Thêm kết quả...

Địa phương vẫn thận trọng dù doanh nghiệp đã cam kết

Địa phương vẫn thận trọng dù doanh nghiệp đã cam kết

 

Thanh Tùng (thực hiện)

Đó là chia sẻ của Ông Lê Hồng Thái – Phó Giám đốc Công ty Lữ hành Hanoitourist với PV Báo NTNN về những khó khăn trong hoạt động du lịch.

Các bộ ngành đang ráo riết thực hiện, nhằm khôi phục và phát triển du lịch trong tình hình mới. Ông có thể chia sẻ quan điểm của mình về vấn đề này?

– Hiện tại chúng ta đã có Nghị quyết 128 và Bộ Y tế đã chính thức ban hành hướng dẫn cách tính tiêu chí đánh giá cấp độ dịch và các biện pháp chuyên môn y tế, thế nhưng còn tùy vào tình hình thực tế của từng địa phương nên các địa phương cũng vẫn chưa thống nhất hoàn toàn. Có những tỉnh khi đến không cần giấy xét nghiệm, chỉ cần tiêm đủ 2 mũi vaccine. Thế nhưng nhiều tỉnh vẫn chưa mở cửa đón khách ngoại tỉnh, vẫn yêu cầu giấy xét nghiệm tại tỉnh đó hay quy định đoàn khách du lịch không quá 50% người…

Người dân buôn bán tại chợ Đồng Văn, Hà Giang. Ảnh: Huy Hoàng

Ví dụ như tại Thanh Hóa, trước khi có Nghị quyết 128, việc đi lại vô cùng khó khăn, UBND tỉnh Thanh Hóa đã họp với Tổng cục Du lịch để mở cửa hoạt động du lịch với tiêu chí du khách đã tiêm đủ 2 mũi vaccine và có test nhanh Covid-19. Tuy nhiên, việc di chuyển tới Thanh Hóa buộc du khách phải đi qua các địa phương như Hà Nam, Ninh Bình… Trong khi các tỉnh này lại siết. Đây là những bế tắc trong quá trình phục vụ nhu cầu di chuyển của du khách.

Trong tình hình đó, chúng tôi sẽ vẫn tổ chức nhưng tour kết nối an toàn dành cho những du khách đã tiêm đủ vaccine và có kết quả âm tính với dịch bệnh trước thời gian khởi hành. Những du khách này phải đến từ các địa điểm nằm trong vùng xanh an toàn. Đồng thời, các du khách này sẽ không di chuyển tập chung mà di chuyển bằng phương tiện cá nhân, hoặc theo nhóm có cùng đặc điểm dịch tễ…

Ông nghĩ sao khi đã có Nghị quyết 128, bộ tiêu chí chung của Bộ Y tế nhưng một số địa phương vẫn e dè, thận trọng trong tình hình mới?

– Hiện nay, những quy định của một số địa phương chưa thực sự phù hợp với tình hình thực tế. Bởi lẽ hoạt động du lịch vẫn có thể diễn ra tại một số địa phương an toàn và có đủ điều kiện phòng dịch. Tuy nhiên một số địa phương vẫn tỏ ra vô cùng thận trọng trong việc mở cửa.

Thực tế, một số địa phương đã cơ bản hoàn thành công tác phủ sóng vaccine ở ngưỡng cộng đồng. Đồng thời, chúng ta có thể tổ chức xét nghiệm PCR cho từng du khách để đảm bảo tính chính xác, an toàn và đem đến hiệu quả cao… Doanh nghiệp lữ hành cũng sẽ cam kết với địa phương để tổ chức những tour khép kín, đồng thời có những cam kết trong việc chịu trách nhiệm với địa phương và du khách. Doanh nghiệp du lịch sẽ thực hiện hoạt động kiểm soát du khách, hoạt động di chuyển sẽ diễn ra liên tục, hạn chế dừng chân để đảm bảo an toàn.

Ông có thể cho biết nhu cầu đi du lịch của du khách hiện nay?

– Hiện nay, công ty đã tiếp nhận số lượng lớn du khách đăng ký tour caravan đến các địa điểm như Thanh Hóa, Phú Lợi, Mù Cang Chải, Hà Giang… Tuy nhiên, việc xây dựng các tour trên vẫn gặp khó khăn do du khách phải di chuyển qua nhiều địa phương trước khi đến điểm du lịch.

Việc tổ chức các tour ngắn ngày sẽ được cân nhắc thời gian để đảm bảo thời hạn sử dụng giấy xét nghiệm, các tour dài ngày sẽ phải tổ chức xét nghiệm hai lần ở chiều đi và chiều về cho từng du khách. Trong trạng thái bình thường mới, Tổng cục Du lịch và các đơn vị sẽ không chạy theo hướng giảm giá để kích cầu du lịch. Trải qua các đợt dịch, doanh nghiệp cũng đã cạn kiệt mọi nguồn lực. Những chi phí phát sinh như: Xét nghiệm, tổ chức tour khép kín, đón khách giãn cách… cũng là những gánh nặng mà doanh nghiệp lữ hành phải đối mặt.

Xin cảm ơn ông!

Nguồn: danviet.vn

2021-10-27 / by / in
Doanh nghiệp có đơn hàng nhiều nhưng thiếu lao động

Doanh nghiệp có đơn hàng nhiều nhưng thiếu lao động

 

Ảnh minh họa

Các doanh nghiệp trong ngành điện tử, gỗ… cho biết đang có nhiều đơn hàng nhưng khá đau đầu vì lo thiếu lao động.

Chia sẻ tại cuộc họp của các hiệp hội, ngành hàng gần đây, nhiều doanh nghiệp bày tỏ lạc quan khi sản xuất, lưu thông hàng hoá đang dần được phục hồi. Lượng đơn đặt hàng về cuối năm cũng có sự ổn định. Nhưng những điều này đặt ra bài toán khó về nguồn nhân lực, vốn bị tổn thương nặng trong đợt dịch vừa qua.

Bà Đỗ Thuý Hương đến từ Hiệp hội doanh nghiệp điện tử Việt Nam nhấn mạnh: “Đơn hàng nhiều, nhưng lao động đang thiếu”.

Khảo sát của Tổng cục Thống kê cho thấy, điện tử là lĩnh vực bị thiếu hụt lao động nhiều nhất, đặc biệt là ở khu vực phía Nam, khi tỷ lệ lao động quay trở lại làm việc thấp.

“Doanh nghiệp đang rất lo lắng, vì trong lĩnh vực này không dễ tuyển lao động tạm thời. Người lao động trong ngành điện tử đều phải được doanh nghiệp đào tạo trước”, bà nói.

Tương tự, ông Nguyễn Chánh Phương, Phó chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hội Mỹ nghệ và Chế biến gỗ TP HCM nói: “Các doanh nghiệp trong ngành đang có nhiều đơn hàng và các đơn hàng rất dài, nhưng trong lúc vui thì cũng lo vì thiếu lao động”.

Theo ông, lao động hiện là một trong hai vấn đề quan trọng ảnh hưởng đến mức độ cạnh tranh của Việt Nam trong chuỗi sản xuất toàn cầu. Việc thiếu nhân công cũng làm bộc lộ rõ hơn vấn đề tay nghề lao động. “Tay nghề lao động hiện nay do doanh nghiệp đào tạo là chính nên còn dừng ở mức độ nhất định, chưa tạo ra đột phá về năng suất, vì thế cần tái cơ cấu”, ông nói.

Còn theo bà Hương, hiện doanh nghiệp rất khó tiếp cận gói hỗ trợ đào tạo lại cho người lao động. Nguyên nhân là gói này đòi hỏi thực hiện qua cơ sở đào tạo nghề, mà đối với doanh nghiệp điện tử, chưa có cơ sở đào tạo nào đáp ứng được yêu cầu. Lao động hoàn toàn do doanh nghiệp tự đào tạo. “Vì thế, chúng tôi kiến nghị cho phép doanh nghiệp tiếp cận gói hỗ trợ này và tự đào tạo lao động để có thể kịp thời đáp ứng được yêu cầu”, bà nói.

Bên cạnh nỗi lo thiếu lao động, với những người quay trở lại, các doanh nghiệp cho biết thách thức đặt ra lúc này là điều kiện sản xuất, an sinh, khung khổ pháp lý mới.

