Thêm kết quả...

Đào tạo nguồn nhân lực cung ứng cho doanh nghiệp

Đào tạo nguồn nhân lực cung ứng cho doanh nghiệp

 

Ngày 22/10, Tiểu ban Giáo dục Nghề nghiệp (Hội đồng Quốc gia giáo dục và Phát triển nhân lực) tổ chức tọa đàm khoa học về đào tạo nhân lực có kỹ năng nghề, góp phần bảo đảm chuỗi cung ứng lao động, khôi phục sản xuất, kinh doanh, phát triển kinh tế – xã hội.

Hướng đến khôi phục thị trường lao động

Phát biểu tại tọa đàm, Tiến sỹ Trương Anh Dũng, Tổng cục Trưởng Tổng Cục Giáo dục nghề nghiệp (Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội) cho biết, đại dịch COVID-19 đã ảnh hưởng nặng nề đến mọi mặt của đời sống kinh tế-xã hội trên thế giới nói chung và Việt Nam nói riêng, trong đó có việc làm gián đoạn chuỗi cung ứng lao động của các ngành kinh tế, đồng thời tạo nên những thách thức to lớn về việc làm và kỹ năng nghề của thị trường lao động hiện tại cũng như tương lai.

 

Trương Anh Dũng, Tổng cục trưởng Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp phát biểu.
Ảnh: TTXVN phát

Thời gian qua Chính phủ Việt Nam đã ban hành, thực thi hàng loạt chính sách hỗ trợ doanh nghiệp, người dân, người lao động. Mặt khác, độ bao phủ vaccine đang được mở rộng rất nhanh. Những điều này đã góp phần làm “giảm sốc” các tác động của dịch bệnh tới thị trường lao động, tạo điều kiện tốt để mở cửa, khôi phục lại các hoạt động kinh tế.

Ngày 12/10, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 128/NQ-CP quy định tạm thời “thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19”, tạo khung khổ chính sách nhất quán để triển khai thực hiện, góp ý nghĩa quan trọng để việc lưu thông hàng hóa, giao thông vận tải, hoạt động sản xuất kinh doanh và thị trường lao động vận hành trơn tru, thông suốt. Trong đó, Nghị quyết giao Bộ Lao động – Thương binh và xã hội đề xuất các giải pháp khôi phục thị trường lao động.

Theo dự thảo Chương trình phục hồi và phát triển kinh tế giai đoạn 2022-2023 đang được xây dựng, việc hỗ trợ an sinh xã hội, đào tạo nghề, phát triển thị trường lao động cũng là một trong những nội dung quan trọng. Nhiều giải pháp đang được nghiên cứu để hỗ trợ các doanh nghiệp, trong đó có vấn đề đào tạo nghề nghiệp, để góp phần bảo đảm chuỗi cung ứng lao động, giúp doanh nghiệp phục hồi sản xuất, kinh doanh.

Doanh nghiệp cần nhân lực có kỹ năng nghề để sản xuất kinh doanh, nâng cao năng lực cạnh tranh. Các cơ sở Giáo dục nghề nghiệp cần doanh nghiệp để cho người học thực hành thực tập và nắm bắt nhu cầu để đào tạo. Người học, người lao động cần việc làm, cần sinh kế. Việc đào tạo nghề nghiệp, góp phần khôi phục thị trường lao động là một thách thức lớn và còn rất nhiều vấn đề phải giải quyết, cần sự chung tay của tất cả các chủ thể.

Mới đây, nhân ngày Kỹ năng lao động Việt Nam (4/10), Chủ tịch nước Nguyễn Xuân Phúc đã có thư kêu gọi đồng hành nâng tầm kỹ năng lao động vì một Việt Nam chiến thắng dịch bệnh và phát triển thịnh vượng. Cũng trong thời gian gần đây, nhiều chính sách về đào tạo, bồi dưỡng kỹ năng nghề cho người lao động đã được ban hành và đang triển khai như: Nghị quyết số 68/NQ-CP và QĐ số 23/2021/QĐ-TTg quy định về việc thực hiện một số chính sách hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động gặp khó khăn do đại dịch COVID-19; Quyết định 1446/QĐ-TTg ngày 30/8/2021 Phê duyệt Chương trình “Thí điểm đào tạo, đào tạo lại  nâng cao kỹ năng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư”.

