn:

  1. Hoá chất khử trùng (hoá chất làm trung hoà độ pH)
  2. Hoá chất đông tụ và chất keo tụ
  3. Hoá chất chống tạo bọt

2. Tại sao cần xử lý nước thải?

Nguồn nước không thể thiếu được trong quá trình sử dụng hàng ngày. Với nguồn tài nguyên nước đang dần cạn kiệt như hiện nay thì việc xử lý nước để đem đến nguồn nước sạch cho con người và môi trường thực sự là giải pháp được ưu tiên hàng đầu.

Bên cạnh đó, nếu nguồn nước thải từ sinh hoạt và nhà máy không được xử lý trước khi xả ra môi trường sẽ cực kỳ nguy hiểm đến sức khỏe con người khiến các bệnh về dị ứng da, ung thư da phát triển, môi trường sinh thái bị hủy diệt và hình thành nên những dòng sông chết.

Hậu quả từ việc làm ô nhiễm nguồn nước khó có thể lường hết được, Do vậy chúng ta cần phải tiến hành sử dụng hóa chất làm sạch nước công nghiệp để đảm bảo an toàn nhất có thể trước khi đổ ra ao hồ, sông, suối.

3. Các loại hóa chất dùng trong xử lý nước thải phổ biến

3.1 Hoá chất khử trùng

Hoá chất khử trùng nước là loại hoá chất dùng để tiêu diệt, ngăn chặn các vi sinh vật gây bệnh trong nước và làm giảm tác động ảnh hưởng đến sức khoẻ con người.

Có 3 loại hoá chất sử dụng trong khử trùng là clo, clo dioxit và ozone.

Chlorine

Chlorine-xu-ly-nuoc

Chlorine (viết tắt là Clo) là một hoá chất xử lý nước được sử dụng rộng rãi nhất và hiệu quả cao bởi Chlorine là chất khử trùng chống lại các sinh vật, như là vi khuẩn hoặc virus có thể gây bệnh cho người.

Ngoài ra Clo còn có tính oxy hoá và sát khuẩn cực mạnh nên thường được sử dụng để khử trùng, làm sạch nguồn nước cấp, nước thải, bể bơi,… thậm chí cả trong lĩnh vực thuỷ hải sản, dệt nhuộm.

Clo đioxit

Clo-đioxit-xu-ly-nuoc
Clo đioxit là hoá chất xử lý nước thay thế Clo, có khả năng diệt trùng cả ở trong mô trường kiếm (Clo thì không). Dioxit Clo tác dụng với nước tạo các sản phẩm phụ vô hại với nguồn nước.

Ozone

Ozone-xu-ly-nuoc
Ozone là hoá chất có độ oxy hoá rất mạnh nên được sử dụng trong ngành dược phẩm, để pha chế nước uống, nước tinh khiết và khử trùng bề mặt.

3.2 Hoá chất đông tụ

Hoá chất đông tụ và keo tụ là loại hoá chất xử lý các chất ô nhiễm là ion kim loại (đặc biệt là kim loại nặng) hoặc các rắn không tan trong nước.

Hoá chất đông tụ và kéo tụ phổ biến gồm: Al2(SO4)3.18H2O, NaAlO2, Al2(OH)5Cl, Fe2(SO4)3.2H2O, FeCl3,…

Phèn nhôm Al2(SO4)3.18H2O

phen-nhom-Al2(SO4)3_18H2O

Phèn nhôm là hóa chất ở dạng keo tụ làm cho các tạp chất trong nước bị đông lại thành các hạt cát lớn và lắng xuống đáy dễ dàng hơn.

Với giá thành rẻ, ít độc và có sẵn trên thị trường nên phèn nhôm là hoá chất được sử dụng rộng rãi trong xử lý nước công nghiệp.

Nhôm Natri Dioxide NaAlO2

Natri Dioxide NaAlO2

Trong việc xử lý nước thải công nghiệp, Nhôm Natri Dioxide NaAlO2 được dùng như là chất thêm vào trong hệ thống làm giảm độ cứng của nước, là chất đông tụ để lắng đọng những tạp chất lơ lửng trên nước và để loại bỏ silica và các hợp chất phosphat hoà tan.

Phèn sắt Fe2(SO4)3.2H2O

keo-tu-tao-bong-Fe2(SO4)3_2H2O
Trong việc làm keo tụ các chất lơ lửng của nước thì muối phèn sắt có ưu điểm so với muối phèn nhôm như: tác dụng tốt hơn ở nhiệt độ thấp, khoảng pH tác dụng rộng hơn, kích thước và độ bền của bông keo to hơn, đặc biệt có thể khử được mùi khi có H2S.

PAC

pac-xu-ly-nuoc-thai

PAC là viết tắt của từ Poly Aluminium Chloride là một loại hóa chất cho xử lý nước thải ở dạng keo tụ hỗ trợ lắng các tạp chất lơ lửng, loại bỏ chất hữu cơ, vi khuẩn, virus có trong nước trong quá trình xử lý nước cấp, nước thải từ đường, bãi đậu xe, nhà, khu công nghiệp, nước nuôi trồng thủy sản, …

PAC vì có khả năng loại bỏ các chất hữu cơ hòa tan và không hòa tan cùng kim loại nặng tốt hơn phèn nhôm Al2(SO4)3.18H2O nên xử lý nước bằng PAC mang lại nguồn nước sạch có chất lượng cao hơn nên PAC được các nước phát triển sử dụng trong các nhà máy cấp nước sinh hoạt  sử dụng hàng ngày cho các hộ gia đình.

Polymer

Polymer

Chất trợ lắng Polymer sẽ làm tăng khả năng keo tụ tạo bông của nước thải, các bông bùn, chất lơ lửng sẽ to hơn vì vậy lắng tốt hơn và đem lại hiệu quả xử lý tốt hơn. Cụ thể chỉ với một l­ượng rất nhỏ polymer (vài phần triệu) nư­ớc đục đã trở nên trong và chỉ cần vài trăm gam polymer đã làm khô một tấn bùn.

Vì vậy mà hoá chất trợ lắng Polymer được sử dụng rộng rãi trong ngành xử lý nước thải và nước cấp.

3.3 Xử lý nước thải bằng chất chống tạo bọt

Antifoam

Antifoam-chat-pha-bot

Antifoam là chất phá bọt gốc Silicone có hoạt lực mạnh giúp loại bỏ bọt sinh ra trong quá trình xử lý nước thải một cách hiệu quả và nhanh chóng.

Antifoam là chất bột mịn cực kỳ an toàn, thân thiện với môi trường không gây ảnh hưởng đến hệ vi sinh cũng như sức khoẻ người dùng.

Defoamer DP 860

Defoamer DP-860 có nguồn gốc từ hệ nước nhũ tương PolyDimethyl Siloxanes thế hệ mới với nhiều ưu điểm vượt trội như ít tạo váng, chịu được pH cao, thời gian tác dụng kéo dài,…
Vì thế, Defoamer DP-860 được ứng dụng cực kỳ hiệu quả trong xử lý nước thải nhà máy, công nghiệp.

Nguồn: pvchem
2021-11-29 / by / in
6 Vai trò của Hóa Chất đối với cuộc sống

Hóa chất đã xuất hiện từ nhiều thế kỷ trước cho đến bây giờ. Từ thực phẩm, quần áo, thuốc con người sử dụng đến nhiều thứ khác. Hóa chất có một vai trò quan trọng đối với cuộc sống của con người. Vì vậy, ngành công nghiệp hóa chất luôn không ngừng phát triển để đáp ứng nhu cầu ngày càng tăng.

Giới thiệu về Hóa Học

Hóa Học là gì?

Hóa học là một khoa học liên quan đến cuộc sống của con người hoặc các hiện tượng tự nhiên. Hóa học được bắt đầu từ các nhu yếu phẩm cơ bản của con người. Như thực phẩm, vải vóc, nhiên liệu, thuốc men, vật liệu xây dựng, vật liệu điện tử, mỹ phẩm và nhiều thứ khác. Điều làm cho hóa chất khác biệt với khoa học khác là chuyên môn tập trung vào cấu trúc, sự hình thành, đặc tính, sự thay đổi vật liệu và năng lượng làm thay đổi vật liệu.

Trong cuộc sống, những gì con người có thể nếm, cảm nhận và chạm vào được là các chất của hóa chất. Các quá trình trao đổi của vạn vật trên trái đất đều do sự tham gia của hóa chất. Ngay cả trong cơ thể con người cũng có hàng ngàn loại hóa chất khác nhau. Thật tuyệt vời phải không? Chỉ bằng cách tìm hiểu khoa học hóa học, có thể tìm thấy nhiều điều thú vị liên quan đến cuộc sống.

Vai trò của Hóa Học?

Hóa học cũng có vai trò quan trọng trong khoa học và kiến ​​thức. Hóa học có thể là một nền tảng để nghiên cứu các ngành khoa học khác. Đầu tiên phải hiểu chất nguyên tử trong hóa học trước khi nghiên cứu từ trường trong vật lý. Chúng ta không thể học sinh học với sự hiểu biết về quang hợp khi không hiểu về các yếu tố liên quan.

Hầu hết nhiều người nghĩ rằng hóa chất chỉ tồn tại trong phòng thí nghiệm. Không hề biết rằng hóa chất có thể tồn tại trong cuộc sống hàng ngày. Hầu hết các nhà khoa học tin rằng mọi thứ trên thế giới này là hóa học. Dưới đây là những công dụng của hóa chất trong cuộc sống hàng ngày và tầm quan trọng của hóa học trong môi trường.

Vai trò của Hóa Chất Công Nghiệp

Lĩnh vực nông nghiệp

Trong lĩnh vực này, hóa chất được sản xuất phục vụ cho nhu cầu của đối tượng cụ thể. Đó là những người nông dân hoặc một số sử dụng trong vườn ngay tại gia đình. Hóa chất công nghiệp sử dụng dưới dạng các sản phẩm bảo vệ thực vật như thuốc trừ sâu, thuốc diệt cỏ và phân bón. Con người sử dụng các chất hóa học này cho cây trồng để có thể đạt được kết quả tốt nhất vào ngày thu hoạch. Có thể phân loại các sản phẩm bảo vệ thực vật được sử dụng như sau:

  • Thuốc trừ sâu: Sử dụng để diệt côn trùng như; châu chấu, sâu bướm, bọ,…
  • Thuốc diệt nấm: Sử dụng để diệt trừ và ngăn chặn sự phát triển của nấm
  • Thuốc diệt vi khuẩn: Sử dụng để tiêu diệt vi khuẩn và virus trên cây
  • Thuốc diệt chuột: Sử dụng để chống lại tất cả các loài động vật gặm nhấm như chuột nhắt, chuột đồng,…
  • Thuốc diệt cỏ: Sử dụng để tiêu diệt tất cả các loại thực vật không mong muốn xung quanh cây trồng như bụi cây, cỏ dại,…

Vì vậy, vai trò của hóa chất công nghiệp đối với lĩnh vực nông nghiệp vô cùng quan trọng.

Lĩnh vực y học

Hóa chất có thể giúp bác sĩ chẩn đoán nhiều phản ứng hóa học trên bệnh nhân như trong quá trình tiêu hóa, hô hấp, bài tiết,… Hóa chất công nghiệp cũng có vai trò thiết yếu trong việc sản xuất và phát triển các loại thuốc. Các lại thuốc này được sản xuất dựa trên nghiên cứu về các phản ứng hóa học đối với các bệnh, đây được gọi là hóa dược.