Qua khảo sát trong ngành gỗ, ông Đỗ Xuân Lập, Chủ tịch Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam cho biết, người lao động có xu hướng, nhu cầu quay trở lại nơi làm việc cũ khá lớn. Do vậy, vấn đề doanh nghiệp quan tâm là Chính phủ, địa phương nhanh chóng phủ vaccine, tạo điều kiện lao động an toàn, tạo không gian an toàn cho sống chung với dịch để khôi phục sản xuất. Đồng thời, tạo hành lang đi lại, dịch chuyển con người, hàng hóa…, giúp doanh nghiệp khôi phục sản xuất và các doanh nghiệp tùy theo năng lực có chính sách về an sinh để thu hút người lao động.

Theo ông, cần có cách nhìn nhận mở hơn, phù hợp về việc duy trì mức độ chống dịch ở các địa phương, không phản đối cứng nhắc việc áp dụng 3 tại chỗ hay một cung đường, hai điểm đến…

“Tôi nghĩ nên để doanh nghiệp tự áp dụng mô hình phù hợp với tình hình đặc thù của doanh nghiệp và địa phương”, ông nói.

Trong khi đó, ông Trần Việt Anh, Phó chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp TP HCM lại lưu ý giai đoạn hiện tại cần ổn định lực lượng lao động về tinh thần, chính sách.

Theo ông, dịch Covid-19 đã tạo ra một nỗi ám ảnh về các khu nhà ổ chuột với người lao động. “TP HCM đã kịp thời ra chính sách cho người nhập cư. Còn những chủ doanh như chúng tôi cũng phải hứa với người lao động là quay về có nhà ở, con cái được đi học…”, ông Việt Anh nói.

Ông Phương cũng đồng tình khi nhận định rằng, doanh nghiệp và Nhà nước phải cùng chung tay giải quyết vấn đề nhà ở cho người lao động. Đây cũng là vấn đề phải giải quyết trung hạn và dài hạn.

Ngoài ra, Phó chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp TP HCM lưu ý thêm về quy định pháp luật về làm việc theo hình thức mới. Đơn cử trong giai đoạn dịch vừa rồi, nhiều doanh nghiệp buộc phải chuyển sang chế độ làm việc trực tuyến. Do vậy, ông đề nghị rà soát xem có quy định nào về việc cho người lao động làm việc trực tuyến hay không. Ví dụ, nếu người lao động bị tai nạn trong thời gian làm việc trực tuyến tại nhà thì chế độ như thế nào, và quyền lợi của người lao động trực tuyến ra sao…

Đức Minh

Nguồn: vnexpress

2021-10-27 / by / in
Tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp xây dựng

Tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp xây dựng

 

Hàng loạt kiến nghị nhằm sớm ổn định lại hoạt động, phục hồi kinh tế đã được lãnh đạo các doanh nghiệp, các đơn vị quản lý ngành xây dựng đề xuất tại Hội nghị tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp, người dân bị ảnh hưởng bởi dịch Covid- 19 và thúc đẩy phát triển kinh tế, xã hội khu vực phía Nam do Bộ Xây dựng tổ chức…

Hội nghị do Bộ Xây dựng tổ chức cuối tuần.

Theo đánh giá của nhiều đại biểu tại Hội nghị, tình hình hoạt động xây dựng thuộc khu vực phía Nam đã và đang gặp rất nhiều khó khăn bởi: giá cước tăng theo cấp số nhân; công trường phải tạm dừng thi công; xuất hiện tình trạng đầu cơ, đẩy giá thép; pháp lý liên quan đến bất động sản còn thiếu đồng bộ…

DUY TRÌ SẢN XUẤT KINH DOANH LÀ VẤN ĐỀ CỐT YẾU

Nói về điều này, ông Đinh Hồng Kỳ, Phó chủ tịch Hiệp hội Vật liệu xây dựng cho biết: cước vận tải đã tăng từ 4 -5 lần trong đại dịch. Hơn nữa, mỗi tỉnh thành đều có quy định khác nhau, không có sự nhất quán trong chỉ đạo giữa Trung ương với các địa phương, tình trạng “trên bảo dưới không nghe” khá phổ biến. Do đó, trong thời gian vừa qua, việc vận chuyển, lưu thông hàng hóa rất khó khăn, ảnh hưởng rất lớn đến hoạt động của các doanh nghiệp.

Với cương vị Phó Chủ tịch Hiệp hội Nhà thầu, ông Lê Viết Hải chia sẻ: Thực hiện quy định về giãn cách xã hội, nhiều công trình phải dừng thi công. Tuy nhiên, nhà thầu vẫn bị chủ đầu tư phạt chậm tiến độ. Trong khi, trên thực tế, dự án phải dừng thi công hay thi công cầm chừng thì nhà thầu cũng là bên phải gánh chịu nhiều thiệt hại. Do đó, Bộ Xây dựng nên có quy định về điều kiện bất khả kháng, quy định cụ thể khi chủ đầu tư chây ì không thanh toán để điều chỉnh, để nhà thầu và chủ đầu tư có cơ sở chia sẻ với nhau.

“Trong điều kiện hiện nay, xin giảm thuế thu nhập doanh nghiệp không phải là giải pháp tốt. Làm thế nào để doanh nghiệp duy trì sản xuất kinh doanh mới là vấn đề cốt yếu. Đồng thời, tháo gỡ vướng mắc về vấn đề pháp lý cho các dự án cũng là giải pháp gỡ khó cho các doanh nghiệp xây dựng, bất động sản”, ông Hải bày tỏ quan điểm.

Từ thực tế hoạt động ở lĩnh vực bất động sản, ông Trần Quốc Dũng, Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Hưng Thịnh kiến nghị 7 vấn đề. Trong đó có vấn đề liên quan đến pháp lý đối với các dự án Condotel. Yêu cầu với condotel là quản lý chuẩn theo mô hình khách sạn và chủ đầu tư sẽ theo suốt quá trình tồn tại của sản phẩm. Bởi vậy, Condotel không thể áp dụng quy định quản lý nhà chung cư để điều hành, không có cơ chế Ban quản trị toà nhà, kinh phí bảo trì khách hàng cũng không phải đóng 2%… Ngoài ra, quy định các dự án chỉ được chuyển nhượng khi có chứng nhận quyền sử dụng đất cũng gây nhiều khó khăn. Vì thế, ông Dũng cho rằng cần có sự thực hiện đồng bộ, thống nhất giữa các văn bản, cấp phép giữa Trung ương và địa phương để tránh tình trạng rà soát lại, tốn thêm thời gian, chi phí.

Cũng bàn về tính pháp lý liên quan đến bất động sản, ông Võ Hoàng Ngân, Giám đốc Sở Xây dựng Bình Dương chỉ ra bất cập trong quy định phải có bên mua đồng ý khi dự án bán nhà hình thành trong tương lai. Theo ông Ngân, đã bán nhà trong “tương lai” thì chưa thể xác định được người mua cụ thể để đồng ý. Vì thế, cần sửa đổi lại quy định này. “Hiện nay, đã bỏ thanh tra xây dựng cấp huyện, nếu bỏ tiếp cấp tỉnh thành thì rất khó cho công tác quản lý của Sở. Đặc biệt, Bình Dương có 1,2 triệu lao động. Khi xảy ra dịch bệnh Covid, quy định không cho công nhân ở trong khu công nghiệp. Quy định đó cần xem xét lại. Để không bị đứt quãng hoạt động sản xuất kinh doanh, cần cho phép xây khu lưu trú cho công nhân trong khu công nghiệp.