Với ba phiên làm việc, các đại biểu dự tọa đàm đã tập trung thảo luận về các giải pháp tăng cường đào tạo nghề cung ứng cho doanh nghiệp góp phần bảo đảm chuỗi cung ứng lao động, khôi phục sản xuất, kinh doanh, phát triển kinh tế – xã hội; đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng, nâng cao trình độ kỹ năng cho người lao động bị ảnh hưởng bởi đại dịch COVID-19 theo Nghị quyết số 68/NQ-CP và Quyết định 23/2021/QĐ-TTg; đào tạo, đào tạo lại người lao động, đáp ứng yêu cầu của cuộc Cách mạng công nghiệp 4.0 theo Quyết định số 1446/QĐ-TTg.

Tình trạng thiếu lao động sau dịch COVID-19 khá trầm trọng

Bà Đỗ Thị Thúy Hương, Phó Chủ tịch Hiệp hội Công nghiệp hỗ trợ Việt Nam, cho biết Việt Nam đang là địa điểm thu hút nhiều doanh nghiệp lớn về công nghiệp điện tử trên thế giới, có 6 công ty điện tử lớn nhất đã xuất hiện ở Việt Nam. Tuy nhiên, giống như các doanh nghiệp công nghiệp đang gặp phải là ngành công nghiệp điện tử thiếu lao động sau dịch.

Đại dịch ảnh hưởng vô cùng lớn tới sản xuất điện tử, đặc biệt tại Thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh phía Nam. Tính tới ngày 21/10, các doanh nghiệp điện tử phía Nam mới thu hút được khoảng 60 – 70% lao động quay trở lại làm việc. Đơn cử như các phân xưởng của Samsung tại Khu Công nghệ cao Thành phố Hồ Chí Minh dự định hoạt động 100% công suất trở lại trong tháng 11, nhưng với tình hình này vẫn gặp khá nhiều khó khăn. Nguyên nhân là do tỷ lệ lao động tiêm đủ 2 mũi vaccine chưa cao. Nhìn chung tình trạng thiếu lao động vẫn đang khá trầm trọng.

Bên cạnh đó, theo bà Đỗ Thị Thúy Hương, hiện nay các doanh nghiệp FDI vẫn đánh giá đào tạo của lao động Việt Nam chưa theo kịp nhu cầu của doanh nghiệp. Hầu hết doanh nghiệp khi tuyển công nhân đều phải đào tạo lại, mất ít nhất 1 tuần đến cả tháng với lao động giản đơn, còn với công nhân đứng máy phải mất vài tháng hoặc cử ra nước ngoài để đào tạo lại…

Chủ tịch Hiệp hội các khu chế xuất và công nghiệp Thành phố Hồ Chí Minh Nguyễn Văn Bé thông tin, từ tháng 4-9/2021 có đến 800 nhà máy tại thành phố Hồ Chí Minh phải đóng cửa. Nhiều doanh nghiệp để có thể tiếp tục hoạt động đã duy trì “3 tại chỗ” nhưng chi phí rất tốn kém. Đến thời điểm hiện tại, Thành phố Hồ Chí Minh đã có 91% các doanh nghiệp quay lại hoạt động, 18 khu công nghiệp hoạt động bình thường mới, 70% lao động (khoảng 200 nghìn lao động) trở lại làm việc, còn khoảng 100.000 chưa trở lại.