Hóa học dược phẩm được tìm thấy trong nhiều khía cạnh trong lĩnh vực y học. Kiến ​​thức khoa học được sử dụng để nghiên cứu nhiều trường hợp về mặt y học. Chẳng hạn trong xét nghiệm sử dụng khoa học hóa học, máy phân tích máu, quá trình lọc máu, tạo chất khử trùng. Đặc biệt chế tạo vật liệu tổng hợp để thay thế xương và răng.

Phân tích hóa học tại phòng thí nghiệm bệnh viện sử dụng các hóa chất kiểm tra nhiễm trùng trong mẫu máu. Virus HIV có thể được kiểm tra bằng cách sử dụng các chất hóa học cụ thể. Tất cả đều sử dụng các chất hóa học hoặc phản ứng liên quan.

Lĩnh vực công nghiệp

Hóa chất tồn tại trong tất cả các ngành công nghiệp trong nhiều thập kỷ. Hóa chất là một trong những yếu tố quan trọng có trong các sản phẩm mà con người sử dụng. Hầu như mọi sản phẩm mà nhà máy tạo ra từ phản ứng hóa học, các hóa chất hoặc vật liệu hóa học.

Các phản ứng hóa học luôn xảy ra trong quá trình sản xuất sản phẩm tại các hệ thống nhà máy. Các sản phẩm này được đưa đi cung cấp cho nhu cầu của con người. Chẳng hạn như sản xuất xi măng, sơn, các sản phẩm gia dụng, tẩy rửa và làm sạch,…

Lĩnh vực địa chất

Các nghiên cứu khoa học địa chất về nghiên cứu đá (khoáng sản), khai thác khí và dầu. Quá trình xác định các yếu tố khoáng sản và giai đoạn đầu tiên để khám phá sử dụng cơ bản của khoa học hóa học. Tất cả đều cần tới hóa chất tham gia.

Lợi ích của hóa chất trong lĩnh vực này là giúp đỡ và hiểu về nghiên cứu tìm kiếm khoáng sản, đá và những thứ tự nhiên để tìm kiếm vị trí có thể khám phá sau này. Do đó, có nhiều tầm quan trọng của hóa chất trong môi trường đối với các lĩnh vực địa chất.

Lĩnh vực nghiên cứu

Các nhà khảo cổ học sử dụng các phản ứng hóa học để đo tuổi hóa thạch bằng carbon đồng vị phóng xạ 14. Họ sử dụng hóa chất này vì hóa chất này có thể làm sạch và loại bỏ bụi bẩn mà không làm hỏng hóa thạch. Trong phòng thí nghiệm, hóa chất được các nhà khoa học sử dụng cho nhiều mục đích nghiên cứu. Bên cạnh đó cũng có nhiều ứng dụng của hóa chất cho các lĩnh vực nghiên cứ.

Sản phẩm gia dụng

Phản ứng hóa học tồn tại trong các hoạt động sinh hoạt của con người. Xà phòng và chất tẩy rửa có chứa các hóa chất thành phần. Xà phòng nhũ hóa bụi bẩn làm các vết bẩn liên kết với xà phòng. Sau đó các vết bẩn này có thể được rửa sạch bằng nước. Cũng có các sản phẩm chứa thành phần là chất hóa học có thể loại bỏ vi khuẩn. Khi sử dụng các sản phẩm tẩy rửa, các hóa chất có chức năng như chất hoạt động bề mặt. Các hóa chất giúp cô lập dầu mỡ và các vết bẩn này dễ làm sạch hơn.

Nguồn: Hoachatcongnghiep.org.vn

2021-11-26 / by / in
3 cách xử lý hóa chất công nghiệp phổ biến nhất

Nhiều sản phẩm gia dụng và các hóa chất khác tạo ra các điều kiện nguy hiểm cho con người và môi trường. Chính vì lý do đó mà đòi hỏi cần có cách xử lý để đảm bảo an toàn và xử lý đúng cách các hóa chất công nghiệp như vậy. Mặc dù các hóa chất sẽ luôn luôn có một số loại tác động, nhưng dù là tốt nhiều hay ít thì giảm tác động đó càng nhiều càng tốt là rất quan trọng. Với bài viết ngày hôm nay, chúng tôi sẽ chia sẻ với các bạn 3 cách xử lý hóa chất công nghiệp được sử dụng nhiều nhất.

Xử lý hóa chất công nghiệp

Cách 1: Xác định xử lý chất thải hợp lý

Bước 1: Đọc nhãn sản phẩm

Hóa chất công nghiệp

Một số sản phẩm hóa chất đi kèm với hướng dẫn xử lý ngay trên nhãn và làm theo các hướng dẫn đó là đủ. Ngay cả đối với các sản phẩm không có hướng dẫn xử lý, bạn vẫn nên đọc các nhãn để bạn có thể biết các cảnh báo liên quan đến các sản phẩm đã nêu:

  • Các vật dụng như pin và bóng đèn phải được tái chế tại các trung tâm tái chế đặc biệt.
  • Không bao giờ trộn lẫn các sản phẩm làm sạch với nhau. Nếu bạn chỉ có một lượng nhỏ sản phẩm làm sạch còn lại trong mỗi chai, nhưng cũng không được phép trộn lẫn chúng với nhau. Lý do là vì các hóa chất khác nhau có thể phản ứng với nhau để tạo thành các loại chất rất nguy hiểm và các loại khí độc hại.

Bước 2: Đọc bảng dữ liệu an toàn vật liệuHóa chất công nghiệp

Ngoài nhãn sản phẩm, bạn muốn đọc MSDS cho các hóa chất công nghiệp. MSDS cung cấp cho bạn thông tin quan trọng về hóa chất như tính độc hại, phản ứng và cân nhắc xử lý của nó. Sử dụng cơ sở dữ liệu MSDS trực tuyến để tra cứu MSDS cho công thức hóa học cụ thể mà bạn muốn xử lý.

Bước 3: Kiểm tra danh sách các chất thải nguy hiểm

Cơ quan Bảo vệ môi trường (EPA) có nhiều nguồn lực để xác định xem chất thải của bạn có được coi là nguy hiểm hay không và loại xử lý đặc biệt nào là cần thiết. EPA quy định chất thải nguy hại sử dụng Đạo luật bảo tồn và khôi phục tài nguyên năm 1976: 

  • Xác định xem chất thải của bạn có độc hại không bằng cách tham khảo biểu đồ lưu lượng EPA
  • Nếu chất thải của bạn được EPA phân loại là độc hại, bạn sẽ cần liên hệ với EPA để xử lý đúng cách
  • Có thể liên lạc trực tuyến với EPA hoặc tìm kiếm văn phòng EPA tại địa phương và liên lạc trực tiếp với họ bằng điện thoại

Cách 2: Xử lý hóa chất thông thường

Sử dụng biện pháp phòng ngừa an toàn thích hợp

Hóa chất công nghiệp

Đối với bất kỳ hóa chất nào, bạn nên đeo găng tay, mặc quần áo dài tay, có kính bảo hộ và giày kín ngón chân. Điều đó sẽ giúp bạn giảm thiểu nguy cơ bị tác động bởi các hóa chất. Hóa chất thường bay hơi nên khá độc hại, vì vậy nếu bạn làm việc trong một khu vực thông gió:

  • Không bao giờ hít thở sâu và hít khói hóa chất, đặc biệt nếu bạn không chắc chắn về hóa chất là gì
  • Đọc tất cả các thông tin an toàn cho một hóa chất trước khi làm việc với nó hoặc xử lý nó
  • Nếu bạn nhận được hóa chất trên da hoặc trong mắt, ngay lập tức rửa sạch vùng bị ảnh hưởng bằng nước trong ít nhất 15 phút trước khi tìm kiếm sự chăm sóc y tế

Pha loãng thuốc tẩy và hydrogen peroxide để đổ xuống cống

Pha loãng dung dịch tẩy trắng hoặc hydrogen peroxide bằng cách thêm ít nhất 10 lần lượng nước và để dung dịch loãng trong ít nhất một giờ trước khi vứt bỏ.

Xử lý dung môi tại nơi đặc biệt

Các dung môi như sơn và véc ni phải được thải bỏ tại một trung tâm tái chế đặc biệt hoặc được thu gom bởi một công ty xử lý chất thải độc hại. Nhiều cửa hàng cải thiện nhà có trung tâm tái chế sơn là lựa chọn tốt nhất. Sơn latex có thể được xử lý ở nhà bằng cách khuấy đều cho đến khi sơn dày lên và để hỗn hợp này trong một giờ. Bạn có thể ném sơn cứng vào thùng rác.

Tái chế chất lỏng ô tô

Hóa chất công nghiệp

Các chất lỏng liên quan đến ô tô như chất chống đông, dầu động cơ và chất lỏng truyền có thể được thu gom và tái chế. Bạn nên thu lấy chất lỏng và mang nó đến một trung tâm tái chế gần đó. Sử dụng công cụ định vị tái chế để giúp bạn tìm một địa điểm gần bạn.

Xả tất cả các bình xịt

Làm điều này bằng cách lật ngược chúng và phun chúng vào một vật liệu hấp thụ, như khăn giấy, giẻ lau, hoặc miếng bọt biển. Sau đó, hãy bọc nó trong một vài tờ báo và vứt nó vào thùng rác gia đình thông thường. Ngoài ra, bạn có thể vứt bỏ các thùng chứa một phần bằng cách đưa chúng đến một trung tâm thu gom chất thải nguy hại gia đình.

Xử lý hóa chất hồ bơi

Hóa chất công nghiệp

Hầu hết các cửa hàng hồ bơi sẽ lấy hóa chất hồ bơi và vứt bỏ chúng đúng cách. Ngoài ra, bạn có thể kiểm tra với hồ bơi cộng đồng và xem liệu họ có cần hóa chất không sử dụng của bạn hay không. Nếu bạn phải thải bỏ chúng trong thùng rác, hãy đảm bảo rằng các hóa chất khô, được lưu trữ trong các thùng chứa ban đầu của chúng và túi đôi để tránh nhiễm bẩn.

Gửi hóa chất công nghiệp đến một hệ thống thu gom vật liệu nguy hiểm

Nếu bạn không chắc chắn về phương pháp xử lý thích hợp cho một sản phẩm nguy hiểm tiềm ẩn, chẳng hạn như pin xe hơi, hãy tìm kiếm một dịch vụ thu gom vật liệu độc hại gần đó và xem liệu chúng có thải bỏ chất thải của bạn hay không:

  • Các phòng thí nghiệm có các phòng xử lý chất thải cụ thể để giải quyết vấn đề này. Khi bạn có một thùng chứa đầy đủ, hãy lên lịch lấy hàng để xử lý.
  • Lưu trữ hóa chất đã sử dụng trong một thùng chứa thích hợp để xử lý. Một thùng nhựa kín thường là đủ. 