BỘ XÂY DỰNG SẼ THÁO GỠ VƯỚNG MẮC NHANH NHẤT CÓ THỂ

Trong khi đó, đại diện các Sở Xây dựng Đồng Nai, Long An… cùng kiến nghị về quy định diện tích phòng trọ tối thiểu cho người lao động thuê đã hết hiệu lực, được thay thế bằng Thông tư 09 từ ngày 1/10/2021. Tuy nhiên, thông tư 09 lại không quy định diện tích nên các địa phương không có cơ sở để chấp nhận các loại dự án này…

Đồng quan điểm với những ý kiến trên, ông Trần Hoàng Quân, Giám đốc Sở Xây dựng TP.HCM đề nghị, một số quy định tại Luật Xây dựng, Luật Đất đai, Luật Đầu tư Kinh doanh bất động sản nên có điểm thống nhất để công tác thực thi được tốt hơn. Ông Quân cũng cho biết thêm: Bộ Xây dựng đã kịp thời ban hành cơ chế xây dựng các công trình khẩn cấp nên rất nhiều các bệnh viện dã chiến đã được hoàn thành nhanh chóng, phục vụ cho công tác chống dịch của Thành phố. Tại thời điểm đó, TP.HCM làm và làm nhanh nhất có thể nên giá thành sẽ cao hơn so với những ngày bình thường. Đơn cử như việc mua trụ ô xy bình thường khoảng 1 – 1,2 triệu đồng/trụ nhưng có thời điểm lên đến 4 – 5 triệu đồng/trụ; chi phí nhân công trả gấp 3 – 4 lần cũng không kiếm được người vào làm trong khu có F0. Trên cơ sở đó, ông Quân đề nghị Bộ Xây dựng kiến nghị Thủ tướng về vấn đề quyết toán theo đơn giá thực tế.

Liên quan đến các kiến nghị của cộng đồng doanh nghiệp và các địa phương, phát biểu kết luận Hội nghị, Thứ trưởng Bùi Hồng Minh cho biết, Bộ Xây dựng sẽ rà soát tiêu chuẩn, quy chuẩn của nhà trọ, nhà lưu trú cho công nhân cũng như các chính sách cho nhà thu nhập thấp, nhà ở xã hội, nhằm giải quyết các vướng mắc, nếu chưa hợp lý sẽ đề nghị sửa đổi. Bộ đang quan tâm thúc đẩy phát triển vật liệu xây dựng, số hóa toàn bộ hệ thống quản lý, từng bước đáp ứng được thị trường vật liệu xây dựng trên địa bàn tốt hơn. Luật nhà ở, Luật Kinh doanh bất động sản cũng đang được nghiên cứu sâu từng phân khúc để xây dựng đặc tính, quy chuẩn phù hợp, chính sách quản lý riêng biệt; nghiên cứu để đưa ra các quy định về quản lý không gian ngầm và không gian trên mặt đất tại các khu đô thị…

Vấn đề kiểm soát chặt giá thép xây dựng, tránh đầu cơ tích trữ để nâng giá thì Bộ Công thương đã có đoàn công tác kiểm tra về vấn đề này. “Rất nhiều vấn đề của ngành Xây dựng đã được Bộ Xây dựng phối hợp làm việc với Bộ, ngành khác nhằm tháo gỡ khó khăn nhanh nhất có thể cho các doanh nghiệp và người dân. Trong thời gian tới, Bộ Xây dựng sẽ chỉ đạo, hướng dẫn, đồng hành cùng doanh nghiệp trong tổ chức hoạt động sản xuất kinh doanh. Trước những khó khăn hiện nay, Bộ sẽ nhanh chóng tìm giải pháp gỡ khó và thúc đẩy kinh tế phát triển.” Thứ trưởng Bùi Hồng Minh khẳng định.

Nguồn: vieconomy

2021-10-27 / by / in
TPHCM: Nhiều doanh nghiệp nợ BHXH hơn 6 tháng, số tiền lớn

TPHCM: Nhiều doanh nghiệp nợ BHXH hơn 6 tháng, số tiền lớn

 

 (CAO) Ngày 22-10, Bảo hiểm xã hội (BHXH) TPHCM công bố danh sách 927 đơn vị nợ BHXH từ 6 tháng và 300 triệu đồng trở lên. Số liệu nợ này tính đến hết ngày 30-9 và cập nhật đến hết ngày 20-10. Trong đó, có nhiều doanh nghiệp nợ BHXH lên đến hàng chục tỷ đồng.

Đáng chú ý, rất nhiều doanh nghiệp nợ BHXH của duy nhất…1 lao động lên đến tiền tỷ. Chẳng hạn, Công ty TNHH Vinh Thùy (Q.3) nợ hơn 10 tỷ đồng của 1 lao động với số tháng nợ 27 tháng; Công ty CP Kiến trúc xây dựng Nhà Vui, nợ hơn 2,2 tỷ đồng của 1 lao động với số tháng nợ 60 tháng; Công ty TNHH MTV Cimigo (Q.Bình Thạnh) nợ 1 lao động hơn 1,9 tỷ đồng, số tháng nợ là 20 tháng; Công ty CP Xây dựng Việt Đăng (Q.1) nợ 1 lao động 2,1 tỷ đồng với thời gian nợ 24 tháng…

Tại địa chỉ của Công ty CP Kiến trúc xây dựng Nhà Vui trên đường Pasteur (Q.3) hiện đang treo bảng thông báo cho thuê nhà. Còn tại địa chỉ Công ty TNHH Vinh Thùy trên đường Điện Biên Phủ cửa cũng đóng…

Nơi đặt trụ sở Công ty CP Kiến trúc xây dựng Nhà Vui, đường Pasteur (Q.3) đóng cửa,
treo biển cho thuê nhà

Theo thống kê, nhiều doanh nghiệp do BHXH TPHCM quản lý nợ BHXH trên 10 tỷ đồng như: Công ty cổ phần đầu tư xây dựng số 8 (Q.Bình Thạnh) nợ hơn 9 tỷ đồng của 12 người lao động; Tổng công ty tư vấn thiết kế dầu khí – Công ty cổ phần (huyện Nhà Bè) nợ hơn 10,4 tỷ đồng của 132 người lao động; Công ty cổ phần vận tải dầu khí VN (Q.3) nợ hơn 17,8 tỷ đồng của 2 người lao động với số tháng nợ là 99 tháng; Công ty TNHH Yujin Vina (KCX Linh Trung) nợ hơn 36 tỷ đồng của 567 lao động…

Đối với doanh nghiệp thuộc sự quản lý của BHXH các quận/huyện cũng có nhiều doanh nghiệp nợ BHXH lên đến nhiều tỷ đồng. Công ty cổ phần dịch vụ bưu chính viễn thông Sài Gòn (Q.1) nợ hơn 32 tỷ đồng của 140 lao động với tổng số tháng nợ 43 tháng; Công ty cổ phần thương mại dịch vụ Thiếu Nhi Mới (Q.1) nợ hơn 27 tỷ đồng của 77 lao động với số tháng nợ 22 tháng; Công ty cổ phần Anh ngữ APAX (Q.3) nợ hơn 24 tỷ đồng của 284 lao động với tổng số tháng nợ 11 tháng; Công ty cổ phần xe khách Phương Trang Futabuslines (Q.7) với 856 lao động, nợ hơn 17 tỷ đồng; Công ty Cổ phần TVTMDV Địa ốc Hoàng Quân (Q.Phú Nhuận) nợ BHXH của 87 lao động số tiền hơn 14 tỷ đồng với tổng số tháng nợ 45 tháng; Công ty cổ phần dược phẩm Pha No (Q.Phú Nhuận) nợ hơn 14,3 tỷ đồng của 264 người lao động với tổng số tháng nợ 18 tháng…

Nhìn nhận về vấn đề nhiều doanh nghiệp nợ BHXH gây ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của người lao động, luật sư Nguyễn Thị Sinh (Đoàn Luật sư TPHCM) cho biết, đơn vị sử dụng lao động chậm đóng BHXH trong nhiều tháng liền thì người lao động sẽ bị ảnh hưởng đến nhiều quyền lợi, không được hưởng các trợ cấp theo các chính sách pháp luật hoặc không được BHXH chi trả các chế độ như ốm đau, thai sản, hưu trí, tử tuất.

Doanh nghiệp nợ tiền BHXH nhiều tháng liền có thể đối mặt với các chế tài theo Điều 56, Quy định ban hành kèm theo Quyết định số 1111/QĐ-BHXH. Hoặc có thể bị phạt tài chính nếu chậm đóng BHXH, căn cứ theo Khoản 4, Điều 38, Nghị định số 28/2020/NĐ-CP ban hành ngày 1/3/2020.

