Thêm kết quả...

Để phát triển ngành công nghiệp hóa chất bền vững

Công nghiệp hóa chất có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, bởi nó có mặt trong hầu hết các sản phẩm, từ những vật dụng thông thường đến các sản phẩm công nghệ cao. Từ lâu, các hoạt động liên quan đến hóa chất luôn tiềm ẩn nguy cơ đe dọa đến sức khỏe, tính mạng con người, an ninh xã hội và môi trường. Chính vì vậy công tác quản lý hóa chất nguy hiểm là việc làm hết sức cần thiết trong các hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.

Hiện nay trên địa bàn tỉnh có gần 50 doanh nghiệp có các hoạt động liên quan đến hoá chất (bao gồm các ngành sản xuất giấy, nhựa, phân bón, dệt may, cơ khí; các sản phẩm chất tẩy rửa và các hoá chất thải độc hại…). Trong đó có 3 doanh nghiệp sản xuất hoá chất và sử dụng hoá chất với quy mô lớn là các công ty: Giấy Bãi Bằng, Supe phốt phát và hoá chất Lâm Thao và Công ty cổ phần hoá chất Việt Trì. Còn lại là các doanh nghiệp hoạt động thương mại dịch vụ hoá chất và nguyên liệu hoá chất vào sản xuất. Các hoá chất được sử dụng đa phần là các loại hoá chất cơ bản như: Xút, Axit sunphuric, Axit clohydric… với tổng lượng sử dụng hàng năm vào khoảng trên 200.000 tấn.

Qua đánh giá của cơ quan chức năng cho thấy, về cơ bản các doanh nghiệp trên đã cơ bản chấp hành tốt các quy định của Nhà nước về quy định khai báo, đăng ký sử dụng hoá chất nguy hiểm và chấp hành nghiêm chỉnh các quy định về an toàn hoá chất; đã quan tâm đến công tác an toàn trong hoạt động hóa chất nguy hiểm, xử lý nước thải công nghiệp, hạn chế ô nhiễm môi trường sinh thái; có ý thức, trách nhiệm trong việc nâng cao biện pháp quản lý, đầu tư đổi mới công nghệ; chú trọng tới công tác huấn luyện, thực hiện nghiêm các quy trình, quy phạm, kỹ thuật trong sản xuất, sử dụng hóa chất nguy hiểm nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường và cải thiện điều kiện làm việc, nâng cao sức khỏe cho người lao động. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn một số doanh nghiệp chưa chấp hành nghiêm các quy định trong sản xuất, mua bán, vận chuyển, sử dụng các hóa chất nguy hiểm, chưa thực hiện nghiêm túc chế độ báo cáo, khai báo, hoạt động hóa chất nguy hiểm theo quy định. Việc quản lý các hoạt động sản xuất, sử dụng, kinh doanh dịch vụ các  loại hoá chất nguy hiểm còn lỏng lẻo. Nhiều doanh nghiệp có các hoạt động liên quan đến hoá chất vẫn chưa có kho chứa theo tiêu chuẩn quy định, chưa trang bị đủ những phương tiện phòng hộ cá nhân và có những biện pháp xử lý tình huống khi có sự cố xảy ra; một số công nhân đều chưa được tập huấn, huấn luyện về an toàn hoá chất; các kho chứa, thùng chứa hoá chất không đảm bảo tiêu chuẩn theo quy định, không có các biển báo cấm có liên quan tới an toàn hoá chất. Nguyên nhân, là do các doanh nghiệp còn thiếu thông tin, tài liệu liên quan đến hoạt động hóa chất. Nhiều doanh nghiệp chưa nắm bắt được các quy định của pháp luật và chức năng, nhiệm vụ của cơ quan quản lý Nhà nước, nên việc thực hiện chế độ báo cáo, khai báo hóa chất còn hạn chế.

Hóa chất công nghiệp là gì? Nên mua hóa chất công nghiệp ở đâu?

Nhằm giúp các doanh nghiệp thực hiện đúng các quy định của pháp luật trong hoạt động kinh doanh hóa chất nguy hiểm, những năm qua, Sở Công thương Phú Thọ- cơ quan chuyên ngành quản lý hóa chất nguy hiểm đã có nhiều hoạt động thiết thực như: Tổ chức tập huấn về quản lý hóa chất nguy hiểm cho các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh có liên quan đến hóa chất nguy hiểm trên địa bàn, đồng thời hướng dẫn các doanh nghiệp thực hiện khai báo quản lý hóa chất theo quy định của Bộ Công thương; xây dựng phiếu an toàn hóa chất; lập hồ sơ đánh giá hóa chất mới; xây dựng kế hoạch ngăn ngừa, khắc phục sự cố hóa chất; xây dựng khoảng cách an toàn của cơ sở sản xuất, kho chứa hóa chất… Bên cạnh việc tuyên truyền phổ biến kiến thức pháp luật về việc sử dụng hóa chất cho các doanh nghiệp, ngành cũng đã tiến hành nhiều đợt kiểm tra công tác an toàn công nghiệp và hoạt động quản lý, sử dụng hóa chất nguy hiểm tại một số doanh nghiệp trọng điểm, đồng thời yêu cầu các doanh nghiệp có hoạt động hóa chất trên địa bàn báo cáo định kỳ về tình hình sản xuất, sử dụng, mua bán hóa chất nguy hiểm.

Với mục tiêu phát triển công nghiệp hóa chất bền vững, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất kinh doanh và sử dụng hóa chất an toàn, hiệu quả, góp phần bảo vệ sức khỏe con người, bảo vệ môi trường, tới đây Sở Công thương  sẽ tiếp tục phối hợp với các cơ quan chức năng và cùng các doanh nghiệp, tập trung thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật về hóa chất; tiếp tục tổ chức thanh, kiểm tra toàn diện các doanh nghiệp có hoạt động hóa chất trên địa bàn, xử lý nghiêm các vi phạm theo quy định; tập trung đôn đốc, hướng dẫn các doanh nghiệp triển khai xây dựng kế hoạch ngăn ngừa, khắc phục sự cố do hóa chất gây ra.

Nguồn: baophutho.vn

2021-11-15 / by / in
Quy trình sản xuất đồ nhựa

Ở Việt Nam đồ dùng bằng nhựa được rất ưa chuộng và phổ biến, sản phẩm bằng nhựa có giá thành rẻ, chất lượng tương đối tốt. Bởi thế, hầu hết các công ty sản xuất bao bì đều chiếm lĩnh được thị trường và có thể dễ dàng nhận thấy, thị phần bao bì nhựa ngày càng mở rộng hơn.

Ở khuôn khổ bài viết này, hãy cùng tìm hiểu quy trình để sản xuất được các sản phẩm nhựa  – nền tảng của các sản phẩm đóng gói tiêu dùng hiện tại nhé!

Hạt nhựa nguyên sinh

Quy trình sản xuất hạt nhựa nguyên sinh là một quy trình phức tạp, được tạo ra từ dầu mỏ với những quy tắc phân tách hóa học đặc biệt, sử dụng máy móc chuyên dụng. Hạt nhựa nguyên sinh bao gồm các loại như PA, PP, ABS, PET, PS, POM,…có chất lượng cực tốt. Từ đây, nhà sản xuất bắt đầu sản xuất ra các sản phẩm nhựa đáp ứng tiêu chuẩn trong nước và quốc tế.

 

công ty sản xuất bao bì

Sản phẩm hộp nhựa dùng để chứa đựng thực phẩm

Pha màu

Đáp ứng yêu cầu của các công ty sản xuất bao bì hoặc từ phía khách hàng, mà công đoạn pha màu được tạo dựng để biến các hạt nhựa tinh khiết lúc ban đầu thành muôn vàn màu sắc sống động khác nhau. Các sản phẩm nhựa sẽ có đa dạng màu và tạo thành sự phong phú, bắt mắt khi đưa ra thị trường.

Kéo sợi nhựa

Từ quy trình sản xuất hạt nhựa nguyên sinh, trải qua công đoạn pha màu, tiếp theo, nhà sản xuất sẽ kéo sợi nhựa theo kích cỡ và đường kính khác nhau – tùy mục đích sử dụng. Tạo ra những sợi nhựa dẻo dai, dễ dàng phù hợp với việc sản xuất bao bì, hộp đựng, đồ gia dụng,…

Trộn các chất phụ gia

Với những loại sản phẩm nhựa khác nhau thì sẽ được trộn phụ gia khác nhau. Các chất phụ gia thường là phụ gia liên kết, phụ gia dai, phụ gia cứng, phụ gia đặc biệt tùy tiêu chí,…Các sản phẩm nhựa sẽ đạt độ bền, chịu được va đập, cọ sát hoặc đạt độ cứng nhờ các chất phụ gia này.