Cách 3: Trung hòa axit mạnh

Biết các axit và bazơ không thể trung hòa

Hóa chất công nghiệp

Có một số axit và bazơ không thể trung hòa và thải bỏ vào cống thoát nước. Việc thải bỏ những điều sau đây nên được thực hiện thông qua các kênh thu gom chất thải nguy hại thích hợp:

  • axit perchloric
  • axit nitric đậm đặc
  • bốc khói (cô đặc), axit sulfuric
  • acid hydrofluoric
  • axit hoặc bazơ với thuốc nhuộm hoặc chất hoạt động bề mặt
  • axit của bazơ có kim loại nặng
  • axit hữu cơ và các bazơ vẫn độc hại sau khi trung hòa

Xác định độ bền của axit hoặc bazơ

Axit mạnh (pH <2.0) và các bazơ mạnh (pH> 12.0) phải được trung hòa trước khi pha loãng và thải bỏ xuống cống. Cường độ của axit hoặc bazơ có thể được xác định bằng cách sử dụng máy đo pH hoặc dải pH. Các axit và bazơ mạnh phải được trung hòa với khoảng pH từ 6,0 đến 9,0. Bạn nên sử dụng: 

  • Máy đo pH trực tiếp đo độ pH của dung dịch.
  • Giấy pH có chỉ báo màu cho bạn biết độ bền của dung dịch.

Trung hòa các bazơ mạnh với axit clohydric

Hóa chất công nghiệp

Quá trình trung hoà một bazơ mạnh cũng giống như trung hòa axit mạnh trừ khi bạn sử dụng axit clohydric thay vì natri hydroxit. Từ từ thêm axit clohydric vào bazơ mạnh trong khi khuấy liên tục dung dịch. Phản ứng này cũng giải phóng nhiệt, vì vậy hãy thêm từ từ và giữ bình chứa trong một xô lạnh để tránh làm nóng thùng chứa.

Kiểm tra lại pH

Sau khi trung hòa, độ pH phải nằm trong khoảng từ 6,0 đến 9,0. Sử dụng máy đo pH hoặc dải giấy pH để đảm bảo trung hoà axit hoặc bazơ thích hợp. Nếu pH không nằm trong phạm vi chính xác, tiếp tục thêm axit trung hòa hoặc bazơ vào dung dịch cho đến khi đạt được độ pH chính xác.

Dung dịch chỉ thị axit-bazơ cũng có thể được sử dụng để kiểm tra độ pH của dung dịch. Khi pH của toàn bộ dung dịch thay đổi, màu của chỉ báo sẽ thay đổi. Nếu bạn có quyền truy cập vào một chỉ báo, nó có thể làm cho quá trình trung hòa của bạn dễ dàng hơn.

Pha loãng bằng cách thêm axit hoặc bazơ vào nước

Hóa chất công nghiệp

Để pha loãng dung dịch, bạn nên thêm axit hoặc bazơ trực tiếp vào nước. Lưu ý rằng, nếu bạn thêm nước vào axit hoặc bazơ có thể làm nóng nước và dẫn đến nổ:

  • Pha loãng axit hoặc bazơ là một phản ứng tỏa nhiệt do đó nên đặt bình chứa vào xô đá để tránh làm nóng hộp chứa. 
  • Bạn có thể tính toán lượng nước cần thiết để pha loãng dung dịch dựa trên độ bền của axit hoặc bazơ.

Đổ nó xuống cống

Một khi dung dịch đã được trung hòa và pha loãng, nó có thể được đổ trực tiếp xuống cống. Giữ cho nước chảy trong khi bạn đổ dung dịch xuống cống để tiếp tục pha loãng. Nếu chất thải chứa một kim loại nặng như đồng, chì, kẽm, cadmium hoặc thủy ngân, bạn không thể vứt bỏ nó xuống bồn rửa chén. Nó phải được xử lý như chất thải nguy hại bởi một văn phòng an toàn và sức khỏe môi trường.

Nguồn: hoachatcongnghiep.org.vn

2021-11-25 / by / in
Tổng hợp 10 hóa chất độc hại nhất thế giới có thể bạn chưa biết

Hóa chất độc hại luôn được con người nghiên cứu, tìm tòi để hạn chế những ảnh hưởng xấu của chúng đến sức khỏe và cuộc sống của chúng ta. Vậy hóa chất độc hại là gì? Chúng gồm những hóa chất nào? Hãy cùng theo dõi bài viết dưới đây.

1. Hóa chất độc hại là gì?

Hóa chất độc hại là những hóa chất dựa vào những tác động hóa học của nó có thể gây ảnh hưởng xấu tới sức khỏe con người và động vật. Nếu bị nhiễm, có thể gây tử vong, tê liệt tạm thời hoặc ảnh hưởng lâu dài gây ngộ độc cấp tính hoặc mãn tính.

Hóa chất độc hại là gì?
Hóa chất độc hại là gì?

Hóa chất độc hại có thể bị nhiễm trực tiếp qua nhiều đường như ăn uống, hít thở, qua da, thậm chí là lây nhiễm từ thế hệ này sang thế hệ khác…

Vậy có những loại hóa chất độc hại nguy hiểm nào? dưới đây là top những hóa chất nguy hiểm nhất hiện nay do con người tạo ra hoặc tồn tại tự nhiên.  Bạn có thể đã, đang và sẽ tiếp xúc với chúng.

2. Danh sách những hóa chất độc hại nguy hiểm nhất

2.1. Hydro peroxit

– Công thức hóa học: H2O2

Hydro peroxit là loại chất tẩy cổ điển được tìm thấy ngay trong ngôi nhà của bạn với nồng độ khoảng 3 -6%.

Hydro peroxit là chất dễ nổ và dễ dàng bốc hơi. Vì vậy, dạng đậm đặc của Hydro peroxit được dùng làm nhiên liệu cho tên lửa. Hydro peroxit đã từng được dùng trong các vụ tấn công ở London, làm 52 người thiệt mạng vào năm 2005.

Hydro peroxit đứng đầu danh sách hóa chất độc hại nguy hiểm
Hydro peroxit đứng đầu danh sách hóa chất độc hại nguy hiểm

Hydro peroxit là chất oxy hóa dạng lỏng trong suốt, nhớt hơn một chút so với nước, có tính oxy hóa mạnh vì thế chất này được dùng làm chất tẩy trắng, chất tẩy uế… trong gia đình.

2.2. Digoxin

– Công thức hóa học: C41H64O14

Với liều lượng thích hợp, Digoxin hiện nay được sử dụng để cải thiện các vấn đề về tim mạch. Vì thế, nó là chất được dùng để chữa trị các bệnh liên quan đến tim mạch dùng trong các bệnh viện.

Digoxin giúp cải thiện các vấn đề về tim mạch
Digoxin giúp cải thiện các vấn đề về tim mạch

Nếu sử dụng digoxin liều cao sẽ gây nhiễm độc digoxin hay còn gọi là nhiễm độc glycoside tim, quá liều hoặc ngộ độc digoxin có thể dẫn tới tử vong. Triệu chứng biểu hiện khi nhiễm độc digoxin được thể hiện qua các vấn đề về tiêu hóa như buồn nôn, nôn mửa, đau bụng, tiêu chảy. Các biểu hiện ở tim là đáng lo ngại nhất, có thể gây tử vong.

2.3. Nicotin

– Công thức hóa học: C10H14N2

Nicotin là chất độc được con người sử dụng nhiều nhất, phổ biến nhất. Nicotin là chất gây nghiện mạnh, có chứa nhiều trong cây thuốc lá. Nicotin vừa là chất an thần, vừa là chất kích có hại đối với cơ thể. Hút nhiều thuốc lá có thể dần dần hủy hoại phổi và các cơ quan nội tạng theo thời gian.

Nicotin có chứa nhiều trong thuốc lá
Nicotin có chứa nhiều trong thuốc lá

Nicotin ở dạng lỏng có thể được hấp thụ qua da, xâm nhập vào máu, gây tàn phá cơ thể. Tiếp xúc với khoảng 30 -60 mg nicotin có thể gây tử vong trong vòng vài giờ

2.4. Chì

– Công thức hóa học: Pb

Chì là chất đã được tìm thấy và sử dụng từ rất lâu. Chì có mặt hầu hết trong các vật dụng trong nhà như sơn, ống nước, thuốc nhuộm…Tuy nhiên, chì và các hợp chất của chì là một trong những hóa chất độc hại nhất, có ảnh hưởng xấu tới sức khỏe con người.

Chì có thể xâm nhập vào cơ thể chúng ta do hít bụi các loại sơn cũ có chứa chì, hay tiếp xúc với nguồn nước, nguồn đất bị nhiễm độc chì, hít thở không khí bị nhiễm chì… Bên cạnh đó, việc sử dụng các loại mỹ phẩm, thực phẩm có chứa chì cũng là cách nhiễm chì phổ biến hiện nay.

Chì có nhiều trong các vật dụng gia đình
Chì có nhiều trong các vật dụng gia đình

Khi bị nhiễm độc chì sẽ biểu hiện các triệu chứng sau:

– Đối với trẻ em: xuất hiện các triệu chứng như hôn mê, co giật, ngủ lịm từng lúc, liệt mệt mỏi, khó chịu, vô cảm, mất phối hợp, phát triển thần kinh chậm. Ngoài ra, trẻ em có thể bị đau bụng, chán ăn, thiếu máu.

– Đối với người lớn: xuất hiện các biểu hiện lơ mơ, lẫn lộn, mê sảng, dễ buồn ngủ, hôn mê, co giật, đau đầu, mất trí nhớ, bại liệt. Miệng có vị kim loại, chán ăn, táo bón, đau bụng từng cơn, yếu cơ, đau khớp, thiếu máu. Hơn nữa, làm giảm ham muốn tình dục, giảm khả năng sinh đẻ…

2.5. Strychnine

– Công thức hóa học: C21H22N2O2

Strychnine thường được sử dụng làm thuốc trừ sâu cho động vật gặm nhấm. Với độc tính mạnh, chỉ cần một lượng nhỏ Strychnine cũng có thể gây chết người.

Với lượng nhỏ Strychnine cũng có thể gây chết người
Với lượng nhỏ Strychnine cũng có thể gây chết người

Chất này có thể bị nhiễm do hít phải, nuốt hoặc hấp thụ qua mắt, miệng, gây ngộ độc dẫn tới co giật cơ và cuối cùng là tử vong do ngạt.

2.6. Sodium cyanide

– Công thức hóa học: NaCN

Sodium cyanide là một trong những chất độc nổi tiếng, có thể là bất kỳ hóa chất nào có chứa carbon nitrogen và có thể tìm thấy ở nhiều nơi khác nhau. Chất này được sử dụng như một hóa chất công nghiệp. Tiếp xúc với Sodium cyanide có thể gây chết người trong vài giây.

Sodium cyanide là một trong những chất độc nổi tiếng
Sodium cyanide là một trong những chất độc nổi tiếng

Triệu chứng khi bị nhiễm độc Sodium cyanide: Yếu toàn thân, buồn nôn, cảm thấy mơ hồ, đau đầu, khó thở, co giật, mất ý thức, tim ngừng đập.

Sodium cyanide là một trong những hóa chất công nghiệp phổ biến hiện nay.

2.7. Thủy ngân

– Công thức hóa học: Hg

Thủy ngân tồn tại ở dạng lỏng ở nhiệt độ phòng, dễ bay hơi và có độc tính mạnh. Thủy ngân được sử dụng trong nhiệt kế và một số thiết bị y tế, công tắc điện, bóng đèn huỳnh quang…

Con người có thể tiếp xúc với thủy ngân bằng rất nhiều hình thức khác nhau. Tuy nhiên, phơi nhiễm thủy ngân chủ yếu xảy ra thông qua việc ăn phải cá và sinh vật giáp xác nhiễm methylmercury. Tuy nhiên, nhiễm thủy ngân xảy ra gần các khu công nghiệp.