An Hoà
Nguồn: congan.com.vn

2021-10-27 / by / in
Giá xăng tăng sốc lên mức cao nhất trong 7 năm qua

Từ 16 giờ ngày 26/10, giá xăng E5 RON 92 trong nước tăng 1.430 đồng/lít lên 23.110 đồng/lít, cao nhất kể từ tháng 9/2014. Trong khi đó, xăng RON 95 tăng thêm 1.460 đồng/lít.

Chiều 26/10, liên Bộ Tài chính – Công Thương quyết định điều chỉnh giá bán lẻ xăng dầu theo chu kỳ 15 ngày/lần. Theo đó, giá xăng RON 95 được điều chỉnh tăng 1.460 đồng/lít, xăng RON 92 tăng 1.430 đồng/lít. Mức giá bán lẻ tối đa với xăng E5 RON 92 là 23.110 đồng/lít và xăng RON 95 là 24.330 đồng/lít.

Như vậy, giá các mặt hàng xăng trong nước đã có lần tăng thứ tư liên tiếp. Giá xăng trong nước hiện ở mức cao nhất trong vòng hơn 7 năm và chỉ còn kém đỉnh lịch sử 2.530 đồng/lít đối với xăng E5 RON 92 và kém 1.810 đồng đối với xăng RON 95 (thời điểm ngày 7/7/2014, xăng E5 RON 92 có giá 25.640 đồng/lít, xăng RON 95 giá 26.140 đồng/lít)
Tính từ ngày 11/11/2020, giá các mặt hàng xăng trong nước đã tăng tới 17 lần, giảm 3 lần và giữ nguyên 3 lần, với xăng E5 RON 92 tăng tổng cộng 9.225 đồng/lít, xăng RON 95 tăng 9.629 đồng/lít.
Ngoài ra, giá các mặt hàng dầu cũng được điều chỉnh tăng khá mạnh. Sau khi điều chỉnh, giá bán đối với mặt hàng dầu diesel là 18.710 đồng/lít; dầu hỏa là 17.630 đồng/lít và dầu mazut là 17.210 đồng/kg.
Việc giá các mặt hàng nhiên liệu liên tục lập đỉnh do lo lắng về tình trạng thiếu than và khí đốt ở Trung Quốc, Ấn Độ và châu Âu, phải chuyển sang dùng dầu. Đồng thời, một số nước thành viên OPEC+ không thể thực hiện nâng mức sản lượng như đã thỏa thuận.
Trong nước, giá xăng dầu tăng vọt đang tác động tiêu cực đến phục hồi kinh tế, đời sống nhân dân, tình hình kinh tế vĩ mô và kiểm soát lạm phát. Về giải pháp, PGS.TS Ngô Trí Long cho rằng bên cạnh việc sử dụng linh hoạt, hiệu quả công cụ là quỹ bình ổn giá, Nhà nước cần cân nhắc, xem xét giảm thuế và phí trong cơ cấu giá xăng dầu để làm giảm giá mặt hàng thiết yếu này. Qua đó, giảm bớt phí đầu vào cho doanh nghiệp.
Đối với doanh nghiệp, nên sử dụng tiết kiệm, hợp lý, có hiệu quả mặt hàng xăng dầu, đồng thời, có thể tính toán tìm mặt hàng thay thế nguồn năng lượng này.
Nguồn: kinhtedothi.vn
2021-10-27 / by / in
Đào tạo nghề theo nhu cầu của doanh nghiệp đáp ứng việc khôi phục sản xuất

Đào tạo nghề theo nhu cầu của doanh nghiệp đáp ứng việc khôi phục sản xuất

 

Sau khi các địa phương nới lỏng giãn cách và bước vào giai đoạn bình thường mới, nhiều doanh nghiệp từng bước khôi phục sản xuất, nhu cầu tuyển dụng lao động tăng. Tuy nhiên, việc đào tạo lại nghề vẫn chưa được nhiều doanh nghiệp quan tâm, khi mới chỉ có 20 doanh nghiệp đăng ký đào tạo lại theo Nghị quyết 68 từ Quỹ Bảo hiểm thất nghiệp.

Đào tạo nghề gắn với thực tế nhu cầu của doanh nghiệp.

PGS TS Dương Đức Lân, Uỷ viên Tiểu ban Giáo dục Nghề nghiệp, thuộc Hội đồng Quốc gia giáo dục và Phát triển nhân lực, nguyên Tổng cục trưởng Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp cho rằng: Cần phải đặt câu hỏi vì sao quá trình tái đào tạo nghề theo Nghị quyết 68 từ quỹ Bảo hiểm thất nghiệp lại chậm? Sao cả nước mới chỉ có 20 doanh nghiệp đăng ký theo chương trình này? Lý do là gì? Phải chăng là tính hiệu quả, tính thiết thực không cao?

“Để trả lời các câu hỏi này, việc đào tạo của các giáo dục nghề nghiệp phải đào tạo hướng “cầu”. Tức là đào tạo đúng yêu cầu doanh nghiệp cần, cái lao động thiếu. Thực tế hiện nay chúng ta vẫn đào tạo theo hướng 1 giáo trình, dạy theo những gì cơ sở giáo dục nghề nghiệp có, kết thúc khóa học, học sinh nhận chứng chỉ là xong. Do đó, Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp sớm khảo sát chính 20 doanh nghiệp đã đăng ký xem quá trình làm thủ tục để đăng ký đào tạo lại còn vướng mắc gì không?”, ông Dương Đức Lân đề xuất.

Có một thực tế là hiện nay, 80% lao động trong các doanh nghiệp là lao động phổ thông, chỉ cần đào tạo 1 tuần là đáp ứng được công việc. Tất cả đều làm việc theo dây chuyền, nếu đào tạo lại thì sẽ đào tạo cái gì. Liệu lao động, doanh nghiệp có nhu cầu không? Do đó, với việc đào tạo lại phải đào tạo theo hướng doanh nghiệp cần gì thì đào tạo nấy và đào tạo tại doanh nghiệp.

“Tôi cho rằng cần phải đổi mới sáng tạo trong đào tạo. Ngoài việc thống kê, lên danh sách người học, cần phải thống kê sự thiếu hụt các kỹ năng cụ thể của từng lao động để có thể soạn bài giảng phù hợp, để đáp ứng nhu cầu người học”, ông Dương Đức Lân cho biết.

Còn đối với chương trình đào tạo nhân lực đáp ứng cuộc nhu cầu chuyển đổi số thì bài giản theo hướng đại trà, đồng loạt và sao đó tùy nhu cầu của doanh nghiệp có đào tạo chuyên sâu.

Ông Dương Đức Lân cho rằng, về lâu dài, để nguồn nhân lực Việt đáp ứng các chuẩn mực của lao động toàn cầu, chúng ta cần một đề án về phát triển giáo dục nghề nghiệp. Đề án này sẽ giúp doanh nghiệp, người sử dụng lao động, các chuyên gia có cái nhìn tổng thể về Giáo dục nghề nghiệp, từ đó, có các kiến nghị về chính sách để phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao một cách bài bản.

Còn PGS.TS Trần Quốc Toản, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Chính phủ; đối với địa phương, việc thu hút người lao động quay trở lại là bài toán của chính sách. Hiện nay, số lượng lao động quay trở lại chưa được 100%. Vậy một dấu hỏi cần xem xét tại sao lao động không quay trở lại được 100%, lý do vì sao.

Việc thu hút lao động gắn liền với việc gắn bó lâu dài. Việc lao động ồ ạt trở về quê vừa qua cho thấy việc chăm lo đời sống lao động chưa tốt. Đơn cử, như ở TP Hồ Chí Minh, số lao động tự do rất lớn, nhưng có bao nhiêu lao động có ý định gắn bó lâu dài ở thành phố hay chỉ hết tuổi lao động, họ lại về quê? Đáng chú ý có 70% lao động là thuê trọ trong nhà dân, chật chội, nên khi bị ngừng, nghỉ việc là cuộc sống khó khăn.

Khôi phục lại hoạt động doanh nghiệp cần 4 chính sách, đó là lao động nhập cư; chính sách xã hội và an sinh xã hội; y tế phòng chống dịch và thích ứng đào tạo; đào tạo lại nguồn nhân lực.