 

công ty sản xuất bao bì

Hộp nhựa đựng giầy

Ép khuôn nhựa

Các công ty sản xuất bao bì hoặc sản xuất đồ nhựa gia dụng có những yêu cầu riêng về hình dáng, kích thước, kiểu mẫu của sản phẩm. Cho nên, nhựa đã được trộn phụ gia sẽ được cho vào khuôn ép với độ chính xác cao, công nghệ hiện đại để làm nên thành phẩm vừa ý khách hàng.

Cắt gọn bavia

Công đoạn này phải do các công nhân có tay nghề cao xử lý. Bavia có thể gây xước tay hoặc làm hỏng các chi tiết khi chứa đựng sản phẩm. Bởi vậy, cắt gọn bavia để sản phẩm trở nên đảm bảo mỹ quan và an toàn khi sử dụng.

Thành phẩm

Sau tất cả các công đoạn kể trên, chúng ta sẽ có được sản phẩm nhựa như mong muốn được cung cấp tới các công ty sản xuất, cơ sở kinh doanh chế biến hoặc thị trường bán lẻ.

Nguồn: dachoaan.com

2021-11-12 / by / in
NHỮNG SẢN PHẨM CÓ THỂ TẠO RA TỪ CÔNG NGHỆ ÉP PHUN NHỰA

Ép phun nhựa hiện đã trở thành phương pháp chủ yếu để tạo ra đa dạng các sản phẩm ngành nhựa 

Công nghệ ép phun nhựa ra đời không chỉ tạo ra khối lượng sản phẩm nhựa vô cùng lớn, mà còn đa dạng chủng loại, màu sắc để đáp ứng nhu cầu sử dụng ngày càng cao của con người.

Công nghệ ép phun nhựa là gì?

Công nghệ ép phun nhựa là quá trình để sản xuất ra các sản phẩm nhựa bằng cách làm nóng chảy nhựa và bơm vào khuôn ép để tạo hình sản phẩm. Sau đó, các khuôn được làm nguội để giải phóng các bộ phận nhựa đã hoàn thành.

Ép phun nhựa rất linh hoạt và có thể tạo ra các sản phẩm nhựa từ đơn giản đến phức tạp, với số lượng lớn phục vụ cho nhiều ứng dụng khác nhau.

Một số sản phẩm nhựa được sản xuất bằng công nghệ ép phun nhựa

Đa dạng các sản phẩm nhựa được tạo ra bởi công nghệ ép phun

Ép phun nhựa là công nghệ sản xuất nhựa hiện đại, được ứng dụng và tạo ra hàng ngàn, hàng triệu các sản phẩm nhựa dùng trong đời sống hay sản xuất chi tiết lắp đặt công nghiệp. Dưới đây là một số sản phẩm nhựa thường gặp nhất:

  • Chai nhựa: là sản phẩm phổ biến được sản xuất để sử dụng hàng tỷ đơn vị mỗi năm, với nhiều hình dạng, kích cỡ và màu sắc. Thông thường, các chai nhựa được sử dụng để đựng nước và đồ uống được sản xuất bằng công nghệ ép phun được làm từ nhựa PET bởi vừa nhẹ lại bền khi sử dụng
  • Đồ gia dụng: Đồ gia dụng nhựa xuất hiện ngay ở bên cạnh chúng ta, từ những hộp đựng, đến tủ bàn, đồ dùng nhà bếp,…
  • Vỏ đồ điện tử – các thiết bị như tivi, máy tính, điều khiển từ xa, các linh kiện điện tử tiêu dùng khác,… cũng được chế tạo phổ biến bằng công nghệ ép phun nhựa
  • Đồ chơi nhựa: Nhựa với đặc tính nhẹ và bền, với nhiều kích cỡ và màu sắc khác nhau vì thế là lựa chọn tuyệt vời để sản xuất các sản phẩm đồ chơi nhựa.
  • Thiết kế cho thị trường nông nghiệp đang chuyển dịch từ vật liệu kim loại sang nhựa như một giải pháp để giảm thiểu chi phí. Sản phẩm nhựa có khả năng chống lại các tác động trong quá trình sử dụng: chịu được độ ẩm cao, bền ở nhiệt độ cao và thấp, không bị ăn mòn,…
  • Linh kiện nhựa thiết bị y tế: Trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, có hàng nghìn sản phẩm được tạo ra từ quá trình ép phun. Các sản phẩm nhựa đa dụng được sử dụng trong y tế phần lớn là đồ dùng một lần, dùng để vô trùng, ngăn ngừa sự lây lan của vi trùng hoặc bệnh tật.
  • Linh kiện ô tô: Một chiếc ô tô hiện nay bao gồm rất nhiều các chi tiết được sản xuất bằng công nghệ ép phun nhựa. Chúng ta phục vụ cho ngành công nghiệp ô tô những chi tiết như bảng điều khiển, loa, ghế ngồi,…

Các ứng dụng của sản phẩm ép phun nhựa bao gồm các sản phẩm tiêu dùng, thương mại và công nghiệp. Công nghệ ép phun nhựa cung cấp tính linh hoạt để tạo ra các thiết kế có chi tiết từ đơn giản đến phức tạp ở bất kỳ kích thước nào.

 

2021-11-12 / by / in
THỰC TRẠNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT SẢN PHẨM CAO SU – NHỰA NGÀNH CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ

Thuộc ngành công nghiệp hỗ trợ, các sản phẩm nhựa và cao su của Việt Nam cũng đang dần phải được tiêu chuẩn hóa nhằm phù hợp với xu hướng hội nhập và đáp ứng những chuẩn mực quốc tế mà Việt Nam cam kết thực hiện. Hiện nay, sự phát triển của ngành nhựa – cao su có nhiều thay đổi và tính cạnh tranh ngày càng cao trong việc sản xuất các sản phẩm nói chung và sản phẩm cao su – nhựa ngành công nghiệp hỗ trợ nói riêng. Theo đó, mục tiêu cần được hướng đến là nâng cao khả năng cung ứng sản phẩm công nghiệp hỗ trợ cho các doanh nghiệp công nghệ cao đồng thời nâng cao chất lượng sản phẩm nhựa cao su truyền thống.

 

Giai đoạn từ 2016 – 2020, trên cả nước có hơn 3.000 doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh trong lĩnh vực cao su – nhựa. Trong đó, 70% Doanh nghiệp thuộc TP.Hồ Chí Minh với hơn 120 hội viên của Hội Cao su – Nhựa TP. Hồ Chí Minh đang sản xuất 30% lốp xe hơi, 50% lốp xe hai bánh, 70% cao su kỹ thuật,… Năm 2020, tỷ trọng đóng góp của ngành vào khoảng 15,75%, giảm 1,25% so với năm 2013

Các sản phẩm cao su – nhựa ngành công nghiệp hỗ trợ chủ yếu được tiêu thụ thị trường trong nước, với khoảng 92% doanh thu. Nhìn chung năng lực cung ứng và sản xuất của các doanh nghiệp sản xuất nhựa – cao su còn thấp: đáp ứng được 85-90% nhu cầu của ngành sản xuất, lắp ráp xe máy; 20% nhu cầu của ngành sản xuất, lắp ráp ô tô; 40% nhu cầu của ngành điện tử gia dụng; 15% nhu cầu của ngành điện tử tin học, viễn thông và 5% nhu cầu của ngành công nghiệp công nghệ cao.

Một số sản phẩm cao su cơ bản được các doanh nghiệp trong công nghiệp hỗ trợ cao su sản xuất như: Cao su gác chân, giảm chấn, cao su đệm…. Trong khi đó, đa phần những sản phẩm cao su cao cấp như dây đai truyền lực, phớt, ống cao su thủy lực… đều được nhập khẩu hoặc do các doanh nghiệp FDI cung cấp.