Theo thống kê sau nới lỏng giãn cách và đánh giá nhanh tháng 10/2021 của Sở Lao động Thương binh và Xã hội TP Hồ Chí Minh, chỉ có 100 doanh nghiệp tuyển dụng khoảng 9.000 người đa dạng ở nhiều ngành nghề như chế biến, chế tạo… Riêng trong quý 4/2021, Thành phố Hồ Chí Minh cần 60.000 người lao động làm việc tại các nhà máy. Trong đó, tập trung 95% nhu cầu lao động ở khu vực ngoài nhà nước. Ngành cơ khí chế tạo, bao bì, giao thông vận tải… đang có nhu cầu tuyển dụng lớn lao động…

Đại diện Sở Lao động – Thương binh và Xã hội TP Hồ Chí Minh cho biết thành phố đang triển khai một số giải pháp thu hút lao động, như: kế hoạch 1 triệu căn nhà giá rẻ cho lao động thu nhập thấp; chương trình đưa đón lao động trở lại nhà máy an toàn; xây dựng kế hoạch học nghề trực tiếp cho sinh viên nghề…

Để khôi phục lại thị trường lao động hậu COVID-19, Tiến sỹ Vũ Xuân Hùng, Vụ trưởng Vụ Đào tạo chính quy (Tổng cục Giáo dục nghề nghiệp) cho biết: Tổng cục hiện đang xây dựng 2 phương án. Phương án 1 là đưa học sinh, sinh viên đi thực hành, thực tập tại doanh nghiệp. Theo đó, đưa 500.000 học sinh, sinh viên cơ bản (năm 1, năm 2); 500 nghìn học sinh sinh viên thành thạo (năm 2 hoặc năm 3) vào làm việc tại doanh nghiệp. Trong đó, riêng khu vực trọng điểm Đông Nam Bộ có khoảng gần 200.000 học sinh, sinh viên thuộc cơ sở giáo dục nghề nghiệp có thể tham gia tại doanh nghiệp.

Phương án hai là tiếp tục đẩy mạnh tuyển sinh, tổ chức đào tạo ở các trình độ của giáo dục nghề nghiệp. Theo đó, học sinh, sinh viên sẽ được vừa học vừa làm tại doanh nghiệp để đảm bảo nâng cao tay nghề.

Hai phương án trên có thể huy động được học sinh, sinh viên tham gia hoạt động sản xuất kinh doanh trong bối cảnh dịch COVID-19 đang cần người lao động, cũng như đảm bảo được mục tiêu nâng cao tay nghề cho học sinh, sinh viên; tăng cường đào tạo nghề cung ứng cho doanh nghiệp góp phần bảo đảm chuỗi cung ứng lao động, khôi phục sản xuất, kinh doanh, phát triển kinh tế – xã hội.

Phúc Hằng (TTXVN)

2021-10-25 / by / in
Nghị quyết về ban hành một số giải pháp nhằm hỗ trợ doanh nghiệp, người dân chịu tác động của dịch Covid-19

Nghị quyết về ban hành một số giải pháp nhằm hỗ trợ doanh nghiệp,
người dân chịu tác động của dịch Covid-19

 

Ngày 19-10-2021, Ủy ban Thường vụ Quốc hội ban hành Nghị quyết số 406/NQ-UBTVQH15 về một số giải pháp nhằm hỗ trợ doanh nghiệp, người dân chịu tác động của dịch Covid-19. Báo HNMO trân trọng đăng nguyên văn.

Ảnh minh họa

UỶ BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam;

Căn cứ Luật Tổ chức Quốc hội số 57/2014/QH13 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 65/2020/QH14; 

Căn cứ Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp số 14/2008/QH12 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 32/2013/QH13, Luật số 71/2014/QH13 và Luật số 61/2020/QH14; 

Căn cứ Luật Thuế thu nhập cá nhân số 04/2007/QH12 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 26/2012/QH13 và Luật số 71/2014/QH13;

Căn cứ Luật Thuế giá trị gia tăng số 13/2008/QH12 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Luật số 31/2013/QH13, Luật số 71/2014/QH13 và Luật số 106/2016/QH13;

Căn cứ Luật Quản lý thuế số 38/2019/QH14;

Căn cứ Nghị quyết số 30/2021/QH15 ngày 28-7-2021 của Quốc hội kỳ họp thứ nhất, Quốc hội khóa XV.

Căn cứ Công văn số 2062-CV/VPTƯ ngày 16-10-2021 của Văn phòng Trung ương Đảng về kết luận của Bộ Chính trị về chính sách miễn, giảm thuế hỗ trợ doanh nghiệp, người dân do tác động của đại dịch Covid-19.