Thủy ngân có trong các nhiệt kế
Thủy ngân có trong các nhiệt kế

Những triệu chứng khi nhiễm độc thủy ngân:

– Đối với trẻ em:

+ Kỹ năng vận động suy giảm

+ Khả năng suy nghĩ yếu kém

+ Gặp khó khăn khi học nói và hiểu ngôn ngữ

+ Không thể phối hợp tay mắt tốt, nhận thức kém.

–  Đối với người lớn:

+ Gây yếu tim

+ Miệng có vị kim loại, buồn nôn, ói mửa

+ Rối loạn khả năng vận động

+ Không có cảm giác ở tay, mặt và các bộ phận khác

+ Suy giảm thị giác, thính giác hoặc khả năng nói

+ Khó thở, khó đi hoặc đứng thẳng.

2.8. Batrachotoxin

– Công thức hóa học: C31H42N2O6

Batrachotoxin là chất độc được chiết xuất từ chất bài tiết của ếch độc. Các bộ lạc thời xưa thường sử dụng chất này để làm phi tiêu độc. Điều thù vị là ếch không thể sản xuất chất độc này trực tiếp. Nó là sản phẩm tiêu hóa bọ cánh cứng Melyrid.

Chất độc Batrachotoxin lấy từ 1 con ếch độc
Chất độc Batrachotoxin lấy từ 1 con ếch độc

Lượng Batrachotoxin lấy từ 1 con ếch độc có thể giết chết hơn 20 người hoặc 2 con voi.

Batrachotoxin gây tử vong bằng cách tác động lên các kênh ion Na + trong tế bào của cơ bắp và dây thần kinh, khiến cho chúng không thể đóng khép lại được. Điều này sẽ khiến cho dòng ion Na + lưu chuyển liên tục và từ đó gây ra chết do suy tim.

2.9. Arsenic

– Công thức hóa học: As

Arsenic hay còn gọi là thạch tím. Arsenic là chất có độc tính cao, rất nguy hiểm đối với sinh vật và con người. Chất này có thể hòa tan trong nước tạo thành dung dịch không màu không vị. Cơ thể bị nhiễm Arsenic chủ yếu qua thực phẩm, nước uống và không khí.

Arsenic - Thạch tím là chất có độc tính rất cao
Arsenic – Thạch tím là chất có độc tính rất cao

Nhiễm độc Arsenic được chia thành 2 dạng là nhiễm độc cấp tính và mãn tính với những biểu hiện cụ thể dưới đây:

– Nhiễm độc cấp tính:

+ Gây nôn mửa, đau bụng, tiêu chảy

+ Tê và ngứa da, chuột rút cơ bắp

+ Thâm tím người, đi tả, bí tiểu

+ Mệt mỏi, hệ thần kinh suy nhược, số lượng hồng cầu và bạch cầu suy giảm nhanh.

Nếu tình trạng nhiễm độc trong vòng 24 giờ có thể dẫn đến tử vong.

– Nhiễm độc mãn tính:

+ Tiếp xúc thời gian dài với  Arsenic gây tổn thương da như đổi sắc tố, sừng hóa…, có thể dẫn tới ung thư da. Lâu dần có thể dẫn tới các bệnh ung thư khác như ung thư bàng quang, ung thư phổi.

+ Phơi nhiễm  Arsenic lâu ngày còn dẫn tới các bệnh về thần kinh, đái tháo đường, bệnh phổi, tim mạch.

2.10. Chất độc da cam

– Công thức hóa học: C24H27Cl5O6

Chất độc da cam hay còn gọi là 2,3,7,8 Tetrachlorodibenzo-p-dioxin, là một trong những chất độc được con người tạo ra. Chất độc này ban đầu được tạo ra với mục đích diệt cỏ và làm rụng lá, được Mỹ sử dụng trong chiến tranh Việt Nam.

Chất độc da cam ban đầu gây tổn thương da nghiêm trọng. Về lâu dài dẫn gây dị dạng thai nhi. cho những người bị phơi nhiễm. ước tính có khoảng hơn 4.8 triệu người Việt Nam nhiễm chất độc da cam để lại tổn thương và di chứng to lớn đến nhiều thế hệ sau này.

Chất độc da cam - Nỗi ám ảnh của người dân Việt Nam
Chất độc da cam – Nỗi ám ảnh của người dân Việt Nam

Nguồn: hoangphatjsc.

2021-11-17 / by / in
Ngành Công nghiệp Hóa Chất Việt Nam là Ngành mũi nhọn trong các Ngành Công

Thực tế trong nền kinh tế hiện đại, tất cả các ngành kinh tế đều sử dụng sản phẩm của ngành công nghiệp hóa chất
Ngày 23/12/2009 Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 2179/QĐ-TTg phê duyệt Đề án thí điểm thành lập Tập
đoàn Công nghiệp Hóa chất Việt Nam. Nhân dịp này, phóng viên Tạp chí Tổ chức nhà nước đã có cuộc phỏng vấn
ông Đỗ Duy Phi, Tổng giám đốc Công ty mẹ – Tập đoàn Hoá chất Việt Nam.

Sau đây là nội dung cuộc phỏng vấn:

PV: Với cương vị là Tổng giám đốc Công ty mẹ – Tập đoàn Hoá chất Việt Nam, xin ông cho biết những thành tựu
quan trọng đánh dấu sự hình thành và phát triển của ngành hoá chất Việt Nam trong hơn 40 năm qua?
Ông Đỗ Duy Phi: Ngành hoá chất nước ta ra đời từ trong cuộc kháng chiến chống Pháp, nhưng thực sự được hình
thành và phát triển qua hai giai đoạn chính, từ năm 1960 – 1975 và từ năm 1975 đến nay.
Giai đoạn từ năm 1960 – 1975: công nghiệp hoá chất chủ yếu phát triển ở miền Bắc với 15 nhà máy làm cả 2 nhiệm
vụ sản xuất tư liệu sản xuất như phân lân, xút, axít và sản xuất hàng hoá tiêu dùng như săm lốp xe đạp, pin, xà
phòng, ắc quy…

Giai đoạn từ năm 1975 đến nay được chia thành 2 thời kỳ: từ năm 1975 – 1986, là thời kỳ duy trì và phục hồi sản
xuất. Trong thời kỳ này đã tiếp quản thêm một số cơ sở hoá chất của chính quyền cũ, hầu hết là những công ty có
quy mô nhỏ, chủ yếu gia công chế biến hàng tiêu dùng như bột giặt, sơn, săm lốp xe đạp, pin, ắc quy… Thời gian này
ở miền Bắc nhiều nhà máy được cải tạo, mở rộng hoặc xây dựng mới và đưa vào sản xuất như nhà máy Supe phốt
phát Lâm Thao, nhà máy phân lân Văn Điển, nhà máy phân lân nung chảy Ninh Bình, nhà máy phân đạm Hà Bắc. Từ
năm 1986 đến nay, là thời kỳ phát triển. Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI ngành hóa chất đã có một bước tiến
quan trọng trong công tác quản lý, trọng tâm là sự chuyển đổi từ cơ chế quản lý quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự điều tiết của Nhà nước. Đây là giai đoạn tạo ra những tiền đề rất quan
trọng để vươn lên trong thời gian tiếp theo của ngành hoá chất Việt Nam.

Ngày 20/12/1995 Tổng Công ty Hoá chất Việt Nam (gọi tắt là Vinachem) được thành lập theo mô hình Tổng công ty
91 trên cơ sở kế thừa toàn bộ cơ sở vật chất, kỹ thuật, lao động của Tổng cục Hóa chất với 46 đơn vị thành viên.
Ngoài ra Tổng Công ty còn có 4 Công ty liên doanh có vốn đầu tư nước ngoài.

Từ năm 1995-2009, Vinachem có 227 dự án đầu tư được thực hiện và đang phấn đấu triển khai hoàn thành một số
dự án trọng điểm như: Dự án sản xuất DAP tại Hải Phòng, Dự án DAP số 2 tại Lào Cai, Dự án nhà máy tuyển Apatít
Bắc Nhạc Sơn, Dự án sản xuất phân đạm từ than cám tại Ninh Bình, Dự án mở rộng Nhà máy phân đạm Hà Bắc, Dự
án thăm dò, khai thác và chế biến muối mỏ kali tại Lào, Dự án đầu tư thăm dò tiến tới đầu tư khai thác tuyển quặng
bôxít tại Bảo Lộc – Lâm Đồng, Dự án lốp ôtô radial Công ty Cao su Đà Nẵng và Công ty Công nghiệp Cao su miền
Nam, Dự án khí công nghiệp, Dự án tổ hợp hoá dầu Long Sơn, các dự án hoá dược… đã và đang được triển khai tích cực.

Năm 2006 Tổng Công ty chuyển sang hoạt động theo mô hình đa ngành nghề và đa sở hữu (công ty mẹ – công ty
con), từ đây quy mô vốn sở hữu của Vinachem đã tăng lên đáng kể. Năm 2006, tổng vốn chủ sở hữu của Vinachem
là 4.342 tỷ đồng, cuối năm 2008 là 6.136 tỷ đồng và đến cuối năm 2009 vốn chủ sở hữu đã đạt 8.000 tỷ đồng; các chỉ
tiêu kinh tế chủ yếu đều vượt so với kế hoạch đề ra, duy trì được tốc độ tăng trưởng.

Song hành với kết quả trong sản xuất, kinh doanh, đầu tư xây dựng, Tổng Công ty Hóa chất Việt Nam cũng là một
trong những đơn vị có nhiều thành tích trong việc sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước. Từ thành công trong việc
thí điểm cổ phần hóa 3 xí nghiệp năm 1999, đến năm 2009, ngoài công ty mẹ, Vinachem có 10 công ty con mà Tổng
Công ty giữ 100% vốn điều lệ, 16 công ty cổ phần trên 50% vốn điều lệ, 12 công ty liên kết và 4 công ty liên doanh
với nước ngoài, một Trường cao đẳng và một Viện nghiên cứu.

Tổng Công ty cũng đã thường xuyên củng cố, hoàn thiện tổ chức bộ máy lãnh đạo quản lý, không ngừng nâng cao
hiệu lực và hiệu quả quản lý, đảm bảo sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của Đảng bộ, Hội đồng quản trị, Ban Giám
đốc, đồng thời phát huy quyền chủ động sáng tạo của các tổ chức đoàn thể như Công đoàn, Đoàn thanh niên, Hội
cựu chiến binh…
Ghi nhận và đánh giá cao những thành tích xuất sắc của các thế hệ cán bộ, công nhân viên Tổng Công ty Hóa chất
Việt Nam trong gần nửa thế kỷ qua, Đảng và Nhà nước đã tặng thưởng Tổng Công ty nhiều phần thưởng cao quý,
trong đó có Huân chương Lao động hạng Nhất (năm 1985), Huân chương Độc lập hạng Nhất (năm 1999); Huân
chương Hồ Chí Minh (năm 2004 và năm 2009).

Ngày 23/12/2009, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 2179/QĐ-TTg phê duyệt Đề án thí điểm thành lập Tập
đoàn Công nghiệp Hoá chất Việt Nam và Quyết định số 2180/QĐ-TTg, thành lập Công ty mẹ – Tập đoàn Hoá chất
Việt Nam.