Có thể thấy chính sự manh mún trong phát triển ngành chưa tạo ra một chuỗi cung ứng khiến cho các doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm cao su – nhựa ngành công nghiệp hỗ trợ phát triển chưa hiệu quả, các doanh nghiệp sản xuất đơn lẻ, không kết hợp tạo ra cụm sản phẩm, đồng thời chưa có sự đầu tư lớn về công nghệ sản xuất hiện đại, do đó, năng lực để làm các đơn hàng số lượng lớn và chất lượng cao còn rất hạn chế. Không chỉ vậy, một trong những thách thức lớn nhất của ngành chính là việc chịu sức ép cạnh tranh trực tiếp từ các sản phẩm nước ngoài, khi phần lớn các công ty này đều sản xuất theo chuỗi cung ứng toàn cầu, áp dụng cải tiến công nghệ hiện đại, thân thiện với môi trường. Do đó, để tăng sức cạnh tranh thị phần trong nước cũng như hướng đến xuất khẩu, các doanh nghiệp trong nước cần phải khắc phục các hạn chế trên.

Nguồn: tuonglai.vn

2021-11-12 / by / in
Công nghiệp hoá chất và định hướng phát triển

Công nghiệp hóa chất là ngành chủ chốt trong sản xuất các hóa chất công nghiệp. Đây là tâm điểm cho nền công nghiệp hiện đại, vì bất kì ngành nghề nào đều cần đến.

Công nghiệp hóa chất điển hình trong việc chuyển đổi các vật liệu thô như dầu, khí thiên nhiên, nước, kim loại và hóa chất thành hơn 7000 sản phẩm hóa chất khác nhau.

Ngành công nghiệp hóa chất và công nghiệp nhẹ có liên quan mật tiết với nhau, công nghiệp hóa chất hỗ trợ rất nhiều ngành công nghiệp khác nhau.

Đặc điểm của ngành công nghiệp hóa chất là tính đa đạng về sản phẩm phục vụ cho tất cả các ngành kinh tế kỹ thuật. Từ đó ngành công nghiệp này có thể khai thác mọi thế mạnh tài nguyên của đất nước từ khoáng sản, dầu khí tới sản phẩm, phụ phẩm và thậm chí cả phế thải của công nghiệp, nông nghiệp.

Thực trạng ngành hóa chất công nghiệp nước ta hiện nay

Các ngành học công nghiệp hóa chất được quan tâm và yêu cầu sinh viên rất cao, những người học ngành hóa chất không chỉ có sức kiên trì vượt trội mà còn có năng lực.

Việc sử dụng hóa chất trong các ngành công nghiệp, các khâu sản xuất, các xí nghiệp, nhà xưởng, xí nghiệp may, sản xuất lương thực thực phẩm đã dần quen thuộc đối với người dân Việt…

Ngành công nghiệp hóa chất phổ biến, đạt nhiều thành tự và đã trở thành ngành kinh tế trọng điểm của Việt Nam.

Chợ Kim Biên tại thành phố Hồ Chí Minh là ví dụ điển hình, nơi đây cung cấp, kinh doanh tất cả các loại hóa chất, cho tất cả ngành nghề.

Ngoài ra còn có nhiều doanh nghiệp sản xuất quy mô lớn hơn.

Lịch sử phát triển của công nghiệp hóa chất

Hóa chất đầu tiên được sản xuất là Axit Sunfuric, được phát minh và sản xuất số lượng lớn. Năm 1736, nhà dược sĩ Joshua Ward đã phát triển một quy trình sản xuất có liên quan đến nồng độ muối, cho phép oxy hóa lưu huỳnh và kết hợp với nước. Đây là lần đầu tiên có quy trình sản xuất axit sulfuric trên quy mô lớn. John Roebuck và Samuel Garbett là những người đầu tiên thành lập một nhà máy quy mô lớn ở Prestonpans, Scotland vào năm 1749, tại đó sử dụng các buồng ngưng tụ bằng chì để sản xuất axit sulfuric.

Tại Việt Nam, công nghiệp hóa chất cũng ra đời rất sớm như các ngành công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ khác.

Về ngành công nghiệp hoá chất, Việt Nam được xây dựng trên quy mô lớn bắt đầu từ năm 1954. Trải qua hơn một thập kỷ cùng với sự phát triển nhanh chóng, ngành công nhiệp Việt Nam đã trở thành một ngành kinh tế về kỹ thuật độc lập.

Ngành Công Nghiệp Hóa Chất Là Gì - Xu Thế Thị Trường Hiện Nay

Từ năm 1980 – 1985, báo cáo ngành hóa chất việt nam là một trong những ngành thể hiện rõ tính chủ đạo của nền công nghiệp quốc doanh. Các doanh nghiệp của nhà nước đảm bảo được 70% tổng giá trị sản lượng toàn ngành. Năm 1985, nó chiếm tỉ trọng cao trong toàn bộ ngành công nghiệp của Việt Nam.

Bắt đầu từ thời kỳ đổi mới 1986, nền công nghiệp hoá chất nước ta đã phát triển ổn định. Tốc độ tăng trưởng cao nhất vào thời kỳ 1991 – 1995, đạt mức ở 20%/năm. Những năm cuối thế kỷ XX, ngành công nghiệp hoá chất nước ta cũng tăng trưởng ở tất cả các thành phần kinh tế.

Sản phẩm công nghiệp nhựa là thùng phuy 220l, có công dụng chứa đựng các hóa chất công nghiệp, chỉ xài 1 lần.

Các chuyên ngành và sản phẩm chính của công nghiệp hoá chất ở Việt Nam là phân bón, hoá chất bảo vệ thực vật, chất tẩy rửa, hoá chất cơ bản, sản phẩm cao su, nhựa, điện hoá, sơn và chất dẻo.

Ngành hóa chất những năm gần đây trở thành mũi nhọn phản ánh sự phát triển công nghiệp một quốc gia. Phát triển về kinh tế kể từ thập niên 1950 đã khẳng định vai trò ngành hóa chất công nghiệp.

Điều này trở nên rõ ràng, sự cạnh tranh giữa các quốc gia, các ngành công nghiệp và các công ty trên toàn cầu. Lợi thế so sánh các quốc gia đã trở thành một vấn đề không còn chủ yếu dựa trên lợi thế về tài nguyên nữa.

Quá trình này được xuất phát từ lịch sử của ngành công nghiệp hóa chất kể từ thập niên 1850. Sự phát triển của ngành hóa chất công nghiệp kéo theo sự phát triển của nhiều ngành khác. Chính sách mà chính phủ duy trì và cải thiện tốc độ tăng trưởng và mức sống của từng đất nước.

Giai đoạn 1958-1960, phương hướng phát triển của Công nghiệp hoá chất (bao gồm cả sản xuất vật liệu xây dựng) trong thời kỳ này là:

– Sản xuất phân bón, thuốc trừ sâu phục vụ nông nghiệp.

– Phát triển mạnh vật liệu xây dựng đáp ứng nhu cầu xây dựng.

– Đẩy mạnh sản xuất các sản phẩm phục vụ các ngành kinh tế khác (acqui, hơi kỹ nghệ, gạch chịu lửa v.v…)

– Đáp ứng nhu cầu dân sinh.

Trong giai đoạn này, Công nghiệp hoá chất là một trong những ngành công nghiệp có tốc độ tăng trưởng cao nhất.

Về phân bón, từ sản lượng 6.000 tấn phốt phát năm 1955, thì năm 1960 đã đạt 541,4 nghìn tấn, trong đó apatit là 490 nghìn tấn và phốt phát nghiền là 49,7 nghìn tấn ( tăng hơn 90 lần).

Về xi măng, từ 8,4 nghìn tấn năm 1955, sản lượng năm 1960 đã đạt 407,9 nghìn tấn (tăng gần 50 lần)

Đặc biệt, trong thời kỳ này Công nghiệp hoá chất đã bắt đầu đưa ra thị trường hai mặt hàng tiêu dùng mới, đó là săm lốp xe đạp và đồ dùng bằng nhựa.

Nhìn chung, trong toàn bộ thời kỳ khôi phục, cải tạo và phát triển kinh tế kéo dài 6 năm, Công nghiệp hoá chất đã tiến một bước dài theo hướng phục vụ nông nghiệp, xây dựng cơ bản và tiêu dùng.

Trong bước đầu của nền công nghiệp Việt Nam, Công nghiệp hóa chất tại các địa phương có một vai trò rất quan trọng trong việc đáp ứng yêu cầu về mặt hàng tiêu dùng của nhân dân (xà phòng, thuốc đánh răng, sơn)… Thậm chí 45 tấn thuốc trừ sâu đầu tiên sản xuất tại Việt Nam vào năm 1960 cũng là của công nghiệp hoá chất địa phương.