                                                                   QUYẾT NGHỊ:

Điều 1. Một số giải pháp về miễn, giảm thuế

  1. Giảm 30% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp của năm 2021 đối với trường hợp người nộp thuế theo quy định của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp có doanh thu năm 2021 không quá 200 tỷ đồng và doanh thu năm 2021 giảm so với doanh thu năm 2019.

Không áp dụng tiêu chí doanh thu năm 2021 giảm so với doanh thu năm 2019 đối với trường hợp người nộp thuế mới thành lập, hợp nhất, sáp nhập, chia, tách trong kỳ tính thuế năm 2020, năm 2021.

  1. Miễn thuế thu nhập cá nhân, thuế giá trị gia tăng và các loại thuế khác phải nộp phát sinh từ hoạt động sản xuất, kinh doanh của các tháng trong quý III và quý IV-2021 đối với hộ, cá nhân có hoạt động sản xuất, kinh doanh tại các địa bàn cấp huyện chịu tác động của dịch Covid-19 trong năm 2021 do Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định. Không áp dụng việc miễn thuế đối với các khoản thu nhập, doanh thu từ cung cấp sản phẩm và dịch vụ phần mềm; sản phẩm và dịch vụ nội dung thông tin số về giải trí, trò chơi điện tử, phim số, ảnh số, nhạc số; quảng cáo số.
  2. Giảm thuế giá trị gia tăng kể từ ngày 1-11-2021 đến hết ngày 31-12-2021 đối với các hàng hóa, dịch vụ sau đây:

(i) Dịch vụ vận tải (vận tải đường sắt, vận tải đường thủy, vận tải hàng không, vận tải đường bộ khác); dịch vụ lưu trú; dịch vụ ăn uống; dịch vụ của các đại lý du lịch, kinh doanh tua du lịch và các dịch vụ hỗ trợ, liên quan đến quảng bá và tổ chức tua du lịch;

(ii) Sản phẩm và dịch vụ xuất bản; dịch vụ điện ảnh, sản xuất chương trình truyền hình, ghi âm và xuất bản âm nhạc; tác phẩm nghệ thuật và dịch vụ sáng tác, nghệ thuật, giải trí; dịch vụ của thư viện, lưu trữ, bảo tàng và các hoạt động văn hóa khác; dịch vụ thể thao, vui chơi và giải trí.

Hàng hóa, dịch vụ trong nhóm (ii) không bao gồm phần mềm xuất bản và các hàng hóa, dịch vụ sản xuất, kinh doanh theo hình thức trực tuyến.

Tùy thuộc vào phương pháp tính thuế, mức giảm thuế giá trị gia tăng được áp dụng như sau:

  1. a) Doanh nghiệp, tổ chức tính thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ quy định tại khoản này được giảm 30% mức thuế suất thuế giá trị gia tăng;
  2. b) Doanh nghiệp, tổ chức tính thuế giá trị gia tăng theo phương pháp tỷ lệ % trên doanh thu sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ quy định tại khoản này được giảm 30% mức tỷ lệ % để tính thuế giá trị gia tăng.
  3. Miễn tiền chậm nộp phát sinh trong năm 2020 và năm 2021 của các khoản nợ tiền thuế, tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với doanh nghiệp, tổ chức (bao gồm cả đơn vị phụ thuộc, địa điểm kinh doanh) phát sinh lỗ trong năm 2020.

Không áp dụng quy định tại khoản này đối với các trường hợp đã nộp tiền chậm nộp.

Điều 2. Tổ chức thực hiện

  1. Chính phủ có trách nhiệm triển khai để người tiêu dùng được thụ hưởng lợi ích từ việc giảm thuế giá trị gia tăng quy định tại khoản 3 Điều 1 của Nghị quyết này.
  2. Giao Chính phủ tiếp tục rà soát, thực hiện các giải pháp theo thẩm quyền để hỗ trợ doanh nghiệp, tổ chức giảm chi phí đầu vào; nghiên cứu phương án hỗ trợ thuế thu nhập doanh nghiệp dựa trên chi phí lao động, phương án sử dụng ngân sách cấp bù lãi suất tiền vay cho doanh nghiệp, tổ chức bị ảnh hưởng nặng bởi dịch Covid-19 để phục hồi sản xuất, kinh doanh.