PV: Vì sao phải chuyển đổi tổ chức hoạt động từ mô hình tổng công ty sang mô hình tập đoàn kinh tế; việc chuyển
đổi mô hình sẽ đem lại lợi thế gì đối với sự phát triển của ngành hoá chất Việt Nam, thưa ông?
Ông Đỗ Duy Phi: Xuất phát từ vai trò, vị trị quan trọng của ngành công nghiệp hoá chất trong nền kinh tế quốc dân,
mô hình tổ chức hiện tại và mục tiêu chiến lược của Tổng Công ty thì việc thành lập Tập đoàn Hoá chất Việt Nam
trên cơ sở sắp xếp, tổ chức lại Tổng Công ty Hóa chất Việt Nam là phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng và
bối cảnh nền kinh tế trong nước và thế giới hiện nay. Nhà nước đã ban hành Luật hoá chất; Thủ tướng Chính phủ đã
cho phép xây dựng Đề án hình thành Tập đoàn Hoá chất Việt Nam từ năm 2008 và mới đây Thủ tướng Chính phủ đã
ban hành Quyết định số 2179/QĐ-TTg ngày 23/12/2009 về việc phê duyệt Đề án thí điểm thành lập Tập đoàn Công
nghiệp Hoá chất Việt Nam. Với mô hình tổ chức của tập đoàn kinh tế, Tập đoàn Hóa chất Việt Nam sẽ giữ vai trò chủ
đạo trong ngành sản xuất phân bón, cao su kỹ thuật, hoá dược, hoá dầu…; xác định rõ hơn về vốn và lợi ích kinh tế
giữa công ty mẹ với các công ty con và công ty liên kết; tăng cường năng lực kinh doanh, tính tự chịu trách nhiệm;
nâng cao hiệu quả kinh tế của Tập đoàn và các công ty con; tạo cho Tập đoàn có đủ tiềm lực về vốn để đầu tư vào
các công ty con, công ty liên kết và các ngành kinh tế khác; nghiên cứu chiến lược thị trường, áp dụng công nghệ

tiên tiến… làm cho Tập đoàn trở thành nhân tố chủ yếu thúc đẩy các công ty con, công ty liên kết phát triển. Đồng
thời, góp phần bảo đảm điều tiết vĩ mô của Nhà nước; tham gia tích cực vào việc bảo đảm an sinh xã hội, an ninh
lương thực quốc gia và an ninh quốc phòng.
PV: Xin ông cho biết định hướng chiến lược và mục tiêu phát triển của Tập đoàn từ nay đến năm 2020?
Ông Đỗ Duy Phi: Để xứng đáng với vị trí và vai trò của mình trong nền kinh tế quốc dân, từ nay đến năm 2020, Tập
đoàn sẽ xây dựng và phát triển theo những định hướng lớn sau đây:
– Một là, xây dựng và phát triển Tập đoàn với cơ cấu sản phẩm tương đối hoàn chỉnh, giữ vai trò nòng cốt trong việc
phát triển ngành công nghiệp hoá chất, đi đầu trong sản xuất phân bón hoá học, hóa chất cơ bản phục vụ các ngành
công nghiệp khác, các sản phẩm cao su, điện hóa, hóa dầu, hóa dược, chất tẩy rửa, hóa mỹ phẩm… phục vụ sản
xuất nông nghiệp và tiêu dùng đáp ứng cơ bản nhu cầu trong nước và tăng cường xuất khẩu. Khai thác triệt để thế
mạnh tài nguyên thiên nhiên tiến tới chủ động nguyên liệu đầu vào, hạn chế nhập khẩu.
– Hai là, tăng cường khả năng tích tụ vốn, nhập khẩu công nghệ hiện đại nhằm tạo ra sản phẩm có chất lượng cao
với giá cả cạnh tranh, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, bảo đảm môi trường sinh thái. Tiếp tục xây dựng và
phát triển nguồn nhân lực có trình độ cao đáp ứng nhu cầu phát triển ngành, thúc đẩy nhanh chóng quá trình hội
nhập với ngành công nghiệp hoá chất khu vực và thế giới.
– Ba là, thực hiện đa dạng hoá hình thức đầu tư, đa sở hữu nhằm thu hút đầu tư (kể cả đầu tư nước ngoài), nhất là
đối với các công trình có nhu cầu vốn lớn, đòi hỏi công nghệ cao.
– Bốn là, phát triển công nghiệp hoá chất gắn với cơ cấu lại ngành công nghiệp, phân bố lao động và có tác động tích
cực đến công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn.
– Năm là, thực hiện tốt việc quản lý phần vốn nhà nước tại các công ty cổ phần. Tăng cường công tác quản lý người
đại diện phần vốn nhà nước tại các doanh nghiệp khác.
– Sáu là, Tập đoàn phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng từ 16-17%/năm vào năm 2015 và cao hơn trong giai đoạn đến
năm 2020, góp phần tăng tỷ trọng công nghiệp hoá chất trong công nghiệp cả nước từ 13-14%.
PV: Ông có thể cho biết rõ hơn về phương hướng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực nhằm hoàn thành mục tiêu
phát triển của Tập đoàn trong thời gian tới?
Ông Đỗ Duy Phi: Hiện Tập đoàn đã xây dựng đề án đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, theo đó chiến lược đào
tạo và phát triển nguồn nhân lực của Tập đoàn giai đoạn từ nay đến năm 2015, tầm nhìn năm 2020 phải đạt các mục
tiêu cơ bản sau:
– Thứ nhất, đào tạo đạt chuẩn cho đội ngũ cán bộ của Công ty mẹ – Tập đoàn Hoá chất Việt Nam trong năm 2010.
– Thứ hai, đào tạo đội ngũ cán bộ kế cận có khả năng đáp ứng yêu cầu phát triển của Tập đoàn đến năm 2015, cótính đến năm 2020.

– Thứ ba, đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển ngành hoá chất Việt Nam.
Từ chiến lược phát triển của Tập đoàn Hoá chất Việt Nam, Tập đoàn xác định 3 nhóm giải pháp phát triển nguồn
nhân lực. Cụ thể là:
– Nhóm giải pháp 1: quy hoạch và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý các cấp trong Tập đoàn (cấp Tập đoàn, cấp ban,
nhóm đại diện vốn của Tập đoàn) đảm bảo đủ khả năng hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
– Nhóm giải pháp 2: phát triển đội ngũ chuyên gia đầu ngành hoá chất nhằm phát triển sản phẩm mới, nghiên cứu và
chuyển giao công nghệ, thẩm định các dự án trọng điểm…
– Nhóm giải pháp 3: hợp tác với các cơ sở đào tạo trong và ngoài nước để đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao
đáp ứng cho mục tiêu phát triển chiến lược của Tập đoàn trong thời gian tới. Trước mắt, Hội đồng quản trị Tập đoàn
sẽ tập trung đầu tư, nghiên cứu, xây dựng đề án thành lập Trường đại học Hoá chất Việt Nam trên cơ sở tổ chức lại
Viện Hoá học Công nghiệp Việt Nam và trường cao đẳng Công nghiệp Hoá chất theo Quyết định của Thủ tướng
Chính phủ.

Theo: kimvanphuc.com

2021-11-15 / by / in
Để phát triển ngành công nghiệp hóa chất bền vững

Công nghiệp hóa chất có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, bởi nó có mặt trong hầu hết các sản phẩm, từ những vật dụng thông thường đến các sản phẩm công nghệ cao. Từ lâu, các hoạt động liên quan đến hóa chất luôn tiềm ẩn nguy cơ đe dọa đến sức khỏe, tính mạng con người, an ninh xã hội và môi trường. Chính vì vậy công tác quản lý hóa chất nguy hiểm là việc làm hết sức cần thiết trong các hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.

Hiện nay trên địa bàn tỉnh có gần 50 doanh nghiệp có các hoạt động liên quan đến hoá chất (bao gồm các ngành sản xuất giấy, nhựa, phân bón, dệt may, cơ khí; các sản phẩm chất tẩy rửa và các hoá chất thải độc hại…). Trong đó có 3 doanh nghiệp sản xuất hoá chất và sử dụng hoá chất với quy mô lớn là các công ty: Giấy Bãi Bằng, Supe phốt phát và hoá chất Lâm Thao và Công ty cổ phần hoá chất Việt Trì. Còn lại là các doanh nghiệp hoạt động thương mại dịch vụ hoá chất và nguyên liệu hoá chất vào sản xuất. Các hoá chất được sử dụng đa phần là các loại hoá chất cơ bản như: Xút, Axit sunphuric, Axit clohydric… với tổng lượng sử dụng hàng năm vào khoảng trên 200.000 tấn.

Qua đánh giá của cơ quan chức năng cho thấy, về cơ bản các doanh nghiệp trên đã cơ bản chấp hành tốt các quy định của Nhà nước về quy định khai báo, đăng ký sử dụng hoá chất nguy hiểm và chấp hành nghiêm chỉnh các quy định về an toàn hoá chất; đã quan tâm đến công tác an toàn trong hoạt động hóa chất nguy hiểm, xử lý nước thải công nghiệp, hạn chế ô nhiễm môi trường sinh thái; có ý thức, trách nhiệm trong việc nâng cao biện pháp quản lý, đầu tư đổi mới công nghệ; chú trọng tới công tác huấn luyện, thực hiện nghiêm các quy trình, quy phạm, kỹ thuật trong sản xuất, sử dụng hóa chất nguy hiểm nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường và cải thiện điều kiện làm việc, nâng cao sức khỏe cho người lao động. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn một số doanh nghiệp chưa chấp hành nghiêm các quy định trong sản xuất, mua bán, vận chuyển, sử dụng các hóa chất nguy hiểm, chưa thực hiện nghiêm túc chế độ báo cáo, khai báo, hoạt động hóa chất nguy hiểm theo quy định. Việc quản lý các hoạt động sản xuất, sử dụng, kinh doanh dịch vụ các  loại hoá chất nguy hiểm còn lỏng lẻo. Nhiều doanh nghiệp có các hoạt động liên quan đến hoá chất vẫn chưa có kho chứa theo tiêu chuẩn quy định, chưa trang bị đủ những phương tiện phòng hộ cá nhân và có những biện pháp xử lý tình huống khi có sự cố xảy ra; một số công nhân đều chưa được tập huấn, huấn luyện về an toàn hoá chất; các kho chứa, thùng chứa hoá chất không đảm bảo tiêu chuẩn theo quy định, không có các biển báo cấm có liên quan tới an toàn hoá chất. Nguyên nhân, là do các doanh nghiệp còn thiếu thông tin, tài liệu liên quan đến hoạt động hóa chất. Nhiều doanh nghiệp chưa nắm bắt được các quy định của pháp luật và chức năng, nhiệm vụ của cơ quan quản lý Nhà nước, nên việc thực hiện chế độ báo cáo, khai báo hóa chất còn hạn chế.

Hóa chất công nghiệp là gì? Nên mua hóa chất công nghiệp ở đâu?

Nhằm giúp các doanh nghiệp thực hiện đúng các quy định của pháp luật trong hoạt động kinh doanh hóa chất nguy hiểm, những năm qua, Sở Công thương Phú Thọ- cơ quan chuyên ngành quản lý hóa chất nguy hiểm đã có nhiều hoạt động thiết thực như: Tổ chức tập huấn về quản lý hóa chất nguy hiểm cho các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh có liên quan đến hóa chất nguy hiểm trên địa bàn, đồng thời hướng dẫn các doanh nghiệp thực hiện khai báo quản lý hóa chất theo quy định của Bộ Công thương; xây dựng phiếu an toàn hóa chất; lập hồ sơ đánh giá hóa chất mới; xây dựng kế hoạch ngăn ngừa, khắc phục sự cố hóa chất; xây dựng khoảng cách an toàn của cơ sở sản xuất, kho chứa hóa chất… Bên cạnh việc tuyên truyền phổ biến kiến thức pháp luật về việc sử dụng hóa chất cho các doanh nghiệp, ngành cũng đã tiến hành nhiều đợt kiểm tra công tác an toàn công nghiệp và hoạt động quản lý, sử dụng hóa chất nguy hiểm tại một số doanh nghiệp trọng điểm, đồng thời yêu cầu các doanh nghiệp có hoạt động hóa chất trên địa bàn báo cáo định kỳ về tình hình sản xuất, sử dụng, mua bán hóa chất nguy hiểm.