“Để doanh nghiệp khôi phục sản xuất, nhất là khi lao động quay trở lại không gắn bó với nghề cũ và chuyển nghề thì yêu cầu tiếp theo sau khi ổn định chỗ ở là đào tạo nghề. Tuy nhiên, việc đào tạo này gắn liền với doanh nghiệp, dựa trên nhu cầu của doanh nghiệp. Chính sách đào tạo lại nghề theo Nghị quyết 68 đã có cách đây 4 tháng, nhưng mới có 20 doanh nghiệp đăng ký đào tạo lại. Vì vậy, các địa phương cần yêu cầu cơ sở giáo dục nghề nghiệp xem lại kế hoạch tuyên truyền, thủ tục đã thuận lợi chưa?”, ông Trần Quốc Toản cho biết.

XM/Báo Tin tức

2021-10-25 / by / in
Tiếp thêm ‘nguồn oxy trong lành’ cho doanh nghiệp, người dân

Tiếp thêm ‘nguồn oxy trong lành’ cho doanh nghiệp, người dân

 

Ủy ban Thường vụ Quốc hội vừa ban hành Nghị quyết số 406/NQ-UBTVQH15 về một số giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp, người dân chịu tác động của dịch COVID-19 như tiếp thêm “nguồn oxy trong lành” cho người dân và doanh nghiệp thành phố cảng để tiếp tục trụ vững, để có thể từng bước khôi phục, điều chỉnh kế hoạch sản xuất, kinh doanh.

Dây chuyền sản xuất, lắp ráp linh kiện cho bếp gas của Công ty TNHH Paloma Việt Nam tại khu công
nghiệp, đô thị VSIP Hải Phòng. Ảnh: Danh Lam/TTXVN

Tiếp thêm sức mạnh, niềm tin cho doanh nghiệp

Chủ tịch Hội đồng quản trị kiêm Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần SHINEC (Hải Phòng) Phạm Hồng Điệp nhận định, thực tế qua 4 đợt dịch trong 2 năm qua, các doanh nghiệp nói chung đã giảm tất cả các chỉ số kinh doanh, từ doanh thu đến chi phí lưu thông, lợi nhuận, hơn nữa các chi phí phát sinh tăng như phải sắp xếp mô hình sản xuất “3 tại chỗ” hoặc “Hai điểm đến một cung đường”, lại giảm lực lượng lao động, thường xuyên phải phát sinh chi phí phòng, chống dịch như test COVID  thường xuyên, chi phí cho các biện pháp kiểm soát dịch, chi phí tăng thêm cho người lao động… những chi phí này tối thiểu phải mất từ 7-9% ăn vào lợi nhuận sản phẩm. Hơn nữa đã có rất nhiều doanh nghiệp phải đóng cửa ngừng sản xuất để chống dịch, chuỗi cung ứng bị đứt gãy, hệ thống phân phối gián đoạn, gây rất nhiều tổn thương cho doanh nghiệp. Lãi suất ngân hàng vẫn phải trả đều hàng tháng, trong khi các doanh nghiệp xuất khẩu kẹt khâu vận chuyển hàng hoá quốc tế vì có thể chỉ có hàng một chiều, thiếu container đóng hàng… Chính những điều này làm doanh nghiệp rất khó khôi phục lại sản xuất hậu COVID.

Trước kỳ họp thứ 2, Quốc hội khóa XV, Đảng, Quốc hội, Chính phủ đã có nhiều lần gặp gỡ, lắng nghe doanh nghiệp chia sẻ khó khăn, chia sẻ các kiến nghị về cơ chế chính sách để doanh nghiệp vượt khó. Chính phủ, Quốc hội cũng đã ghi nhận sự đóng góp nhiệt tình, hết lòng vì đất nước của các doanh nghiệp chung tay với cả nước chống dịch theo lời hiệu triệu của Đảng, của Chính phủ …Và điều đáng quan tâm nữa là Ủy ban Thường vụ Quốc hội vừa ban hành Nghị quyết số 406/NQ-UBTVQH15 về một số giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp, người dân chịu tác động của dịch COVID-19 là rất kịp thời, rất đúng, rất trúng như tiếp thêm nguồn oxy trong lành cho doanh nghiệp, người dân để sống, để có lòng tin đứng vững và phát triển.

Tuy nhiên, ông Phạm Hồng Điệp cho rằng, doanh nghiệp còn mong mỏi hơn nữa từ Quốc hội về vấn đề nghiên cứu, xem xét sửa, điều chỉnh các bộ luật đã lỗi thời, đã gây quá nhiều phiền hà về thủ tục hành chính. Mặc dù cần phải quản lý chặt và thực hiện nghiêm các luật nhưng sự thiếu đồng bộ và sử dụng từ đa nghĩa đã làm cho thủ tục hành chính chạy lòng vòng, điều này làm chậm sự phát triển của doanh nghiệp và tốn kém chi phí của doanh nghiệp. Do đó, rất mong Quốc hội nghiên cứu “đường đi” của thủ tục hành chính trong hoạt động doanh nghiệp trên các lĩnh vực để đơn giản hoá, và khi luật ban hành ra không phải nhắc đến cụm từ “tháo gỡ khó khăn do thủ tục hành chính”, đó mới là căn nguyên cho sự phát triển bền vững của đất nước.

Khi đại dịch COVID-19 ập đến, các hộ kinh doanh nhỏ lẻ như bà Mai Thị Yến (huyện Thuỷ Nguyên, thành phố Hải Phòng) cũng như nhiều hộ kinh doanh khác phải ngừng buôn bán và hạn chế đi lại nên đã phát sinh rất nhiều chi phí như tiền thuê nhà, tiền thuê kiot bán hàng, tiền lãi vay vẫn phải trả hàng tháng, lại không có thu nhập. Cả nhà trước đây sống nhờ vào thu nhập của cửa hàng, nay rất khó khăn…

Nhưng khi được biết Ủy ban Thường vụ Quốc hội vừa ban hành Nghị quyết số 406/NQ-UBTVQH15 về một số giải pháp hỗ trợ doanh nghiệp, người dân chịu tác động của dịch COVID-19; trong đó Quốc hội đã có quyết sách giúp bà con kinh doanh nhỏ lẻ miễn thuế, giảm thuế cho đến hết năm 2021…, bà Yến và nhiều hộ kinh doanh rất cảm kích, mừng vui vì nhận được sự quan tâm, hỗ trợ kịp thời của Đảng, Quốc hội, Chính phủ sau những ngày tháng khó khăn chống chọi với đại dịch. “Tuy nhiên, để khôi phục kinh doanh chúng tôi cần đầu tư thêm hàng hoá và cũng phải có thời gian lâu hơn nữa mới có thể hoạt động được bình thường, ổn định”, bà Mai Thị Yến nói.

Tổ công tác đặc biệt tháo gỡ khó khăn 

Thành phố Hải Phòng luôn chú trọng, chủ động, đón đầu các chỉ đạo của Trung ương trên tất cả các lĩnh vực, trong đó có các nội dung liên quan đến phòng, chống dịch COVID-19. Ủy ban nhân dân thành phố Hải Phòng vừa ban hành Quyết định 2959 thành lập Tổ công tác đặc biệt về tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và người dân bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh COVID-19, do Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố Nguyễn Văn Tùng là Tổ trưởng.

Phó Chủ tịch Thường trực Uỷ ban nhân dân thành phố Lê Anh Quân là Tổ phó Thường trực Tổ công tác. Ba Tổ phó Tổ công tác gồm các ông Nguyễn Hoàng Long, Giám đốc Sở Kế hoạch và Đầu tư; Lương Văn Công, Giám đốc Sở Tài chính; Đỗ Văn Bình, Giám đốc Sở Lao động, Thương binh và Xã hội; cùng 16 thành viên Tổ công tác là lãnh đạo các sở, ngành thành phố.

Tổ công tác đặc biệt là tổ chức phối hợp liên ngành, có chức năng giúp Ủy ban nhân dân thành phố nghiên cứu, chỉ đạo, phối hợp giải quyết những công việc quan trọng trong việc tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và người dân bị ảnh hưởng bởi dịch COVID-19. Chủ động tiếp cận, nắm bắt, tiếp nhận thông tin, tổng hợp các khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp và người dân. Trên cơ sở đó, đề xuất với Ủy ban nhân dân thành phố, Thủ tướng Chính phủ phương hướng, giải pháp để kịp thời chỉ đạo giải quyết những vấn đề quan trọng, cấp bách nhằm tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp và người dân bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh. Đề xuất hướng xử lý những khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp, người dân thuộc chức năng, nhiệm vụ của các cấp có thẩm quyền.