Tổng quan về ngành công nghiệp hóa chất tại Việt Nam hiện nay

Thời kỳ kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 – 1965)

Đây là thời kỳ mà những kết quả đạt được của Công nghiệp hoá chất tuy chưa lớn, nhưng đối với một đất nước vừa thoát khỏi những năm dài chiến tranh, một đất nước nghèo nàn và lạc hậu, thì những thành tựu đạt được thật là to lớn và đáng tự hào.

Nhờ có 2 nhà máy phân bón, kể từ năm 1961, lần đầu tiên nước ta đã sản xuất được phân lân chế biến. Sản lượng phân hoá học trong năm 1964 , năm cao nhất của thời kỳ kế hoạch, là 205,26 nghìn tấn, trong đó supe phốt phát là 135,88 nghìn tấn.

Sản lượng apatit nguyên khai cũng tăng nhanh chóng lên đến mức cao nhất vào năm 1964, đạt 864 ngàn tấn, trong đó 7.400 tấn được nghiền làm phân bón.

Trong thời kỳ này Công nghiệp hoá chất cũng bắt đầu sản xuất nhiều thuốc trừ sâu.

Ngành hóa chất cơ bản cũng bắt đầu hình thành với các sản phẩm như axit sunfuric, axit clohyđric, xút lỏng, clo lỏng.

Ngành năng lượng điện hóa đã bắt đầu cung cấp pin và acqui cho quốc phòng, đáp ứng nhu cầu của các ngành kinh tế và tiêu dùng.

Ngành công nghiệp cao su cũng bắt đầu sản xuất được lốp ôtô với sản lượng ban đầu là 22,5 nghìn bộ (năm 1964) và sau đó, đưa lên 29 nghìn bộ (năm 1965) chưa kể một số lượng lớn lốp đắp, phục vụ kịp thời cho chiến đấu và sản xuất. Các mặt hàng tiêu dùng cũng tăng nhanh sản lượng.

Trong lĩnh vực vật liệu xây dựng, sản lượng xi măng tăng đáng kể.

Kết thúc kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, mặc dù chịu nhiều tổn thất trong chiến tranh phá hoại của Mỹ, nhưng Công nghiệp hóa chất và vật liệu xây dựng vẫn tiếp tục phát triển, chiếm vị trí quan trọng trong công nghiệp. Cơ cấu ngành cũng có nhiều thay đổi. Lĩnh vực sản xuất tăng nhanh. Chúng ta đã có Công nghiệp hoá chất vô cơ cơ bản và năng lượng hoá học.

Đã hình thành ba khu công nghiệp hoá chất tập trung ở các khu vực : Hà Nội, Vĩnh Phú (Việt Trì – Lâm Thao) và Hải Phòng.

Thời kỳ chống chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mỹ (1965 – 1975)

Sản phẩm quan trọng nhất trong thời kỳ này là phân lân. Các sản phẩm trọng yếu khác của ngành đều phục hồi nhanh và vượt xa mức trước chiến tranh.

Trong 20 năm xây dựng và phát triển, từ hòa bình lập lại đến năm 1975, Công nghiệp hoá chất đã có bước phát triển rất to lớn. Về cơ cấu ngành, đã hình thành nhiều thành phần kinh tế – kỹ thuật thiết yếu trong nền kinh tế quốc dân:

  • Công nghiệp sản xuất phân bón, thuốc trừ dịch hại và các hoá chất phục vụ nông nghiệp khác;
  • Công nghiệp mỏ phục vụ ngành hoá chất;
  • Công nghiệp cao su;
  • Công nghiệp hoá chất cơ bản;
  • Công nghiệp pin – acquy;
  • Công nghiệp xà phòng…
  • Các hóa chất cơ bản như xút, clo (cho công nghiệp giấy, công nghiệp thực phẩm và xử lý nước), axit sunfuric ( cho công nghiệp acquy,sản xuất phèn) v.v… cũng hoàn toàn do các cơ sở quốc doanh đảm nhiệm. Tất cả các hoá chất và sản phẩm liên quan đến hoá chất cần thiết cho quốc phòng đều do Tổng cục Hóa chất sản xuất theo kế hoạch đặc biệt nhằm đáp ứng các yêu cầu cụ thể.
  • Ngoài sản xuất, khu vực nghiên cứu thiết kế cũng được hình thành. Trong ngành có hai cơ quan khoa học là Viện Hoá học Công nghiệp (thành lập năm 1955) Và Viện Thiết kế Hoá chất (thành lập năm 1967).Ngành có một trường đào tạo kỹ thuật viên, hai trường đào tạo công nhân kỹ thuật và một trường quản lý kinh tế.

Giai đoạn phát triển 1976-1985 của ngành

Trong kỳ kế hoạch này, nhờ Nhà máy Phân lân Ninh Bình đi vào sản xuất và Nhà máy Supe phốt phát Lâm Thao tiếp tục mở rộng, đưa công suất lên 300 nghìn tấn/năm, nên sản lượng phân lân chế biến năm 1985 đã tăng gấp 1,5 lần so với năm 1980. Sản lượng thuốc trừ sâu cũng tăng gấp 2,2 lần. Các sản phẩm chủ yếu khác như các hóa chất vô cơ cơ bản và nhất là các sản phẩm tiêu dùng thiết yếu của ngành như săm lốp xe đạp, pin, chất tẩy rửa v.v… đều tăng sản lượng và số mặt hàng. Tuy nhiên, các sản phẩm phụ thuộc nhiều vào nguyên liệu nhập khẩu đều bị giảm. Điển hình là săm lốp ôtô, thuốc đánh răng và xà phòng thơm.

Thời kỳ kế hoạch 5 năm (1991 – 1995)

Mặc dù khu vực ngoài quốc doanh phát triển mạnh, đặc biệt là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, nhưng các doanh nghiệp quốc doanh vẫn giữ vai trò chủ đạo, chiếm tỷ trọng 74,4%, trong đó hai Tổng công ty Hóa chất chiếm 43%.

Khu vực công nghiệp địa phương trong sản xuất với số lượng doanh nghiệp còn rất ít, nhưng cũng có một vị trí đáng kể trong ngành. Giá trị sản xuất công nghiệp năm 1995 của các liên doanh đã chiếm 13,6% giá trị toàn ngành.

Giai đoạn năm 1995 -2009

Giai đoạn này, Tổng Công ty Hóa chất Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc, đã tăng nhanh năng lực sản xuất, kinh doanh, tiếp tục đóng góp lớn cho việc bảo đảm cung ứng nhiều sản phẩm hàng hoá thiết yếu cho nền kinh tế; tạo nguồn thu cho ngân sách; cùng với các Tập đoàn và Tổng Công ty nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong ngành sản xuất phân bón và một số lĩnh vực then chốt của nền kinh tế. Quy mô vốn sở hữu của Tổng Công ty từ 2006 đã tăng lên đáng kể. Năm 2006, tổng vốn chủ sở hữu của Tổng Công ty là 4.342 tỷ đồng, cuối năm 2008 đã đạt 6.818 tỷ đồng, tăng 56,79; các chỉ tiêu kinh tế chủ yếu đều vượt so với kế hoạch đề ra, duy trì được tốc độ tăng trưởng. Tính đến thời điểm 30 tháng 11 năm 2009, ngoài Công ty mẹ, Tổng Công ty có 10 Công ty con mà Tổng Công ty giữ 100% vốn điều lệ, 10 Công ty trên 50% vốn điều lệ, 11 Công ty liên kết và 4 Công ty liên danh với nước ngoài, một Trường cao đẳng và một Viện nghiên cứu, phát triển.

Những năm gần đây, trong bối cảnh toàn cầu hoá, hội nhập ngày càng sâu rộng, phải cạnh tranh ngày càng gay gắt cả trong nước và quốc tế, Tổng Công ty có những phát triển vượt bậc và toàn diện trên các mặt sản xuất, kinh doanh, đầu tư xây dựng cơ bản, lao động sáng tạo, ứng dụng thành tựu KHCN, bảo vệ môi trường, công tác xã hội từ thiện ….