Với mục tiêu phát triển công nghiệp hóa chất bền vững, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất kinh doanh và sử dụng hóa chất an toàn, hiệu quả, góp phần bảo vệ sức khỏe con người, bảo vệ môi trường, tới đây Sở Công thương  sẽ tiếp tục phối hợp với các cơ quan chức năng và cùng các doanh nghiệp, tập trung thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật về hóa chất; tiếp tục tổ chức thanh, kiểm tra toàn diện các doanh nghiệp có hoạt động hóa chất trên địa bàn, xử lý nghiêm các vi phạm theo quy định; tập trung đôn đốc, hướng dẫn các doanh nghiệp triển khai xây dựng kế hoạch ngăn ngừa, khắc phục sự cố do hóa chất gây ra.

Nguồn: baophutho.vn

2021-11-15 / by / in
Công nghiệp hoá chất và định hướng phát triển

Công nghiệp hóa chất là ngành chủ chốt trong sản xuất các hóa chất công nghiệp. Đây là tâm điểm cho nền công nghiệp hiện đại, vì bất kì ngành nghề nào đều cần đến.

Công nghiệp hóa chất điển hình trong việc chuyển đổi các vật liệu thô như dầu, khí thiên nhiên, nước, kim loại và hóa chất thành hơn 7000 sản phẩm hóa chất khác nhau.

Ngành công nghiệp hóa chất và công nghiệp nhẹ có liên quan mật tiết với nhau, công nghiệp hóa chất hỗ trợ rất nhiều ngành công nghiệp khác nhau.

Đặc điểm của ngành công nghiệp hóa chất là tính đa đạng về sản phẩm phục vụ cho tất cả các ngành kinh tế kỹ thuật. Từ đó ngành công nghiệp này có thể khai thác mọi thế mạnh tài nguyên của đất nước từ khoáng sản, dầu khí tới sản phẩm, phụ phẩm và thậm chí cả phế thải của công nghiệp, nông nghiệp.

Thực trạng ngành hóa chất công nghiệp nước ta hiện nay

Các ngành học công nghiệp hóa chất được quan tâm và yêu cầu sinh viên rất cao, những người học ngành hóa chất không chỉ có sức kiên trì vượt trội mà còn có năng lực.

Việc sử dụng hóa chất trong các ngành công nghiệp, các khâu sản xuất, các xí nghiệp, nhà xưởng, xí nghiệp may, sản xuất lương thực thực phẩm đã dần quen thuộc đối với người dân Việt…

Ngành công nghiệp hóa chất phổ biến, đạt nhiều thành tự và đã trở thành ngành kinh tế trọng điểm của Việt Nam.

Chợ Kim Biên tại thành phố Hồ Chí Minh là ví dụ điển hình, nơi đây cung cấp, kinh doanh tất cả các loại hóa chất, cho tất cả ngành nghề.

Ngoài ra còn có nhiều doanh nghiệp sản xuất quy mô lớn hơn.

Lịch sử phát triển của công nghiệp hóa chất

Hóa chất đầu tiên được sản xuất là Axit Sunfuric, được phát minh và sản xuất số lượng lớn. Năm 1736, nhà dược sĩ Joshua Ward đã phát triển một quy trình sản xuất có liên quan đến nồng độ muối, cho phép oxy hóa lưu huỳnh và kết hợp với nước. Đây là lần đầu tiên có quy trình sản xuất axit sulfuric trên quy mô lớn. John Roebuck và Samuel Garbett là những người đầu tiên thành lập một nhà máy quy mô lớn ở Prestonpans, Scotland vào năm 1749, tại đó sử dụng các buồng ngưng tụ bằng chì để sản xuất axit sulfuric.

Tại Việt Nam, công nghiệp hóa chất cũng ra đời rất sớm như các ngành công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ khác.

Về ngành công nghiệp hoá chất, Việt Nam được xây dựng trên quy mô lớn bắt đầu từ năm 1954. Trải qua hơn một thập kỷ cùng với sự phát triển nhanh chóng, ngành công nhiệp Việt Nam đã trở thành một ngành kinh tế về kỹ thuật độc lập.

Ngành Công Nghiệp Hóa Chất Là Gì - Xu Thế Thị Trường Hiện Nay

Từ năm 1980 – 1985, báo cáo ngành hóa chất việt nam là một trong những ngành thể hiện rõ tính chủ đạo của nền công nghiệp quốc doanh. Các doanh nghiệp của nhà nước đảm bảo được 70% tổng giá trị sản lượng toàn ngành. Năm 1985, nó chiếm tỉ trọng cao trong toàn bộ ngành công nghiệp của Việt Nam.

Bắt đầu từ thời kỳ đổi mới 1986, nền công nghiệp hoá chất nước ta đã phát triển ổn định. Tốc độ tăng trưởng cao nhất vào thời kỳ 1991 – 1995, đạt mức ở 20%/năm. Những năm cuối thế kỷ XX, ngành công nghiệp hoá chất nước ta cũng tăng trưởng ở tất cả các thành phần kinh tế.

Sản phẩm công nghiệp nhựa là thùng phuy 220l, có công dụng chứa đựng các hóa chất công nghiệp, chỉ xài 1 lần.

Các chuyên ngành và sản phẩm chính của công nghiệp hoá chất ở Việt Nam là phân bón, hoá chất bảo vệ thực vật, chất tẩy rửa, hoá chất cơ bản, sản phẩm cao su, nhựa, điện hoá, sơn và chất dẻo.

Ngành hóa chất những năm gần đây trở thành mũi nhọn phản ánh sự phát triển công nghiệp một quốc gia. Phát triển về kinh tế kể từ thập niên 1950 đã khẳng định vai trò ngành hóa chất công nghiệp.

Điều này trở nên rõ ràng, sự cạnh tranh giữa các quốc gia, các ngành công nghiệp và các công ty trên toàn cầu. Lợi thế so sánh các quốc gia đã trở thành một vấn đề không còn chủ yếu dựa trên lợi thế về tài nguyên nữa.

Quá trình này được xuất phát từ lịch sử của ngành công nghiệp hóa chất kể từ thập niên 1850. Sự phát triển của ngành hóa chất công nghiệp kéo theo sự phát triển của nhiều ngành khác. Chính sách mà chính phủ duy trì và cải thiện tốc độ tăng trưởng và mức sống của từng đất nước.

Giai đoạn 1958-1960, phương hướng phát triển của Công nghiệp hoá chất (bao gồm cả sản xuất vật liệu xây dựng) trong thời kỳ này là:

– Sản xuất phân bón, thuốc trừ sâu phục vụ nông nghiệp.

– Phát triển mạnh vật liệu xây dựng đáp ứng nhu cầu xây dựng.

– Đẩy mạnh sản xuất các sản phẩm phục vụ các ngành kinh tế khác (acqui, hơi kỹ nghệ, gạch chịu lửa v.v…)

– Đáp ứng nhu cầu dân sinh.

Trong giai đoạn này, Công nghiệp hoá chất là một trong những ngành công nghiệp có tốc độ tăng trưởng cao nhất.

Về phân bón, từ sản lượng 6.000 tấn phốt phát năm 1955, thì năm 1960 đã đạt 541,4 nghìn tấn, trong đó apatit là 490 nghìn tấn và phốt phát nghiền là 49,7 nghìn tấn ( tăng hơn 90 lần).

Về xi măng, từ 8,4 nghìn tấn năm 1955, sản lượng năm 1960 đã đạt 407,9 nghìn tấn (tăng gần 50 lần)

Đặc biệt, trong thời kỳ này Công nghiệp hoá chất đã bắt đầu đưa ra thị trường hai mặt hàng tiêu dùng mới, đó là săm lốp xe đạp và đồ dùng bằng nhựa.

Nhìn chung, trong toàn bộ thời kỳ khôi phục, cải tạo và phát triển kinh tế kéo dài 6 năm, Công nghiệp hoá chất đã tiến một bước dài theo hướng phục vụ nông nghiệp, xây dựng cơ bản và tiêu dùng.

Trong bước đầu của nền công nghiệp Việt Nam, Công nghiệp hóa chất tại các địa phương có một vai trò rất quan trọng trong việc đáp ứng yêu cầu về mặt hàng tiêu dùng của nhân dân (xà phòng, thuốc đánh răng, sơn)… Thậm chí 45 tấn thuốc trừ sâu đầu tiên sản xuất tại Việt Nam vào năm 1960 cũng là của công nghiệp hoá chất địa phương.

Tổng quan về ngành công nghiệp hóa chất tại Việt Nam hiện nay

Thời kỳ kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 – 1965)

Đây là thời kỳ mà những kết quả đạt được của Công nghiệp hoá chất tuy chưa lớn, nhưng đối với một đất nước vừa thoát khỏi những năm dài chiến tranh, một đất nước nghèo nàn và lạc hậu, thì những thành tựu đạt được thật là to lớn và đáng tự hào.

Nhờ có 2 nhà máy phân bón, kể từ năm 1961, lần đầu tiên nước ta đã sản xuất được phân lân chế biến. Sản lượng phân hoá học trong năm 1964 , năm cao nhất của thời kỳ kế hoạch, là 205,26 nghìn tấn, trong đó supe phốt phát là 135,88 nghìn tấn.

Sản lượng apatit nguyên khai cũng tăng nhanh chóng lên đến mức cao nhất vào năm 1964, đạt 864 ngàn tấn, trong đó 7.400 tấn được nghiền làm phân bón.

Trong thời kỳ này Công nghiệp hoá chất cũng bắt đầu sản xuất nhiều thuốc trừ sâu.

Ngành hóa chất cơ bản cũng bắt đầu hình thành với các sản phẩm như axit sunfuric, axit clohyđric, xút lỏng, clo lỏng.

Ngành năng lượng điện hóa đã bắt đầu cung cấp pin và acqui cho quốc phòng, đáp ứng nhu cầu của các ngành kinh tế và tiêu dùng.

Ngành công nghiệp cao su cũng bắt đầu sản xuất được lốp ôtô với sản lượng ban đầu là 22,5 nghìn bộ (năm 1964) và sau đó, đưa lên 29 nghìn bộ (năm 1965) chưa kể một số lượng lớn lốp đắp, phục vụ kịp thời cho chiến đấu và sản xuất. Các mặt hàng tiêu dùng cũng tăng nhanh sản lượng.

Trong lĩnh vực vật liệu xây dựng, sản lượng xi măng tăng đáng kể.

Kết thúc kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, mặc dù chịu nhiều tổn thất trong chiến tranh phá hoại của Mỹ, nhưng Công nghiệp hóa chất và vật liệu xây dựng vẫn tiếp tục phát triển, chiếm vị trí quan trọng trong công nghiệp. Cơ cấu ngành cũng có nhiều thay đổi. Lĩnh vực sản xuất tăng nhanh. Chúng ta đã có Công nghiệp hoá chất vô cơ cơ bản và năng lượng hoá học.