Tổ công tác đặc biệt làm việc theo nguyên tắc tập thể, quyết định theo đa số, đề cao trách nhiệm cá nhân của từng thành viên và người đứng đầu; các thành viên thực hiện nhiệm vụ theo chế độ kiêm nhiệm và chịu trách nhiệm về công việc được phân công theo chức năng, nhiệm vụ quản lý nhà nước được giao; đảm bảo kịp thời giải quyết, tháo gỡ, xử lý khó khăn, vướng mắc của người dân và doanh nghiệp…

Tại cuộc làm việc của Phó Thủ tướng Chính phủ Lê Văn Thành với lãnh đạo chủ chốt của thành phố Hải Phòng về tình hình kinh tế – xã hội của thành phố, diễn ra ngày 23/10/2021, Phó Thủ tướng ghi nhận thành phố Hải Phòng vừa phòng, chống dịch tốt, vừa duy trì tăng trưởng 12,28% trong bối cảnh cả nước còn khó khăn. Điều này rất có ý nghĩa bởi GDP của Hải Phòng chiếm 5% GDP toàn quốc.

Mặc dù là địa bàn có nguy cơ lây nhiễm rất cao, nhưng Hải Phòng không có ca tử vong, số ca nhiễm thấp nhất trong vùng Đồng bằng sông Hồng, là thành phố trực thuộc Trung ương duy nhất chưa phải thực hiện giãn cách xã hội theo Chỉ thị số 16/CT-TTg của Thủ tướng Chính phủ.

Đoàn Minh Huệ (TTXVN)

2021-10-25 / by / in
Phương án sản xuất an toàn giúp doanh nghiệp không bị đứt gãy sản xuất

Phương án sản xuất an toàn giúp doanh nghiệp không bị đứt gãy sản xuất

SKĐS – Sau khi tỉnh Bình Dương trở về trạng thái bình thường mới, nới lỏng giãn cách xã hội, nhiều doanh nghiệp tại địa phương này đã lên kế hoạch cho việc khôi phục hoạt động sản xuất sau nhiều tháng đóng cửa vì dịch COVID-19.

SKĐS – Làn sóng dịch COVID-19 lần thứ 4 bùng phát khiến cho số doanh nghiệp rút khỏi thị trường lao động diễn ra ở tất cả các ngành.

Theo quan sát của phóng viên, hiện nay, các doanh nghiệp ở Bình Dương đang hoạt động theo mô hình “3 tại chỗ” chuyển sang sang mô hình “3 xanh”, giải tỏa áp lực khi tập trung lao động tại nhà máy kéo dài.  Theo đó, công nhân được đi về từ nhà máy đến các khu nhà trọ xanh có tâm lý thoải mái hơn, tích cực sản xuất. Chính quyền địa phương cũng phối hợp hỗ trợ giám sát giữ vững các khu nhà trọ xanh, tạo điều kiện thuận lợi nhất cho DN chuyển đổi mô hình sản xuất.

Nhiều tỉnh, thành thiếu hụt trầm trọng nguồn lao động do công nhân về quê sau thời gian giãn cách.
Ảnh minh họa

Ông Châu Hoài Hiếu, quản lý Công ty TNHH DS Vina, KCN KBS (xã Đất Cuốc) chia sẻ, thời gian qua, công ty có 110 lao động làm việc “3 tại chỗ” để bảo đảm đơn hàng, 100% lao động đã được tiêm vaccine. “Hiện tại, công ty chúng tôi đang tiến hành sản xuất các mặt hàng ba lô, túi xách… sẵn sàng tung ra thị trường cuối năm. Phương án sản xuất an toàn giúp doanh nghiệp sẽ không bị đứt gãy sản xuất, bảo đảm đơn hàng và chung tay bảo vệ vùng xanh toàn huyện. Đó cũng là điều kiện để công ty tiếp tục phát triển”.

Về phương án giải quyết việc làm cho công nhân, Giám đốc Sở LĐ-TB&XH tỉnh Bình Dương – ông Lê Minh Quốc Cường cho biết, hiện số doanh nghiệp được chấp thuận đăng ký mới và điều chỉnh phương án “3 tại chỗ”  “1 cung đường, 2 điểm đến” và “3 xanh” có khoảng 1.598 doanh nghiệp với tổng số lao động 360.211 lao động. Có 382 doanh nghiệp (với số lao động 91.402) xin tạm ngưng và chưa triển khai vì có F0 trong công ty, không có nguồn nguyên liệu, đơn hàng không ổn định, người lao động không chịu ở lại làm việc,… Có 1.008 doanh nghiệp xin giảm lao động với tổng số lao động giảm là 9.926 lao động.

“Tỉnh Bình Dương đã có kế hoạch nhanh chóng đưa các nhà máy trở lại hoạt động, giải quyết việc làm cho công nhân. Khi có việc làm, có thu nhập thì công nhân sẽ không về quê nữa mà sẽ tiếp tục ở lại an tâm sản xuất”, ông Cường cho biết.

Để duy trì hoạt động sản xuất kinh doanh, không để đứt gãy chuỗi sản xuất, cung ứng, ông Võ Văn Minh, Chủ tịch UBND tỉnh Bình Dương cho biết, từ đầu tháng 10/2021, Bình Dương đã trở về trạng thái bình thường mới. Tất cả doanh nghiệp ở địa bàn vùng xanh tổ chức hoạt động lại bình thường. Người dân, người lao động được phép di chuyển đi lại để làm việc. Theo dự báo, thời gian tới, số lượng các doanh nghiệp hoạt động trở lại rất cao. Tiếp đó, các doanh nghiệp từ hoạt động “ba tại chỗ” sẽ quay về hoạt động bình thường. Đây là cơ hội cho người lao động trong thời gian dài mất việc làm vì dịch bệnh sẽ có việc làm trở lại.

Theo ông Võ Văn Minh, tỉnh Bình Dương sẽ tạo điều kiện đi lại cho người lao động đến các nhà máy sản xuất trên nguyên tắc giữ vững an toàn. Đồng thời phối hợp với các tỉnh, thành trong khu vực thống nhất phương án lưu thông cho người lao động và sẽ sớm đưa ra phương án cụ thể. Phía cộng đồng doanh nghiệp cần sớm có phương án tái sản xuất để các ngành kiểm tra tính an toàn, từng bước mở cửa trở lại sản xuất trong tình hình mới.

Các địa phương gồm TP.HCM và các tỉnh Bình Dương, Long An, Tây Ninh và Đồng Nai dự kiến thiết lập vùng di chuyển liên thông để tạo thêm nguồn lao động trong khu vực.

Dự báo về thị trường lao động trong thời gian tới, theo lãnh đạo Sở LĐ-TB&XH tỉnh Bình Dương, thị trường lao động tại địa phương sẽ có cầu lớn hơn cung và cần ít nhất 40.000 lao động phục vụ tái sản xuất. Nếu dịch bệnh được kiểm soát tốt, các doanh nghiệp ở Bình Dương cần tới 100.000 lao động để đáp ứng các đơn hàng phục vụ nhu cầu mua sắm của người dân dịp lễ tết. “Chúng tôi đang phối hợp với Ban Quản lý các khu công nghiệp, chủ doanh nghiệp trong việc đào tạo tay nghề khẩn cấp cho người lao động để đáp ứng yêu cầu công việc”, ông Cường cho hay. “Hiện, các doanh nghiệp trong tỉnh đang quyết tâm không để đứt gãy chuỗi sản xuất cung ứng, vừa cố gắng giữ chân người lao động. Nhiều doanh nghiệp khẳng định “lực lượng lao động là vốn quý nhất của DN” và xác định tiêm vaccine vẫn là biện pháp phòng dịch tốt nhất để doanh nghiệp hoạt động trở lại. Ban Quản lý khu công nghiệp đang ưu tiên phối hợp với các địa phương để đón chuyên gia, người lao động quay lại làm việc; tiếp tục phối hợp để tổ chức tiêm vaccine đầy đủ cho tất cả người lao động”.