Điều 3. Điều khoản thi hành

  1. Nghị quyết này có hiệu lực thi hành kể từ ngày ký.
  2. Chính phủ hướng dẫn thi hành Nghị quyết này.
  3. Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Ủy ban Tài chính, Ngân sách, Hội đồng Dân tộc và các Ủy ban khác của Quốc hội, Đoàn đại biểu Quốc hội, đại biểu Quốc hội, HĐND các cấp, Kiểm toán Nhà nước, trong phạm vi nhiệm vụ và quyền hạn của mình, giám sát việc thực hiện Nghị quyết này.
  4. ỦY BAN THƯỜNG VỤ QUỐC HỘI CHỦ TỊCH
    Vương Đình Huệ

Nguồn: hanoimoi

2021-10-25 / by / in
Giảm 30% thuế thu nhập doanh nghiệp, miễn thuế thu nhập cá nhân và VAT

Giảm 30% thuế thu nhập doanh nghiệp, miễn thuế thu nhập cá nhân và VAT

 

Ủy ban Thường vụ Quốc hội đồng ý giảm 30% số thuế thu nhập doanh nghiệp; miễn thuế thu nhập cá nhân, thuế giá trị gia tăng… để hỗ trợ doanh nghiệp, người dân chịu tác động dịch Covid-19.

Ngày 20/10, Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ ký ban hành Nghị quyết 406 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về một số giải pháp nhằm hỗ trợ doanh nghiệp, người dân chịu tác động của dịch Covid-19.

Theo đó, Thường vụ Quốc hội đồng ý giảm 30% số thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp của năm 2021 đối với trường hợp người nộp thuế theo quy định của Luật Thuế thu nhập doanh nghiệp có doanh thu năm 2021 không quá 200 tỷ đồng và doanh thu năm 2021 giảm so với doanh thu năm 2019.

Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ lắng nghe ý kiến của các doanh nghiệp

Không áp dụng tiêu chí doanh thu năm 2021 giảm so với doanh thu năm 2019 đối với trường hợp người nộp thuế mới thành lập, hợp nhất, sáp nhập, chia, tách trong kỳ tính thuế năm 2020, năm 2021.

Ngoài ra, Thường vụ Quốc hội đồng ý miễn thuế thu nhập cá nhân, thuế giá trị gia tăng và các loại thuế khác phải nộp phát sinh từ hoạt động sản xuất, kinh doanh của các tháng trong quý 3, 4 năm 2021 đối với hộ, cá nhân có hoạt động sản xuất, kinh doanh tại các địa bàn cấp huyện chịu tác động của dịch Covid-19 trong năm 2021 do Chủ tịch UBND tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương quyết định.

Không áp dụng việc miễn thuế đối với các khoản thu nhập, doanh thu từ cung cấp sản phẩm và dịch vụ phần mềm; sản phẩm và dịch vụ nội dung thông tin số về giải trí, trò chơi điện tử, phim số, ảnh số, nhạc số; quảng cáo số.

Giảm thuế giá trị gia tăng một số hàng hóa, dịch vụ

Ngoài ra, Thường vụ Quốc hội cũng cho phép giảm thuế giá trị gia tăng kể từ ngày 1/11/2021 đến hết năm đối với một số hàng hóa, dịch vụ.

Một là dịch vụ vận tải (vận tải đường sắt, vận tải đường thủy, vận tải hàng không, vận tải đường bộ khác); dịch vụ lưu trú; dịch vụ ăn uống; dịch vụ của các đại lý du lịch, kinh doanh tour du lịch và các dịch vụ hỗ trợ, liên quan đến quảng bá và tổ chức tour du lịch.