Tổng Công ty đã góp phần đảm bảo an ninh lương thực đất nước, mỗi năm cung cấp cho nông dân 1,4 triệu tấn phân chứa lân gồm supe photphat và phân lân nung chảy; đáp ứng 100% nhu cầu của cả nước; khoảng 1,4 – 1,6 triệu tấn phân NPK các loại và 150 nghìn tấn phân đạm. Ngoài phân bón, các ngành như cao su (săm lốp ôtô, xe đạp, xe máy); chất giặt rửa, các sản phẩm điện hóa (pin, ắcquy), hoá chất cơ bản (xút, axít …) cũng được phát triển. Trong 10 năm 1998-2008, tốc độ tăng trưởng bình quân của Tổng Công ty là 11,13%, chiếm tỷ trọng 10%, giữ vị trí đáng kể trong toàn ngành công nghiệp.

NGÀNH CÔNG NGHIỆP HÓA CHẤT VÀ CÁC NHÀ MÁY SẢN XUẤT HÓA CHẤT CÔNG NGHIỆP -

Ngày 23/12/2009, Thủ tướng Chính Phủ ban hành Quyết định số 2180 TTg thành lập Tập đoàn Hóa chất Việt Nam (VINACHEM) và ngày 20 tháng 1 năm 2010, Tập đoàn Hóa chất Việt Nam đã làm lễ ra mắt tại Hà Nội. Tập đoàn Hóa chất Việt Nam là doanh nghiệp đa sở hữu, trong đó sở hữu nhà nước là chi phối, hoạt động theo mô hình Công ty mẹ – Công ty con, được thành lập theo trên cơ sở xắp xếp, tổ chức lại Tổng công ty Hóa chất Việt Nam.

Năm 2000 giá trị tổng sản lượng của công ty đạt 6.227 tỉ đồng, tăng 19,7% so với năm 1999. (theo Tổng Công ty Hoá chất Việt Nam)

Việt Nam thực hiện công cuộc đổi mới, những cải cách kinh tế đã thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế, phát triển công nghiệp – nông nghiệp. Nhu cầu về nguyên liệuhoá chất cũng ngày càng tăng với tốc độ tăng trưởng sản xuất hoá chất hằng năm là 15%. Sự tăng trưởng kinh tế đó đẫn đến gia tăng lượng chất thải và phát sinh nhiều chủng loại chất thải độc hại.

Tình trạng đó đã tác động đến môi trường. Việt Nam đang trong tình trạng thiệt hại về môi trường ở mức cao (khoảng 10% GDP) và giá trị này đang có khuynh hướng gia tăng (theo TS. Trương Mạnh Tiến). Các dây chuyền sản xuất hoá chất hoặc có sử dụng hoặc thiếu nhiều trang bị an toàn. Công nghệ sản xuất sạch hơn trong sản xuất hoá chất còn chưa được áp dụng rộng rãi.

Nhiều hoá chất độc hại trong dây chuyền chưa được thay thế. Các cơ sở sản xuất còn thiếu hệ thống xử lý chất thải.

Nổi bật là vụ rò rỉ khí mêtan ngày 11/01/1999 ở mỏ than Mạo Khê, Quảng Ninh làm 19 người chết, 12 người bị thương; hay vụ ngạt khí mêtan ngày 06/07/2000 tại công ty thủy sản Cam Ranh, Khánh Hoà làm 4 người chết (theo “hiện trạng môi trường Việt Nam năm 2000”, báo cáo của Bộ KHCN&MT trình Quốc hội khoá X). Vấn đề môi trường ở các nhà máy sản xuất hoá chất thường xuyên được đặt ra. Tại mỗi nhà máy cần có những đánh giá tình trạng môi trường và hiệu quả của những biện pháp kiểm soát môi trường tại cơ sở.

Công nghiệp Việt Nam đặt ra nhu cầu về xử lý – tận dụng chất thải của ngành hoá chất và đây cũng là nhiệm vụ của ngành hoá chất trong quá trình xây dựng nền kinh tế phát triển bền vững.

So với các nước Đông Nam Á khác như Indonexia, Thái Lan, Xingapo thì công nghiệp hoá chất Việt Nam hãy còn nhỏ bé. Cho tới nay, chúng ta chỉ mới khai thác dầu thô, đang xây dựng nhà máy lọc dầu. Có công nghiệp hoá dầu mới phát triển mạnh các ngành sản xuất hoá chất hữu cơ và sản phẩm từ háo chất hữu cơ như sản xuất phân đạm, sợi hoá học, sơ, chất dẻo… Khai thác khoáng sản ở ta cũng chưa phát triển, chỉ ở mức xuất khẩu quặng, chưa có công nghệ chế biến tiên tiến. Ngành sản xuất hoá chất vô cơ chưa đáp ứng nhu cầu trong nước.

Sự ra đời của Tập đoàn Hóa chất Việt Nam là một dấu ấn quan trọng, một bước ngoặt lịch sử, tạo ra thế và lực mới để phát triển Ngành hóa chất Việt Nam trong thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21.

Khác với đóng góp trực tiếp vào nông nghiệp. Công nghiệp hóa chất đóng góp gián tiếp cho hầu hết mọi lĩnh vực của mỗi nền kinh tế. Trong cuộc sống hàng ngày, con người sử dụng rất nhiều sản phẩm công nghiệp và hầu hết trong đó có liên quan đến Công nghiệp hóa chất theo cách này hay cách khác.

Sản xuất hàng tiêu dùng sử dụng khoảng 10% hóa chất trực tiếp, nhưng các ngành khác gián tiếp tham gia vào hàng tiêu dùng cũng sử dụng đáng kể các sản phẩm hóa học.

Các sản phẩm hóa chất thông thường bao gồm bột màu, cao su tổng hợp, polyme, nhựa và chất nổ. Nhựa, muối, axit và phân bón là những sản phẩm được sử dụng rộng rãi và gắn bó cũng như ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống hàng ngày của con người. Các ngành công nghiệp hàng tiêu dùng, nông nghiệp và các nhà sản xuất đều sử dụng các sản phẩm này.

Nguồn: eiindustrial.com

2021-11-12 / by / in
NGÀNH HÓA CHẤT: ƯU TIÊN CẢI CÁCH THỦ TỤC HÀNH CHÍNH

Công tác cải cách hành chính của Cục Hóa chất (Bộ Công Thương) thời gian qua được các tổ chức, cá nhân và doanh nghiệp đánh giá cao bởi đã loại bỏ và đơn giản hóa nhiều điều kiện, thủ tục hành chính

Theo Cục Hóa chất, năm 2018, Cục đã thực hiện hủy bỏ, bãi bỏ 24 TTHC, công bố ban hành mới 18 TTHC trong lĩnh vực hóa chất. Trong đó, 18/18 TTHC được áp dụng trên môi trường mạng internet từ cấp độ 3 trở lên; 4 TTHC áp dụng cơ chế hải quan 1 cửa quốc gia (khai báo hóa chất; cấp Giấy phép xuất nhập khẩu vật liệu nổ công nghiệp; cấp Giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu tiền chất thuốc nổ và cấp Giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu tiền chất công nghiệp); 2 thủ tục cấp Giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu tiền chất thuốc nổ và cấp Giấy phép xuất khẩu, nhập khẩu tiền chất công nghiệp chính thức triển khai trên cơ chế một cửa quốc gia từ ngày 24/12/2018.

Thực hiện các Nghị quyết của Chính phủ về đơn giản hóa TTHC, tạo thuận lợi cho người dân và doanh nghiệp tăng cường khả năng cạnh tranh quốc gia, Cục Hóa chất rà soát, đề xuất bãi bỏ và đơn giản hóa 46/130 điều kiện sản xuất, kinh doanh (tương đương với 35,4%).

Ông Nguyễn Văn Thanh – Cục trưởng Cục Hóa chất – cho biết, từ ngày 7/1/2019, Thông tư số 49/2018/ TT-BCT bãi bỏ Thông tư số 42/2013/TT-BCT ngày 31/12/2013 của Bộ trưởng Bộ Công Thương quy định quản lý, kiểm soát tiền chất trong lĩnh vực công nghiệp có hiệu lực, các tổ chức, cá nhân trong khu chế xuất khi nhập khẩu tiền chất từ doanh nghiệp nội địa và tổ chức, cá nhân khi xuất khẩu tiền chất từ nội địa vào khu chế xuất sẽ không phải xin Giấy phép xuất, nhập tiền chất công nghiệp. Như vậy, theo thống kê của Cục Hóa chất, sẽ giảm khoảng 6.000 hồ sơ/năm, tương đương 50% hồ sơ mà doanh nghiệp không phải xin cấp phép xuất nhập khẩu tiền chất công nghiệp.