Đã hình thành ba khu công nghiệp hoá chất tập trung ở các khu vực : Hà Nội, Vĩnh Phú (Việt Trì – Lâm Thao) và Hải Phòng.

Thời kỳ chống chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mỹ (1965 – 1975)

Sản phẩm quan trọng nhất trong thời kỳ này là phân lân. Các sản phẩm trọng yếu khác của ngành đều phục hồi nhanh và vượt xa mức trước chiến tranh.

Trong 20 năm xây dựng và phát triển, từ hòa bình lập lại đến năm 1975, Công nghiệp hoá chất đã có bước phát triển rất to lớn. Về cơ cấu ngành, đã hình thành nhiều thành phần kinh tế – kỹ thuật thiết yếu trong nền kinh tế quốc dân:

  • Công nghiệp sản xuất phân bón, thuốc trừ dịch hại và các hoá chất phục vụ nông nghiệp khác;
  • Công nghiệp mỏ phục vụ ngành hoá chất;
  • Công nghiệp cao su;
  • Công nghiệp hoá chất cơ bản;
  • Công nghiệp pin – acquy;
  • Công nghiệp xà phòng…
  • Các hóa chất cơ bản như xút, clo (cho công nghiệp giấy, công nghiệp thực phẩm và xử lý nước), axit sunfuric ( cho công nghiệp acquy,sản xuất phèn) v.v… cũng hoàn toàn do các cơ sở quốc doanh đảm nhiệm. Tất cả các hoá chất và sản phẩm liên quan đến hoá chất cần thiết cho quốc phòng đều do Tổng cục Hóa chất sản xuất theo kế hoạch đặc biệt nhằm đáp ứng các yêu cầu cụ thể.
  • Ngoài sản xuất, khu vực nghiên cứu thiết kế cũng được hình thành. Trong ngành có hai cơ quan khoa học là Viện Hoá học Công nghiệp (thành lập năm 1955) Và Viện Thiết kế Hoá chất (thành lập năm 1967).Ngành có một trường đào tạo kỹ thuật viên, hai trường đào tạo công nhân kỹ thuật và một trường quản lý kinh tế.

Giai đoạn phát triển 1976-1985 của ngành

Trong kỳ kế hoạch này, nhờ Nhà máy Phân lân Ninh Bình đi vào sản xuất và Nhà máy Supe phốt phát Lâm Thao tiếp tục mở rộng, đưa công suất lên 300 nghìn tấn/năm, nên sản lượng phân lân chế biến năm 1985 đã tăng gấp 1,5 lần so với năm 1980. Sản lượng thuốc trừ sâu cũng tăng gấp 2,2 lần. Các sản phẩm chủ yếu khác như các hóa chất vô cơ cơ bản và nhất là các sản phẩm tiêu dùng thiết yếu của ngành như săm lốp xe đạp, pin, chất tẩy rửa v.v… đều tăng sản lượng và số mặt hàng. Tuy nhiên, các sản phẩm phụ thuộc nhiều vào nguyên liệu nhập khẩu đều bị giảm. Điển hình là săm lốp ôtô, thuốc đánh răng và xà phòng thơm.

Thời kỳ kế hoạch 5 năm (1991 – 1995)

Mặc dù khu vực ngoài quốc doanh phát triển mạnh, đặc biệt là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, nhưng các doanh nghiệp quốc doanh vẫn giữ vai trò chủ đạo, chiếm tỷ trọng 74,4%, trong đó hai Tổng công ty Hóa chất chiếm 43%.

Khu vực công nghiệp địa phương trong sản xuất với số lượng doanh nghiệp còn rất ít, nhưng cũng có một vị trí đáng kể trong ngành. Giá trị sản xuất công nghiệp năm 1995 của các liên doanh đã chiếm 13,6% giá trị toàn ngành.

Giai đoạn năm 1995 -2009

Giai đoạn này, Tổng Công ty Hóa chất Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc, đã tăng nhanh năng lực sản xuất, kinh doanh, tiếp tục đóng góp lớn cho việc bảo đảm cung ứng nhiều sản phẩm hàng hoá thiết yếu cho nền kinh tế; tạo nguồn thu cho ngân sách; cùng với các Tập đoàn và Tổng Công ty nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong ngành sản xuất phân bón và một số lĩnh vực then chốt của nền kinh tế. Quy mô vốn sở hữu của Tổng Công ty từ 2006 đã tăng lên đáng kể. Năm 2006, tổng vốn chủ sở hữu của Tổng Công ty là 4.342 tỷ đồng, cuối năm 2008 đã đạt 6.818 tỷ đồng, tăng 56,79; các chỉ tiêu kinh tế chủ yếu đều vượt so với kế hoạch đề ra, duy trì được tốc độ tăng trưởng. Tính đến thời điểm 30 tháng 11 năm 2009, ngoài Công ty mẹ, Tổng Công ty có 10 Công ty con mà Tổng Công ty giữ 100% vốn điều lệ, 10 Công ty trên 50% vốn điều lệ, 11 Công ty liên kết và 4 Công ty liên danh với nước ngoài, một Trường cao đẳng và một Viện nghiên cứu, phát triển.

Những năm gần đây, trong bối cảnh toàn cầu hoá, hội nhập ngày càng sâu rộng, phải cạnh tranh ngày càng gay gắt cả trong nước và quốc tế, Tổng Công ty có những phát triển vượt bậc và toàn diện trên các mặt sản xuất, kinh doanh, đầu tư xây dựng cơ bản, lao động sáng tạo, ứng dụng thành tựu KHCN, bảo vệ môi trường, công tác xã hội từ thiện ….

Tổng Công ty đã góp phần đảm bảo an ninh lương thực đất nước, mỗi năm cung cấp cho nông dân 1,4 triệu tấn phân chứa lân gồm supe photphat và phân lân nung chảy; đáp ứng 100% nhu cầu của cả nước; khoảng 1,4 – 1,6 triệu tấn phân NPK các loại và 150 nghìn tấn phân đạm. Ngoài phân bón, các ngành như cao su (săm lốp ôtô, xe đạp, xe máy); chất giặt rửa, các sản phẩm điện hóa (pin, ắcquy), hoá chất cơ bản (xút, axít …) cũng được phát triển. Trong 10 năm 1998-2008, tốc độ tăng trưởng bình quân của Tổng Công ty là 11,13%, chiếm tỷ trọng 10%, giữ vị trí đáng kể trong toàn ngành công nghiệp.

NGÀNH CÔNG NGHIỆP HÓA CHẤT VÀ CÁC NHÀ MÁY SẢN XUẤT HÓA CHẤT CÔNG NGHIỆP -

Ngày 23/12/2009, Thủ tướng Chính Phủ ban hành Quyết định số 2180 TTg thành lập Tập đoàn Hóa chất Việt Nam (VINACHEM) và ngày 20 tháng 1 năm 2010, Tập đoàn Hóa chất Việt Nam đã làm lễ ra mắt tại Hà Nội. Tập đoàn Hóa chất Việt Nam là doanh nghiệp đa sở hữu, trong đó sở hữu nhà nước là chi phối, hoạt động theo mô hình Công ty mẹ – Công ty con, được thành lập theo trên cơ sở xắp xếp, tổ chức lại Tổng công ty Hóa chất Việt Nam.

Năm 2000 giá trị tổng sản lượng của công ty đạt 6.227 tỉ đồng, tăng 19,7% so với năm 1999. (theo Tổng Công ty Hoá chất Việt Nam)

Việt Nam thực hiện công cuộc đổi mới, những cải cách kinh tế đã thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế, phát triển công nghiệp – nông nghiệp. Nhu cầu về nguyên liệuhoá chất cũng ngày càng tăng với tốc độ tăng trưởng sản xuất hoá chất hằng năm là 15%. Sự tăng trưởng kinh tế đó đẫn đến gia tăng lượng chất thải và phát sinh nhiều chủng loại chất thải độc hại.

Tình trạng đó đã tác động đến môi trường. Việt Nam đang trong tình trạng thiệt hại về môi trường ở mức cao (khoảng 10% GDP) và giá trị này đang có khuynh hướng gia tăng (theo TS. Trương Mạnh Tiến). Các dây chuyền sản xuất hoá chất hoặc có sử dụng hoặc thiếu nhiều trang bị an toàn. Công nghệ sản xuất sạch hơn trong sản xuất hoá chất còn chưa được áp dụng rộng rãi.

Nhiều hoá chất độc hại trong dây chuyền chưa được thay thế. Các cơ sở sản xuất còn thiếu hệ thống xử lý chất thải.

Nổi bật là vụ rò rỉ khí mêtan ngày 11/01/1999 ở mỏ than Mạo Khê, Quảng Ninh làm 19 người chết, 12 người bị thương; hay vụ ngạt khí mêtan ngày 06/07/2000 tại công ty thủy sản Cam Ranh, Khánh Hoà làm 4 người chết (theo “hiện trạng môi trường Việt Nam năm 2000”, báo cáo của Bộ KHCN&MT trình Quốc hội khoá X). Vấn đề môi trường ở các nhà máy sản xuất hoá chất thường xuyên được đặt ra. Tại mỗi nhà máy cần có những đánh giá tình trạng môi trường và hiệu quả của những biện pháp kiểm soát môi trường tại cơ sở.

Công nghiệp Việt Nam đặt ra nhu cầu về xử lý – tận dụng chất thải của ngành hoá chất và đây cũng là nhiệm vụ của ngành hoá chất trong quá trình xây dựng nền kinh tế phát triển bền vững.

So với các nước Đông Nam Á khác như Indonexia, Thái Lan, Xingapo thì công nghiệp hoá chất Việt Nam hãy còn nhỏ bé. Cho tới nay, chúng ta chỉ mới khai thác dầu thô, đang xây dựng nhà máy lọc dầu. Có công nghiệp hoá dầu mới phát triển mạnh các ngành sản xuất hoá chất hữu cơ và sản phẩm từ háo chất hữu cơ như sản xuất phân đạm, sợi hoá học, sơ, chất dẻo… Khai thác khoáng sản ở ta cũng chưa phát triển, chỉ ở mức xuất khẩu quặng, chưa có công nghệ chế biến tiên tiến. Ngành sản xuất hoá chất vô cơ chưa đáp ứng nhu cầu trong nước.

Sự ra đời của Tập đoàn Hóa chất Việt Nam là một dấu ấn quan trọng, một bước ngoặt lịch sử, tạo ra thế và lực mới để phát triển Ngành hóa chất Việt Nam trong thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21.

Khác với đóng góp trực tiếp vào nông nghiệp. Công nghiệp hóa chất đóng góp gián tiếp cho hầu hết mọi lĩnh vực của mỗi nền kinh tế. Trong cuộc sống hàng ngày, con người sử dụng rất nhiều sản phẩm công nghiệp và hầu hết trong đó có liên quan đến Công nghiệp hóa chất theo cách này hay cách khác.

Sản xuất hàng tiêu dùng sử dụng khoảng 10% hóa chất trực tiếp, nhưng các ngành khác gián tiếp tham gia vào hàng tiêu dùng cũng sử dụng đáng kể các sản phẩm hóa học.

Các sản phẩm hóa chất thông thường bao gồm bột màu, cao su tổng hợp, polyme, nhựa và chất nổ. Nhựa, muối, axit và phân bón là những sản phẩm được sử dụng rộng rãi và gắn bó cũng như ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống hàng ngày của con người. Các ngành công nghiệp hàng tiêu dùng, nông nghiệp và các nhà sản xuất đều sử dụng các sản phẩm này.