Hai là sản phẩm và dịch vụ xuất bản; dịch vụ điện ảnh, sản xuất chương trình truyền hình, ghi âm và xuất bản âm nhạc; tác phẩm nghệ thuật và dịch vụ sáng tác, nghệ thuật, giải trí; dịch vụ của thư viện, lưu trữ, bảo tàng và các hoạt động văn hóa khác; dịch vụ thể thao, vui chơi và giải trí (không bao gồm phần mềm xuất bản và các hàng hóa, dịch vụ sản xuất, kinh doanh theo hình thức trực tuyến).

Tùy thuộc vào phương pháp tính thuế, mức giảm thuế giá trị gia tăng được áp dụng theo từng trường hợp cụ thể.

Theo đó, doanh nghiệp, tổ chức tính thuế giá trị gia tăng theo phương pháp khấu trừ sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ quy định tại khoản này được giảm 30% mức thuế suất thuế giá trị gia tăng.

Doanh nghiệp, tổ chức tính thuế giá trị gia tăng theo phương pháp tỷ lệ % trên doanh thu sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ quy định tại khoản này được giảm 30% mức tỷ lệ % để tính thuế giá trị gia tăng.

Thường vụ Quốc hội cũng đồng ý miễn tiền chậm nộp phát sinh trong năm 2020 và năm 2021 của các khoản nợ tiền thuế, tiền sử dụng đất, tiền thuê đất đối với doanh nghiệp, tổ chức (bao gồm cả đơn vị phụ thuộc, địa điểm kinh doanh) phát sinh lỗ trong năm 2020. Chính sách này không áp dụng quy định tại khoản này đối với các trường hợp đã nộp tiền chậm nộp.

Thường vụ Quốc hội giao Chính phủ có trách nhiệm triển khai để người tiêu dùng được thụ hưởng lợi ích từ việc giảm thuế giá trị gia tăng. Chính phủ tiếp tục rà soát, thực hiện các giải pháp theo thẩm quyền để hỗ trợ doanh nghiệp, tổ chức giảm chi phí đầu vào; nghiên cứu phương án hỗ trợ thuế thu nhập doanh nghiệp dựa trên chi phí lao động, phương án sử dụng ngân sách cấp bù lãi suất tiền vay cho doanh nghiệp, tổ chức bị ảnh hưởng nặng bởi dịch Covid-19 để phục hồi sản xuất, kinh doanh.

Thu Hằng

Nguồn: vietnamnet

2021-10-25 / by / in
‘Chìa khóa’ để doanh nghiệp thu hút người lao động quay lại làm việc

‘Chìa khóa’ để doanh nghiệp thu hút người lao động quay lại làm việc

 (Chinhphu.vn) – Dù gặp nhiều khó khăn nhưng để duy trì sản xuất, các doanh nghiệp (DN) phía Nam đã chủ động lập kế hoạch tuyển dụng nhân sự mới và xây dựng nhiều chế độ ưu đãi, tạo thuận lợi để người lao động (NLĐ) yên tâm quay trở lại làm việc. Về phía NLĐ, do vừa trải qua giai đoạn khủng hoảng vì dịch bệnh cho nên có thể họ không chỉ đơn thuần tìm kiếm công việc có mức lương hay chế độ đãi ngộ hấp dẫn mà sẽ chú ý đến môi trường làm việc và mô hình vận hành của DN.

Trong Quý IV/2021, các DN phía nam sẽ cần số lượng lớn lao động để phục hồi sản xuất kinh doanh

Doanh nghiệp “rục rịch” tuyển dụng

Để có nhận định tổng quan về thị trường lao động tại các tỉnh phía Nam trong giai đoạn mới, những đơn vị tuyển dụng nhân sự hàng đầu như Navigos, Adecco… đã tiến hành khảo sát về nhu cầu và xu hướng tuyển dụng nổi bật trong quý IV/2021 của các doanh nghiệp (DN).

Phó Giám đốc bộ phận tuyển dụng Adecco TPHCM Nguyễn Hoàng Thành Chương cho biết, theo khảo sát của Adecco, trong quý IV/2021, các lĩnh vực bán lẻ và tiêu dùng sẽ cần nhiều nhân sự cho mùa kinh doanh cuối năm. Các công ty dịch vụ cũng sẽ tăng dần nhu cầu tuyển dụng do họ đã mất đi một phần lực lượng lao động sau nhiều tháng đóng cửa.