Chia sẻ về giải pháp nhằm hỗ trợ doanh nghiệp khôi phục sản xuất trong thời gian tới, ông Nguyễn Lộc Hà, Phó Chủ tịch UBND tỉnh Bình Dương cho biết: Tỉnh tiếp tục tập trung thực hiện 5 nhóm nhiệm vụ nhằm hỗ trợ doanh nghiệp khôi phục sản xuất, bao gồm: Hỗ trợ tín dụng, thực hiện các chính sách thuế – bảo hiểm xã hội, các chính sách về lao động, tiếp cận thị trường, tổ chức lại hoạt động sản xuất kinh doanh theo lộ trình cụ thể. Các sở, ngành sẽ tiếp tục thực hiện chính sách hỗ trợ doanh nghiệp về cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn giảm lãi, phí, giữ nguyên nhóm nợ; gia hạn thời hạn nộp thuế giá trị gia tăng, thuế thu nhập doanh nghiệp, thuế thu nhập cá nhân và tiền thuế đất trong năm 2021.

Đồng thời, các sở, ngành tiếp tục thống kê tình hình lao động, xử lý, giải quyết các vướng mắc về lao động trong các doanh nghiệp và có giải pháp để động viên tinh thần của người lao động; đẩy mạnh thu hút đầu tư, hỗ trợ doanh nghiệp phục hồi sau giãn cách, đặc biệt là các doanh nghiệp nhỏ và vừa.

*Bài tuyên truyền thực hiện Nghị quyết 84/NQ-CP ngày 29/5/2020 của Chính phủ.

Nguồn: suckhoedoisong

2021-10-25 / by / in
Lao động quay trở lại TP.HCM làm việc: Chủ doanh nghiệp mừng nhưng cũng lo

Lao động quay trở lại TP.HCM làm việc: Chủ doanh nghiệp mừng nhưng cũng lo

 

VOV.VN – Người lao động quê ở miền Tây, Tây Nguyên… bắt đầu quay trở lại TP.HCM làm việc, nhiều chủ doanh nghiệp vừa vui mừng vì có người làm, nhưng cũng không ít nỗi lo.

Anh Nguyễn Cảnh Vịnh – chủ doanh nghiệp chuyên sản xuất, phân phối lá cửa cuốn ở quận Bình Tân, TP.HCM cho biết, trước khi chưa có dịch COVID-19, công ty của anh có 10 nhân công, gồm 3 nhân viên bán hàng phụ kiện và 7 người làm ở khâu sản xuất lá cửa cuốn.

Thời điểm dịch COVID-19 bùng phát, 3 nhân viên về quê, tất cả những người này đều ở các tỉnh thuộc Tây Nguyên, những người ở lại, họ quyết định bám trụ thành phố. Tuy vậy suốt thời gian qua, anh Vịnh vẫn hỗ trợ nhân viên 100.000 đồng/người/ngày.

“Nhân viên của tôi là những người làm lâu năm nên đối với tôi tình cảm luôn được tôi đặt lên hàng đầu, phải chăm lo họ thật tốt lúc đó họ mới giúp được mình nhiều trong công việc”, anh Vịnh nói.

Anh Nguyễn Cảnh Vịnh (áo đen) cùng nhân viên chuẩn bị gói hàng gửi đi đến các đại lý.

Hiện tại 3 nhân viên về quê đã quay trở lại làm việc, anh Vịnh cũng tuyển thêm vài nhân viên mới, họ đang trên đường vào TP.HCM.

“Khi tôi thông báo cho mọi người là TP.HCM mở cửa rồi, công ty chuẩn bị quay lại hoạt động, anh chị em ai cũng mừng rỡ và quay lại đủ cả. Quan trọng nhất là tạo cho người lao động niềm tin, để họ thấy khi khó khăn mình không bỏ họ”, anh Vịnh hào hứng chia sẻ.

Tuy thoát được nỗi lo về nhân công, song khi mở cửa hoạt động trở lại công ty của anh Vịnh cũng đối mặt với nhiều khó khăn, tiến độ nhiều công trình bị chậm, đơn hàng đi liên tỉnh vẫn còn khó khăn, cộng với số tiền các đại lý nợ lại khi lấy hàng lên đến tiền tỷ, khiến công ty gặp nhiều trở ngại trong việc nhập và bán hàng.

“Chỉ cần nguồn tiền được xoay vòng, tôi vẫn có thể tiếp tục cố gắng tạo điều kiện hết mức cho những anh em đang làm cho công ty. Mặc dù không được như trước nhưng có tiền để trả công cho nhân viên hàng ngày để họ có đồng ra vào giúp gia đình là tôi thấy vui”, anh Vịnh nói.

Chủ doanh nghiệp này cho hay, anh từng trải qua rất nhiều khó khăn trong công việc làm ăn, tuy nhiên mùa dịch vừa rồi là lần đầu lịch sử trong cuộc đời anh gặp phải. Mọi dòng tiền đều đóng băng, lãi ngân hàng phải luôn trả đều mỗi tháng.

Tương tự, anh Hoàng Đức Thùy, Giám đốc doanh nghiệp Hoàng Nghĩa, chuyên mua bán, lắp đặt sửa chữa kho lạnh, máy lạnh cho hay, thời gian giãn cách xã hội, công ty không hoạt động nhưng vẫn trả 50% lương và hiện tại nhân viên đã quay trở lại làm việc từ hôm 6/10.

Trước đó, do không thể thực hiện sản xuất “3 tại chỗ” nên công ty anh Thùy phải tạm ngưng hoạt động suốt hơn 3 tháng qua. Không có doanh thu, lợi nhuận, đơn hàng nợ chồng chất, đứng trước nguy cơ bị mất mối, mất bạn hàng… khó khăn bủa vây nhưng công ty vẫn đặt mục tiêu quan trọng nhất là ổn định đời sống cho nhân viên trong giai đoạn giãn cách xã hội.

Ngay từ những ngày đầu, công ty đã tổ chức đợt hỗ trợ thực phẩm thiết yếu như rau, gạo, mì… và tiền mặt để đỡ đần công nhân phần nào. Khi đó, dự đoán giai đoạn giãn cách chỉ kéo dài thời gian ngắn, nhưng tình hình dịch bệnh diễn biến phức tạp, giãn cách kéo dài, công ty tiếp tục ngưng hoạt động nhưng vẫn tổ chức thêm nhiều đợt hỗ trợ cho công nhân.

“Công ty cũng cố gắng đẩy nhanh tiêm vaccine cho nhân viên. Đến nay, hầu hết công nhân đã được tiêm đủ 2 mũi, chỉ còn vài người chưa tiêm mũi thứ 2. Khi thấy anh em quay trở lại làm việc trong tinh thần hào hứng, bản thân tôi cũng rất vui vì lo được phần nào đời sống cho nhân viên”, anh Thùy nói.

Theo anh Thùy, bây giờ công việc cũng tạm ổn khi vừa qua anh nhận được các gói thầu có giá trị lớn với các đối tác nghề xây dựng.

“Rất may mắn là sau thời gian nới lỏng giãn cách, tôi nhận được một đơn hàng cho 1 công trình lớn ở Phan Thiết. Hiện tôi chỉ mới nhận được 1 đơn hàng này thôi, thời gian tới nếu không có đơn hàng nào nữa, công nhân ngồi không thì tôi cũng hơi lo lắng và bất an”, anh Thùy cho hay./.

Thống kê của các khu chế xuất và khu công nghiệp có gần 140.000 người lao động trở lại TP.HCM làm việc và rải rác tại các doanh nghiệp trên địa bàn các quận, huyện khoảng trên dưới 5.000 người.

Theo Trung tâm dự báo nhu cầu nhân lực và thông tin thị trường lao động TP.HCM, nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp hiện nay tập trung ở các ngành nghề như: dệt may, lao động phổ thông, kinh doanh, cơ khí, điện lạnh, công nghệ thông tin, bán hàng, giao nhận… Dự báo, từ tháng 11 trở đi, nhu cầu tuyển dụng sẽ tăng cao so với hiện nay, do doanh nghiệp mở rộng hoạt động phục vụ cho thị trường cuối năm.