“Thời gian trả kết quả TTHC giảm từ 7-10 ngày (tùy từng TTHC) xuống chỉ còn 3-5 ngày. Riêng khai báo hóa chất, chỉ sau khoảng 15 giây điền đầy đủ thông tin trên internet, tổ chức, cá nhân sẽ nhận được kết quả phản hồi tự động”- ông Nguyễn Văn Thanh thông tin.

Tiếp tục rà soát, bãi bỏ

Cục Hóa chất đang tiếp tục thực hiện các TTHC được công bố trong bộ TTHC thuộc chức năng quản lý nhà nước của Bộ Công Thương; rà soát TTHC trong lĩnh vực phụ trách để hoàn thành các phương án đơn giản hóa TTHC trong những năm tiếp theo.

Cụ thể, Cục Hóa chất đang tiến hành rà soát để bãi bỏ một số điều kiện đầu tư trong lĩnh vực hóa chất và tiền chất thuốc nổ phục vụ xây dựng Nghị định liên quan đến điều kiện đầu tư, kinh doanh thuộc phạm vi quản lý nhà nước của Bộ Công Thương.

Ông Nguyễn Văn Thanh nhấn mạnh, năm 2019, Cục Hóa chất tiếp tục hoàn thành xây dựng Nghị định xử phạt trong lĩnh vực hóa chất, thông tư quy định về quản lý tiền chất thuốc nổ; Nghị định về việc thực hiện Công ước Minamata về thủy ngân; hoàn thiện Đề án xây dựng quyết định sửa đổi bổ sung một số điều của quy chế hoạt động ứng phó sự cố hóa chất độc ban hành kèm theo Quyết định số 26/2016/ QĐ-TTg ngày 1/7/2016 của Thủ tướng Chính phủ.

Rà soát, đơn giản hóa TTHC và thực hiện qua dịch vụ công trực tuyến đã mang lại những kết quả nhất định: Tiết giảm thời gian, nhân lực, chi phí, đồng thời tăng độ hài lòng của người dân, doanh nghiệp.

2021-11-12 / by / in
Phát huy tiềm năng của ngành công nghiệp hóa chất

Ngành hóa chất là ngành công nghiệp có đóng góp quan trọng trong hầu hết các hoạt động công nghiệp; góp phần quan trọng trong đảm bảo an ninh lương thực và đồng hành, hỗ trợ quá trình công nghiệp hoá, phát triển kinh tế, xã hội của đất nước. Vì vậy, trong bối cảnh mới đòi hỏi phải có những định hướng, giải pháp phù hợp để ngành công nghiệp này phát triển tương xứng với tiềm năng.

Hóa chất là ngành công nghiệp quan trọng 
Theo Cục trưởng Cục Hóa chất Nguyễn Văn Thanh, tổng sản lượng công nghiệp hoá chất Việt Nam hàng năm chiếm khoảng 10-11% tổng giá trị GDP ngành công nghiệp, lực lượng lao động chiếm gần 10% và có năng suất lao động cao 1,36 lần năng suất lao động trung bình của toàn ngành công nghiệp do có mức độ tự động hoá khá cao.Theo tính toán, sau khi các dự án đang triển khai hoàn thành và hoạt động ổn định, giá trị tổng sản lượng ngành công nghiệp hóa chất chiếm tỷ trọng từ 13-14% toàn ngành công nghiệp.

Thực tế cho thấy, công nghiệp hóa chất đòi hỏi quy mô đầu tư rất lớn, yêu cầu công nghệ cao, nghiêm ngặt và tiềm ẩn nhiều rủi ro. Tại Việt Nam, các doanh nghiệp còn hạn chế về tiềm lực kinh tế, đầu tư nhỏ lẻ, dàn trải, thiếu công nghệ nguồn.

Ở nhiều địa phương, sự nhìn nhận về vai trò, tầm quan trọng của phát triển công nghiệp hóa chất chưa đầy đủ, lo ngại nguy cơ ô nhiễm và nguy hiểm, dẫn đến chủ trương phát triển của nhiều địa phương là không thu hút đầu tư công nghiệp hóa chất, thay vào đó là một số ngành nghề dịch vụ, du lịch, công nghiệp chế biến chế tạo khác.

Tin tức hoá chất công nghiệp | Hóa chất phân bón BTC

Những quan niệm trên gây khó khăn cho các nhà đầu tư, cản trở sự phát triển của công nghiệp hóa chất. Trong khi đó, công nghiệp hóa chất là một trong những ngành công nghiệp nền tảng, làm tiền đề hỗ trợ cho nhiều ngành công nghiệp cũng như cung cấp các sản phẩm thiết yếu quan trọng khác.

Một rào cản nữa hiện nay là công tác quản lý ngành chưa hiệu quả, thiếu thông tin và cơ chế phối hợp cung cấp thông tin giữa các cơ quan trung ương, địa phương chưa đảm bảo thông suốt nên nhiều trường hợp doanh nghiệp, nhà đầu tư không nắm bắt được thông tin.

Do đó, Cục Hóa chất đang triển khai xây dựng Chiến lược phát triển ngành công nghiệp hóa chất Việt Nam. Dự kiến, Chiến lược sẽ có đủ thông tin dữ liệu của mỗi phân ngành, những giải pháp phù hợp để tháo gỡ khó khăn, vướng mắc trong quá trình quản lý và phát triển ngành – ông Thanh cho biết.

Tìm hướng đi và giải pháp cho ngành công nghiệp hóa chất

Một tín hiệu đáng mừng được ghi nhận là những năm gần đây, ngành hóa chất có sự tham gia đầu tư của nhiều thành phần kinh tế, nhiều dự án quy mô lớn. Điều đó cho thấy nhu cầu của thị trường và chính sách hấp dẫn của Nhà nước đối với phát triển công nghiệp và công nghiệp hoá chất.

Trao đổi với các Hiệp hội, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực hóa chất và các đơn vị chức năng liên quan, Bộ trưởng Công Thương Nguyễn Hồng Diên nhận định, đóng góp của ngành công nghiệp hóa chất còn nhiều hạn chế, chưa tương xứng với tiềm năng.

Một trong những bất cập được chỉ ra là ngành công nghiệp hóa chất chưa tận dụng tối ưu nguồn tài nguyên, nguyên liệu trong nước dẫn tới chưa làm chủ được thị trường nội địa. Nhiều sản phẩm hóa chất quan trọng phục vụ phát triển sản xuất phải phụ thuộc vào nguồn nhập khẩu. Một phần nguyên nhân là do đặc thù ngành sản xuất hóa chất cần mức đầu tư lớn.

Để phát triển công nghiệp hóa chất trở thành một ngành công nghiệp nền tảng cho phát triển kinh tế đất nước, Bộ trưởng Nguyễn Hồng Diên cho rằng, cần phải khẩn trương và tập trung cao để nghiên cứu đề xuất, hoàn thiện Chiến lược phát triển ngành hóa chất Việt Nam đến năm 2030 tầm nhìn đến năm 2045. Đồng thời, xây dựng kế hoạch để phân kỳ tổ chức thực hiện, đặc biệt chú trọng phát triển các lĩnh vực, sản phẩm ưu tiên, bao gồm các sản phẩm hóa chất có nhu cầu lớn, giá trị gia tăng cao, có lợi thế đảm bảo an ninh lương thực, an ninh y tế.

Thực trạng về ngành công nghiệp hóa chất ở việt nam hiện nay | CÔNG TY TNHH H2CHEMICAL VIỆT NAM

Cùng với đó, cần tập trung nghiên cứu lựa chọn địa điểm dự án phù hợp, đề xuất các ngành, cơ quan chức năng và các địa phương bổ sung trong quá trình quy hoạch vùng, quy hoạch tỉnh, quy hoạch quốc gia đối với ngành hóa chất và công nghiệp hóa chất.

Theo quan điểm của Bộ Công Thương, cần thu hút đầu tư theo hướng hình thành các tổ hợp sản xuất kinh doanh hóa chất tập trung, có hạ tầng kỹ thuật đồng bộ, đảm bảo yêu cầu về an toàn, môi trường và có tính đến các yếu tố kinh tế chia sẻ, kinh tế tuần hoàn.

Trong bối cảnh cách mạng công nghiệp 4.0, yêu cầu tất yếu đặt ra là phải đẩy mạnh hoạt động hỗ trợ, khuyến khích nghiên cứu khoa học, công nghệ trong ngành hóa chất, tập trung vào việc sử dụng các sản phẩm phụ, chất thải hiện có của ngành làm nguyên liệu cho quá trình sản xuất các sản phẩm khác.