Nguồn: eiindustrial.com

2021-11-12 / by / in
NGÀNH HÓA CHẤT: ƯU TIÊN CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH

Công tác cải cách hành chính của Cục Hóa chất (Bộ Công Thương) thời gian qua được các tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp đánh giá cao bởi đã loại bỏ và đơn giản hóa nhiều điều kiện, thủ tục hành chính

Theo Cục Hóa chất, năm 2018, Cục đã thực hiện hủy bỏ, bãi bỏ 24 TTHC, công bố ban hành mới 18 TTHC trong lĩnh vực hóa chất. Trong đó, 18/18 TTHC được áp dụng trên môi trường mạng internet từ cấp độ 3 trở lên; 4 TTHC áp dụng cơ chế hải quan 1 cửa quốc gia (khai báo hóa chất; cấp Giấy phép xuất nhập khẩu vật liệu nổ công nghiệp; cấp Giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu tiền chất thuốc nổ và cấp Giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu tiền chất công nghiệp); 2 thủ tục cấp Giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu tiền chất thuốc nổ và cấp Giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu tiền chất công nghiệp chính thức triển khai trên cơ chế một cửa quốc gia từ ngày 24/12/2018.

Thực hiện các Nghị quyết của Chính phủ về đơn giản hóa TTHC, tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp tăng cường khả năng cạnh tranh quốc gia, Cục Hóa chất rà soát, đề xuất bãi bỏ và đơn giản hóa 46/130 điều kiện sản xuất, kinh doanh (tương đương với 35,4%).

Ông Nguyễn Văn Thanh – Cục trưởng Cục Hóa chất – cho biết, từ ngày 7/1/2019, Thông tư số 49/2018/ TT-BCT bãi bỏ Thông tư số 42/2013/TT-BCT ngày 31/12/2013 của Bộ trưởng Bộ Công Thương quy định quản lý, kiểm soát tiền chất trong lĩnh vực công nghiệp có hiệu lực, các tổ chức, cá nhân trong khu chế xuất khi nhập khẩu tiền chất từ doanh nghiệp nội địa và tổ chức, cá nhân khi xuất khẩu tiền chất từ nội địa vào khu chế xuất sẽ không phải xin Giấy phép xuất, nhập tiền chất công nghiệp. Như vậy, theo thống kê của Cục Hóa chất, sẽ giảm khoảng 6.000 hồ sơ/năm, tương đương 50% hồ sơ mà doanh nghiệp không phải xin cấp phép xuất nhập khẩu tiền chất công nghiệp.

“Thời gian trả kết quả TTHC giảm từ 7-10 ngày (tùy từng TTHC) xuống chỉ còn 3-5 ngày. Riêng khai báo hóa chất, chỉ sau khoảng 15 giây điền đầy đủ thông tin trên internet, tổ chức, cá nhân sẽ nhận được kết quả phản hồi tự động”- ông Nguyễn Văn Thanh thông tin.

Tiếp tục rà soát, bãi bỏ

Cục Hóa chất đang tiếp tục thực hiện các TTHC được công bố trong bộ TTHC thuộc chức năng quản lý nhà nước của Bộ Công Thương; rà soát TTHC trong lĩnh vực phụ trách để hoàn thành các phương án đơn giản hóa TTHC trong những năm tiếp theo.

Cụ thể, Cục Hóa chất đang tiến hành rà soát để bãi bỏ một số điều kiện đầu tư trong lĩnh vực hóa chất và tiền chất thuốc nổ phục vụ xây dựng Nghị định liên quan đến điều kiện đầu tư, kinh doanh thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Công Thương.

Ông Nguyễn Văn Thanh nhấn mạnh, năm 2019, Cục Hóa chất tiếp tục hoàn thành xây dựng Nghị định xử phạt trong lĩnh vực hóa chất, thông tư quy định về quản lý tiền chất thuốc nổ; Nghị định về việc thực hiện Công ước Minamata về thủy ngân; hoàn thiện Đề án xây dựng quyết định sửa đổi bổ sung một số điều của quy chế hoạt động ứng phó sự cố hóa chất độc ban hành kèm theo Quyết định số 26/2016/ QĐ-TTg ngày 1/7/2016 của Thủ tướng Chính phủ.

Rà soát, đơn giản hóa TTHC và thực hiện qua dịch vụ công trực tuyến đã mang lại những kết quả nhất định: Tiết giảm thời gian, nhân lực, chi phí, đồng thời tăng độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp.

2021-11-12 / by / in
Phát huy tiềm năng của ngành công nghiệp hóa chất

Ngành hóa chất là ngành công nghiệp có đóng góp quan trọng trong hầu hết các hoạt động công nghiệp; góp phần quan trọng trong đảm bảo an ninh lương thực và đồng hành, hỗ trợ quá trình công nghiệp hoá, phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Vì vậy, trong bối cảnh mới đòi hỏi phải có những định hướng, giải pháp phù hợp để ngành công nghiệp này phát triển tương xứng với tiềm năng.

Hóa chất là ngành công nghiệp quan trọng 
Theo Cục trưởng Cục Hóa chất Nguyễn Văn Thanh, tổng sản lượng công nghiệp hoá chất Việt Nam hàng năm chiếm khoảng 10-11% tổng giá trị GDP ngành công nghiệp, lực lượng lao động chiếm gần 10% và có năng suất lao động cao 1,36 lần năng suất lao động trung bình của toàn ngành công nghiệp do có mức độ tự động hoá khá cao.Theo tính toán, sau khi các dự án đang triển khai hoàn thành và hoạt động ổn định, giá trị tổng sản lượng ngành công nghiệp hóa chất chiếm tỷ trọng từ 13-14% toàn ngành công nghiệp.

Thực tế cho thấy, công nghiệp hóa chất đòi hỏi quy mô đầu tư rất lớn, yêu cầu công nghệ cao, nghiêm ngặt và tiềm ẩn nhiều rủi ro. Tại Việt Nam, các doanh nghiệp còn hạn chế về tiềm lực kinh tế, đầu tư nhỏ lẻ, dàn trải, thiếu công nghệ nguồn.

Ở nhiều địa phương, sự nhìn nhận về vai trò, tầm quan trọng của phát triển công nghiệp hóa chất chưa đầy đủ, lo ngại nguy cơ ô nhiễm và nguy hiểm, dẫn đến chủ trương phát triển của nhiều địa phương là không thu hút đầu tư công nghiệp hóa chất, thay vào đó là một số ngành nghề dịch vụ, du lịch, công nghiệp chế biến chế tạo khác.

Tin tức hoá chất công nghiệp | Hóa chất phân bón BTC

Những quan niệm trên gây khó khăn cho các nhà đầu tư, cản trở sự phát triển của công nghiệp hóa chất. Trong khi đó, công nghiệp hóa chất là một trong những ngành công nghiệp nền tảng, làm tiền đề hỗ trợ cho nhiều ngành công nghiệp cũng như cung cấp các sản phẩm thiết yếu quan trọng khác.

Một rào cản nữa hiện nay là công tác quản lý ngành chưa hiệu quả, thiếu thông tin và cơ chế phối hợp cung cấp thông tin giữa các cơ quan trung ương, địa phương chưa đảm bảo thông suốt nên nhiều trường hợp doanh nghiệp, nhà đầu tư không nắm bắt được thông tin.

Do đó, Cục Hóa chất đang triển khai xây dựng Chiến lược phát triển ngành công nghiệp hóa chất Việt Nam. Dự kiến, Chiến lược sẽ có đủ thông tin dữ liệu của mỗi phân ngành, những giải pháp phù hợp để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình quản lý và phát triển ngành – ông Thanh cho biết.

Tìm hướng đi và giải pháp cho ngành công nghiệp hóa chất

Một tín hiệu đáng mừng được ghi nhận là những năm gần đây, ngành hóa chất có sự tham gia đầu tư của nhiều thành phần kinh tế, nhiều dự án quy mô lớn. Điều đó cho thấy nhu cầu của thị trường và chính sách hấp dẫn của Nhà nước đối với phát triển công nghiệp và công nghiệp hoá chất.

Trao đổi với các Hiệp hội, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực hóa chất và các đơn vị chức năng liên quan, Bộ trưởng Công Thương Nguyễn Hồng Diên nhận định, đóng góp của ngành công nghiệp hóa chất còn nhiều hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng.

Một trong những bất cập được chỉ ra là ngành công nghiệp hóa chất chưa tận dụng tối ưu nguồn tài nguyên, nguyên liệu trong nước dẫn tới chưa làm chủ được thị trường nội địa. Nhiều sản phẩm hóa chất quan trọng phục vụ phát triển sản xuất phải phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu. Một phần nguyên nhân là do đặc thù ngành sản xuất hóa chất cần mức đầu tư lớn.

Để phát triển công nghiệp hóa chất trở thành một ngành công nghiệp nền tảng cho phát triển kinh tế đất nước, Bộ trưởng Nguyễn Hồng Diên cho rằng, cần phải khẩn trương và tập trung cao để nghiên cứu đề xuất, hoàn thiện Chiến lược phát triển ngành hóa chất Việt Nam đến năm 2030 tầm nhìn đến năm 2045. Đồng thời, xây dựng kế hoạch để phân kỳ tổ chức thực hiện, đặc biệt chú trọng phát triển các lĩnh vực, sản phẩm ưu tiên, bao gồm các sản phẩm hóa chất có nhu cầu lớn, giá trị gia tăng cao, có lợi thế đảm bảo an ninh lương thực, an ninh y tế.

Thực trạng về ngành công nghiệp hóa chất ở việt nam hiện nay | CÔNG TY TNHH H2CHEMICAL VIỆT NAM

Cùng với đó, cần tập trung nghiên cứu lựa chọn địa điểm dự án phù hợp, đề xuất các ngành, cơ quan chức năng và các địa phương bổ sung trong quá trình quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh, quy hoạch quốc gia đối với ngành hóa chất và công nghiệp hóa chất.

Theo quan điểm của Bộ Công Thương, cần thu hút đầu tư theo hướng hình thành các tổ hợp sản xuất kinh doanh hóa chất tập trung, có hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, đảm bảo yêu cầu về an toàn, môi trường và có tính đến các yếu tố kinh tế chia sẻ, kinh tế tuần hoàn.

Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0, yêu cầu tất yếu đặt ra là phải đẩy mạnh hoạt động hỗ trợ, khuyến khích nghiên cứu khoa học, công nghệ trong ngành hóa chất, tập trung vào việc sử dụng các sản phẩm phụ, chất thải hiện có của ngành làm nguyên liệu cho quá trình sản xuất các sản phẩm khác.

Trước thực trạng một số dự án đầu tư, nhà đầu tư vận hành dự án chưa tuân thủ quy định về đầu tư xây dựng và an toàn hóa chất, Bộ Công Thương cũng định hướng sẽ đề xuất xây dựng giải pháp phát triển công nghiệp hóa chất xanh, hiện đại, thân thiện với môi trường, đảm bảo an toàn cho con người. Kèm theo đó là các chính sách để phát triển và quản lý mạng lưới các tổ chức tư vấn đầu tư, hỗ trợ cơ quan quản lý cũng như doanh nghiệp trong việc thực hiện các quy định về quản lý hóa chất.

Nguồn: baokiemtoannhanuoc.vn
2021-11-12 / by / in