Hoàng Thọ/VTC News

 

2021-10-25 / by / in
TP.HCM: Hàng nghìn doanh nghiệp dự kiến cắt giảm lao động

TP.HCM: Hàng nghìn doanh nghiệp dự kiến cắt giảm lao động

 

Số doanh nghiệp tại TP.HCM dự kiến cắt giảm lao động trong những tháng cuối năm 2021 là hơn 4.000. Phần lớn doanh nghiệp dự kiến giảm giờ làm việc/nghỉ luân phiên; tạm thời cho lao động nghỉ việc có hỗ trợ một phần tiền lương; cho thôi việc…

Ảnh minh họa.

Trong quý 3/2021, Trung tâm Dự báo nhân lực và thông tin thị trường lao động TP.HCM đã thực hiện khảo sát tác động của dịch Covid-19 với 11.502 doanh nghiệp thì có 9.858 doanh nghiệp trả lời bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh, chiếm 85,71% tổng số doanh nghiệp khảo sát.

LAO ĐỘNG MẤT VIỆC, NGỪNG VIỆC CÓ XU HƯỚNG TĂNG

Những lĩnh vực, ngành bị ảnh hưởng nhiều nhất gồm: bán buôn và bán lẻ; sửa chữa ô tô, mô tô, xe máy và xe có động cơ khác, chiếm 36,74%; công nghiệp chế biến, chế tạo chiếm 16,42%; hoạt động chuyên môn khoa học và công nghệ chiếm 8,79%; xây dựng chiếm 8,77%; vận tải kho bãi chiếm 6,66%; hoạt động hành chính và dịch vụ hỗ trợ chiếm 4,85%; dịch vụ lưu trú và ăn uống chiếm 4,77%; hoạt động kinh doanh bất động sản chiếm 4,03%; thông tin và truyền thông chiếm 3,69%.

Doanh nghiệp gặp khó khăn nhiều nhất trong tìm kiếm khách hàng, tiêu thụ sản phẩm; khó khăn về vốn; chính sách hỗ trợ chưa kịp thời; thiếu vật tư, nguyên liệu sản xuất.

Đối với người lao động, trong 11.502 doanh nghiệp khảo sát với tổng số lao động đang làm việc là 251.027 người, thì có đến 129.582 người bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh Covid-19, chiếm 51,62%.

Trong đó, lao động giãn việc/nghỉ luân phiên chiếm 48,18%; lao động chấm dứt hợp đồng lao động hoặc cho thôi việc chiếm 32,21%; lao động tạm hoãn hợp đồng lao động chiếm 8,2%; lao động tạm nghỉ việc có hưởng một phần lương chiếm 7,45%; lao động tạm nghỉ việc không hưởng lương chiếm 3,96%.

Số doanh nghiệp dự kiến cắt giảm lao động trong những tháng cuối năm 2021 là 4.493 doanh nghiệp, chiếm 39,06% tổng số doanh nghiệp khảo sát. Trong đó, phần lớn doanh nghiệp dự kiến giảm giờ làm việc/nghỉ luân phiên chiếm 59,02%; tạm thời cho người lao động nghỉ việc có hỗ trợ một phần tiền lương chiếm 20,74%; cho lao động thôi việc chiếm 11,49%; tạm thời cho người lao động nghỉ việc không hỗ trợ tiền lương chiếm 8,75%.

Theo đánh giá của Trung tâm Dự báo nhân lực và thông tin thị trường lao động TP.HCM, trong quý 3/2021, dịch bệnh Covid-19 diễn biến phức tạp, đặc biệt từ tháng 7 đến nay, toàn thành phố đã thực hiện biện pháp giãn cách xã hội nhiều giai đoạn.

Theo đó, doanh nghiệp đã chịu áp lực không nhỏ khi phải tạm dừng hoặc thu hẹp quy hoạt động, tỷ lệ lao động ngừng việc, mất việc có xu hướng tăng, người lao động thiếu việc làm, bị cắt giảm giờ làm, buộc thôi việc dẫn đến giảm, mất thu nhập. Việc vận hành các phương thức của doanh nghiệp sản xuất “3 tại chỗ” hay “1 cung đường, 2 điểm đến” đã làm giảm đáng kể lượng lao động tại doanh nghiệp.

Tuy nhiên, để duy trì lượng đơn hàng, các doanh nghiệp đã ra sức giữ chân lao động cũ cũng như tuyển dụng lao động bổ sung phục vụ nhu cầu sản xuất, kinh doanh.

DOANH NGHIỆP GẶP KHÓ KHI SẮP XẾP LẠI NHÂN SỰ

Nhận định về thị trường lao động trong những tháng cuối năm, Trung tâm cho rằng, đây là thời điểm quan trọng để các doanh nghiệp nỗ lực, tận dụng khoảng thời gian còn lại để hoàn thành đơn hàng phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu.

Song song đó, nhu cầu mua sắm, tiêu dùng trong dịp Tết Nguyên Đán cũng góp phần kích cầu hoạt động tiêu dùng trong thời gian tới. Do đó, nhu cầu nhân lực quý 4/2021 tại TP.HCM sẽ có nhiều chuyển biến tích cực sau thời gian dài thành phố thực hiện giãn cách xã hội.

Dự báo nhu cầu nhân lực quý 4/2021 cần khoảng 43.654 – 56.869 chỗ làm việc. Xu hướng tuyển dụng tập trung ở các nhóm nghề như: Kinh doanh – thương mại cần khoảng 10.045 – 13.086 chỗ làm việc; dịch vụ phục vụ cá nhân, bảo vệ cần khoảng 5.033 – 6.557 chỗ làm việc; công nghệ thông tin cần khoảng 3.283 – 4.277 chỗ làm việc.

Ngoài ra là các nhóm ngành về cơ khí – tự động hoá; vận tải – kho bãi – dịch vụ cảng; dịch vụ thông tin tư vấn – chăm sóc khách hàng; du lịch – nhà hàng – khách sạn; kỹ thuật điện – điện lạnh – điện công nghiệp –  điện tử…

Mặt khác, trong những tháng cuối năm ngoài tuyển dụng lao động làm việc toàn thời gian, doanh nghiệp cũng có nhu cầu ở một lượng lớn lao động bán thời gian phục vụ nhu cầu sản xuất, kinh doanh trong dịp Tết.

Theo Trung tâm, để nhanh chóng phục hồi ngay khi giãn cách xã hội kết thúc, trong thời gian này các doanh nghiệp đã bắt đầu xây dựng lại kế hoạch hoạt động, sắp xếp, bố trí lại đội ngũ nhân sự, trong đó có cả kế hoạch tuyển dụng nhân sự mới để thay thế những lao động đã nghỉ việc do dịch bệnh hoặc về quê… Tuy nhiên, với lượng lao động nhập cư về quê ồ ạt trong thời gian qua đã gây trở ngại rất lớn cho việc sắp xếp lại nhân sự trong doanh nghiệp.

Bên cạnh đó, doanh nghiệp và người lao động bắt đầu quen dần với các hình thức làm việc tại nhà, làm việc trực truyến, nhiều doanh nghiệp cũng dần thay đổi mô hình kinh doanh cũng như cách thức tuyển dụng để có đủ nhân sự phù hợp trong tình hình hiện nay.

Đại dịch cũng đã góp phần thúc đẩy các xu hướng tự động hóa và số hóa, tăng cường ứng dụng công nghệ, nhất là công nghệ hỗ trợ sẽ càng được áp dụng rộng rãi trong nhiều lĩnh vực. Đây cũng là cơ hội cho doanh nghiệp tìm những hướng đi mới hiệu quả hơn để hoạt động trong bối cảnh dịch Covid-19 tác động mạnh mẽ.

Đối với người lao động, ngoài kiến thức chuyên môn, Trung tâm khuyến cáo cần nâng cao khả năng ứng dụng công nghệ thông tin, ngoại ngữ, tay nghề và tác phong công nghiệp, để đáp ứng nhu cầu tuyển dụng của doanh nghiệp trong thời gian tới, trước những thay đổi của thị trường lao động do dịch Covid-19 mang lại.

Nguồn: vneconomy

2021-10-25 / by / in