Trước thực trạng một số dự án đầu tư, nhà đầu tư vận hành dự án chưa tuân thủ quy định về đầu tư xây dựng và an toàn hóa chất, Bộ Công Thương cũng định hướng sẽ đề xuất xây dựng giải pháp phát triển công nghiệp hóa chất xanh, hiện đại, thân thiện với môi trường, đảm bảo an toàn cho con người. Kèm theo đó là các chính sách để phát triển và quản lý mạng lưới các tổ chức tư vấn đầu tư, hỗ trợ cơ quan quản lý cũng như doanh nghiệp trong việc thực hiện các quy định về quản lý hóa chất.

Nguồn: baokiemtoannhanuoc.vn
2021-11-12 / by / in
Bữa cơm cho công nhân chỉ 15.000 đồng sao đủ chất

“15.000 đồng/bữa ăn là quá thấp, không còn phù hợp, không đảm bảo dinh dưỡng cho công nhân. Cần phải nâng lên 20.000-25.000 đồng”, ông Nguyễn Quốc Đang – một chủ tịch công đoàn ở quận 7 (TPHCM) nói.

15.000 đồng/bữa ăn là quá thấp

Theo dự thảo báo cáo kết quả 5 năm thực hiện Nghị quyết 7c/NQ-BCH ngày 25/2/2016, Tổng Liên đoàn lao động Việt Nam cho biết hầu hết các doanh nghiệp đã thực hiện giá trị bữa ăn ca bằng hoặc cao hơn mức 15.000 đồng/bữa. Tuy vậy, không ít doanh nghiệp vẫn duy trì bữa ăn dưới 15.000 đồng/bữa và hàng triệu người lao động chưa được hỗ trợ bữa ăn ca.

Trước thực trạng trên, nhiều chuyên gia kinh tế, doanh nghiệp cho rằng cần nâng cao mức tiền ăn tối thiểu để phù hợp với thực tế. Các doanh nghiệp cần tập trung hơn nữa để bữa cơm của công nhân đảm bảo no, an toàn và giàu dinh dưỡng hơn.

“Mức giá 15.000 đồng đã triển khai 5 năm rồi, nay giá thực phẩm đã tăng cao hơn rất nhiều. Nếu cứ giữ mức giá này công nhân, người lao động sẽ thiệt thòi. Với mức giá này, công nhân chỉ ăn được vài món, ăn đi ăn lại đến phát ngán nhưng họ đói nên phải ăn để lấy sức làm việc. Tôi đề xuất nâng mức tối thiểu lên 20.000 đồng-25.000 đồng đối với từng khu vực”, ông Nguyễn Quốc Đang – Chủ tịch Công đoàn một doanh nghiệp ở quận 7, chia sẻ.

Doanh nghiệp nơi ông Đang đang làm việc có khoảng 1.300 công nhân. Trung bình mỗi bữa ăn của người lao động khoảng 18.000 đồng/bữa trưa và 19.000/bữa tối. Tuy vậy, người lao động vẫn chưa thực sự hài lòng về bữa ăn công ty đang triển khai.

Bữa cơm cho công nhân chỉ 15.000 đồng sao đủ chất - 2

“Giờ người lao động không chỉ ăn no mà còn phải ăn đủ chất, 15.000 đồng hay 17.000 đồng thì làm sao đủ chất. Thiết nghĩ cần phải có quy định để nâng tiền ăn tối thiếu bữa lên để người lao động được chăm sóc tốt hơn. Doanh nghiệp chắc chắn sẽ bị ảnh hưởng một phần doanh thu nhưng họ đổi lại là hiệu quả trong công việc của công nhân, người lao động”, ông Đang phân tích thêm.

Ông Nguyễn Quốc An – Giám đốc công ty ANS ở quận 12 – nhận định: “15.000 đồng/bữa ăn là quá thấp nhưng có quy định nên các doanh nghiệp cứ bám vào đây để triển khai thì công nhân sẽ thua thiệt. Cần phải tăng lên 20.000 đồng hoặc cao hơn nữa, kèm theo điều kiện trượt giá theo từng năm. Thời buổi này không chăm công nhân kỹ họ sẽ bỏ đi, lúc này doanh nghiệp sẽ phải chịu tổn thất. Chúng tôi chấp nhận giảm bớt lợi nhuận để tăng tiền ăn cho công nhân”.

Bữa cơm cho công nhân chỉ 15.000 đồng sao đủ chất - 3

Không dám mơ bữa ăn đủ chất

Là công nhân may ở TPHCM đã 12 năm, chị Nguyễn Thế Thùy Dương (38 tuổi, quê Vĩnh Long) đã chuyển việc 4 lần. Một lần chuyển việc do xa nhà, 3 lần chuyển việc do bất bình về chất lượng các bữa ăn.

“Tôi là con nhà nghèo, lên TPHCM mưu sinh nên chẳng dám mơ ăn ngon, ăn đủ chất dinh dưỡng. Tôi chỉ muốn ăn uống no, hợp vệ sinh là mãn nguyện rồi. Tuy vậy, không phải công ty nào cũng quan tâm đến việc đảm bảo an toàn vệ sinh thực phẩm”, chị Dương tâm sự.

Chị Dương cho rằng, nhiều doanh nghiệp đã thay đổi bữa ăn cho công nhân hơn lúc chị mới lên TP rất nhiều. Tuy vậy, không ít công nhân vẫn phải ấm ức vì bữa ăn chỉ “lèo tèo ít rau và vài miếng thịt mỏng như tờ giấy”. Thậm chí, tình trạng đồ ăn có “dị vật” hay ôi thiu vẫn xuất hiện trong bữa ăn của công nhân.

Bữa cơm cho công nhân chỉ 15.000 đồng sao đủ chất - 4

“Phải làm công nhân mới hiểu hết được bữa ăn ở trên công ty quan trọng thế nào. Có thể giảm một chút lương để thêm thức ăn chúng tôi cũng đồng ý. Tuy vậy, nếu công ty không giảm lương mà nâng cao chất lượng bữa ăn, chúng tôi cảm ơn rất nhiều”, anh Thanh Tùng, công nhân ở quận Bình Tân chia sẻ.

Theo anh Tùng, nhiều nam công nhân sau bữa cơm ở công ty vẫn phải ra ngoài ăn thêm vì không đủ no. Nhiều người nấu cơm ở nhà mang đi để tiết kiệm, có trường hợp mua bánh mì, bánh ngọt để sẵn.

“Mình phải ăn 4 chén mới no được nhưng cơm ở công ty chỉ được hơn một chén, ăn không đủ no. Nhiều chị em phụ nữ lại dư cơm nên san sẻ cho anh em. Nếu ăn không no thì ra ngoài mua bánh mì, bánh bao hoặc mì tôm ăn rồi tranh thủ vô công ty nghỉ ngơi trước khi làm việc. Công nhân mà được ăn no, ăn sạch là mừng rồi”, anh Tùng thông tin thêm.

Nguồn: dantri.com.vn

2021-11-11 / by / in ,
Đề nghị tăng 7,4% lương hưu từ ngày 1/1/2022

Trả lời chất vấn trước Quốc hội chiều 10/11, Bộ trưởng Bộ LĐ-TB&XH Đào Ngọc Dung cho biết sẽ đề xuất điều chỉnh tăng 7,4 % lương hưu từ 1/1/2022 chứ không chờ tới 1/7/2022.

Tại phiên chất vấn, đại biểu Vương Thị Hương, đoàn Đại biểu Quốc hội tỉnh Hà Giang đưa ra câu hỏi: “Người nghỉ hưu trước 1995 đã cao tuổi và mức lương hưu rất thấp. Trước tác động của dịch Covid-19, nhiều người vẫn chật vật với khó khăn của cuộc sống và là đối tượng dễ bị tổn thương. Vậy, Bộ trưởng sẽ giải quyết vấn đề này như thế nào?”.

Trả lời câu hỏi của đại biểu, Bộ trưởng cho biết, vấn đề điều chỉnh lương hưu đã được nhắc tới nhiều ở nhiệm kỳ Quốc trước và tới Nghị quyết 34 của Quốc hội cũng đã đề cập tới vấn đề này. Trong điều kiện tình hình dịch bệnh hiện nay, Chính phủ đã báo cáo với Quốc hội và tạm dừng vấn đề cải cách tiền lương.

Tuy nhiên trong đề xuất của Chính phủ với Quốc hội, Bộ trưởng khẳng định, nội dung điều chỉnh lương hưu vẫn được đề cập tới, đặc biệt là quan tâm tới những người nghỉ hưu trước năm 1995 và những người có lương hưu thấp.

Bộ trưởng giải thích thêm: “Đây là vấn đề đã từng được Bộ đề cập và tôi không quên việc thực hiện lời hứa này. Thời gian qua, Bộ tổ chức nhiều cuộc đánh giá về vấn đề lương hưu. Cho tới lúc này, Chính phủ đang lấy ý kiến các thành viên Chính phủ về việc này”.

Đề xuất tăng 15% lương hưu, trợ cấp hàng tháng cho 8 nhóm đối tượng - Báo  Người lao động

Về lộ trình, Bộ trưởng cho biết: “Tôi tin là trong tháng 12 năm nay, Bộ sẽ trình Thủ tướng xem xét. Hiện nay trước tình hình khó khăn hiện nay, nhiều người nghỉ hưu gặp khó khăn, Bộ đang đề nghị Chính phủ nghiên cứu xem xét việc điều chỉnh tăng từ 1/1/2022 chứ không chờ tới thời điểm 1/7/2022, như thường lệ”.

Theo đó, lương hưu dự kiến được đề nghị tăng thêm 7,4% so với mức của tháng 12/2021. Tổng số kinh phí điều chỉnh là khoảng 12.650 tỷ đồng.

“Trong đó ngân sách Nhà nước sẽ đầu tư và bổ sung cho người nghỉ hưu trước năm 1995 là 3.648 tỷ đồng”. Với những người đã được điều chỉnh tăng nhưng lương vẫn dưới 2,5 triệu đồng/tháng, Bộ sẽ đề xuất bổ sung lên tối thiểu 250.000 đồng/người nhưng trường hợp hỗ trợ cao nhất cũng không vượt quá mức lương 2,5 triệu đồng/tháng.

Cũng tại phiên chất vấn, Bộ trưởng cho biết thêm: “Thủ tướng đã đồng ý về chủ trương. Do đó, Bộ sẽ cố gắng hoàn thiện thủ tục và hồ sơ trình Chính phủ trước ngày 1/1/2022…”.

Nguồn: dantri.com.vn

2021-11-11 / by / in
Công nhân lo “mất” Tết nếu không được tăng ca

“Giờ chỉ mong công ty có đơn hàng liên tục để được đi làm đều, kiếm tiền trả nợ. Làm xuyên Tết cũng được, tăng ca 8 giờ/ngày cũng được, nghỉ mấy tháng ở nhà, nợ chồng chất rồi”, chị An tâm sự.

1. Không được tăng ca, không mơ Tết

Những ngày qua, trên các diễn đàn tâm sự công nhân có nhiều chia sẻ về “Kiến nghị tăng số giờ làm thêm lên 400 giờ/năm”. Theo các chuyên gia, doanh nghiệp thì việc nới “trần” làm thêm 300 giờ/năm lúc này là để bù đắp việc thiếu hụt lao động sau dịch Covid-19. Với nhiều công nhân, đây là hướng giải quyết giúp họ có thêm tiền trang trải chi phí. Người lao động chấp nhận làm thêm vì “không có tiền khổ lắm”.

Chị Nguyễn Thùy An (ngụ tại Quận 12, công nhân khu chế xuất Linh Trung) bày tỏ, 4 tháng nghỉ dịch, nhiều công nhân đã lâm vào cảnh khó khi bị ngưng việc, mất việc. Bản thân chị cũng nợ bạn bè gần 20 triệu đồng sau thời gian giãn cách. Từ đầu tháng 10, dù đã đi làm trở lại nhưng thu nhập của chị vẫn chưa thực sự ổn định.

“Công nhân như chúng tôi 10 người thì 9 người có hoàn cảnh khó khăn, vừa nuôi gia đình vừa phụ giúp cha mẹ ở quê, lương hàng tháng lĩnh xong, có khi chỉ một tuần là sạch trơn. Chúng tôi mong làm thêm càng nhiều càng tốt. Tăng 6 giờ, 8 giờ mỗi ngày cũng được, cứ có tiền là công nhân chấp nhận, mệt chút nhưng có tiền vẫn vui”, chị An cho hay.

Theo chị An, càng gần Tết, công nhân càng mong được tăng ca nhiều. Nếu cuối năm mà công ty không yêu cầu tăng ca, nhiều công nhân buồn ra mặt.

Công nhân lo mất Tết nếu không được tăng ca - 2

“Cận Tết mà không tăng ca là Tết không vui rồi, tiền ít sao vui được. Nhiều người còn mong được tăng ca xuyên Tết. Năm nay chắc ít người về quê nên tăng ca vừa có thêm tiền, vừa đỡ buồn khi ở lại thành phố ăn Tết. Tiền tăng ca để gửi về quê cho bố mẹ, để trả nợ”, chị An nói thêm.

Cùng tâm sự như chị An, chị Trần Thị Lụa (công nhân ở quận Tân Phú) nhấn mạnh: “Chưa khi nào công nhân, người lao động mong được tăng ca như năm nay. Tăng ca càng nhiều công nhân càng thích. Dịch Covid-19 khiến nhiều công nhân đã nghèo nay còn nghèo hơn. Dù vẫn được hỗ trợ nhưng chúng tôi cũng mong muốn kiếm được đồng tiền do chính tay mình làm ra”.

Chị Lụa cho biết, hơn 10 năm mưu sinh ở TPHCM, chưa năm nào chị không về quê dịp Tết. Tuy vậy, năm nay chị chấp nhận ăn Tết xa nhà vì “thực sự không còn tiền, không dám mơ Tết, nghĩ đến Tết là sợ”. Năm nay, hai vợ chồng dự định sẽ làm xuyên Tết để kiếm tiền trả nợ và mua thêm đồ dùng học tập cho 3 con.

2. Giải pháp tạm thời

Ông Huỳnh Bảo Toàn (Giám đốc doanh nghiệp nội thất ở Quận 12) cho rằng, việc nới “trần” giờ làm thêm cần phải được nghiên cứu kỹ để đảm bảo quyền lợi cho doanh nghiệp và người lao động.

“Tăng thời gian làm thêm thì phải hài hòa giữa lợi nhuận của doanh nghiệp và người lao động. Làm thêm càng nhiều giờ thì càng cần phải có chính sách hỗ trợ đặc biệt cho người lao động, không chỉ tăng tiền lương mà còn phải tăng dinh dưỡng bữa ăn, hỗ trợ tiền phòng trọ… để công nhân an tâm sản xuất, đạt năng suất cao”, ông An chia sẻ.

Từ thực tế, ông Toàn nhận định, hiện rất nhiều doanh nghiệp cần người lao động tăng giờ làm để kịp hồi phục sản xuất. Đặc biệt, dịp cuối năm, các doanh nghiệp sẽ phải “gồng mình” kéo lỗ cho thời gian giãn cách nên việc tăng giờ làm là thực sự cấp bách. Chưa dừng lại ở đó, năm 2022, các doanh nghiệp cũng sẽ luôn cần lao động để khôi phục sản xuất nhằm đáp ứng thị trường sau dịch.

“Tổ chức Lao động quốc tế (ILO) cũng đã khuyến khích kéo dài thời gian làm thêm nhưng phải đảm bảo phòng tránh tai nạn lao động và bệnh nghề nghiệp. Họ nhấn mạnh đến sức khỏe của người lao động vì nếu thu nhập tăng mà sức khỏe giảm thì không còn ý nghĩa. Tuy vậy, đây cũng chỉ là giải pháp nhất thời, về lâu dài, các doanh nghiệp vẫn cần chú trọng tăng năng suất lao động hơn là tăng thời gian lao động”, ông Toàn thông tin thêm.

Phó Chủ tịch Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam Ngọ Duy Hiểu cũng cho rằng việc nới “trần” thời gian làm thêm trong tháng, trong năm chỉ nên là giải pháp tạm thời. Công đoàn Việt Nam đề nghị chỉ nên quy định thời gian áp dụng việc tăng giờ làm thêm trong 2 năm từ 1/1/2022 – 31/12/2023. Nếu được áp dụng, thời gian làm thêm của người lao động có thể lên đến 104 giờ/tháng, gấp 2,5 lần so với bình thường.

Nguồn: dantri.com.vn

2021-11-11 / by / in