Trong những tháng tới, khi vaccine phòng COVID-19 được bao phủ tại các thành phố lớn, các đơn vị sử dụng lao động sẽ chào đón người lao động (NLĐ) trở lại làm việc một cách thận trọng. “Thay vì để toàn bộ NLĐ làm việc tại chỗ, các DN sẽ đưa dần 30% hoặc 50% lực lượng lao động trở lại văn phòng, nhà máy trong vài tháng đầu tiên. Do đó, việc tuyển dụng sẽ trở lại bình thường với hình thức kết hợp, bao gồm cả các cuộc gặp mặt trực tiếp và trực tuyến”, ông Nguyễn Hoàng Thanh Chương nhận định.

Theo khảo sát trong quý III/2021 của Navigos đối với 400 DN và 1.200 NLĐ, có 56,7% DN sẽ tuyển dụng ngay lập tức sau khi hoạt động bình thường trở lại, khoảng 17,5% chưa thể ra được quyết định. Các DN còn lại cho rằng, cần thêm một vài tháng để cơ cấu lại sản xuất mới có thể tiếp tục tuyển dụng trở lại.

Đáng chú ý, khảo sát của Navigos cho thấy có gần 50% DN không cắt giảm nhân sự và giữ nguyên lương, phúc lợi của năm 2021 cao hơn so với năm 2020 là 43,2%. Đây chủ yếu là các DN ngành công nghệ thông tin; tài chính/ngân hàng/bảo hiểm và xuất nhập khẩu. Tại Hà Nội và TPHCM, các DN trong lĩnh vực công nghệ thông tin đều có sự tăng trưởng lớn nhất về tuyển dụng nhân sự.

Tại TPHCM, nơi tập trung số lượng lớn các khu công nghiệp, khu chế xuất có số lượng lớn lao động từ các địa phương, Phó Giám đốc Trung tâm Dự báo nhu cầu nhân lực và Thông tin thị trường lao động TPHCM Phan Kỳ Quan Triết cho biết, dự kiến nhu cầu nhân lực quý IV năm 2021 cần khoảng 43.000 đến 56.000 chỗ làm việc; nhu cầu nhân lực có xu hướng tăng ở lao động bán thời gian, tuyển dụng tập trung ở các nhóm nghề như: Kinh doanh – thương mại; dịch vụ phục vụ cá nhân; công nghệ thông tin; cơ khí – tự động hoá; vận tải – kho bãi – dịch vụ cảng; dệt may – giày da…

Đáng chú ý, nhu cầu nhân lực là lao động qua đào tạo của quý IV/2021 chiếm 87,19% tổng nhu cầu nhân lực; trong đó, nhu cầu tuyển dụng ở trình độ đại học trở lên chiếm 21,07%; cao đẳng chiếm 19,81%; trung cấp chiếm 26,35%; sơ cấp chiếm 19,96%…

Kết quả khảo sát này cũng tương đồng với nhận định của Navigos và đơn vị cung cấp dịch vụ tuyển dụng nhân sự này cho rằng thị trường việc làm trong thời gian tới được dự báo sẽ là cuộc cạnh tranh mạnh mẽ của các ứng viên trên “đường đua” tìm kiếm việc làm. Sau đại dịch, nhà tuyển dụng có xu hướng tìm kiếm những ứng viên trình độ cao, chuyên môn tốt để có thể thích ứng linh hoạt với những thay đổi liên tục trong hoạt động sản xuất, kinh doanh.

NLĐ rất quan tâm đến vấn đề bảo đảm an toàn sản xuất của DN.

Giữ “sức khỏe” DN sẽ “giữ chân” được người lao động

Thực tế, dịch COVID-19 bùng phát tại TPHCM và nhiều tỉnh, thành phố phía Nam đã tạo ra một luồng dịch chuyển lao động lớn. Hàng ngàn lao động đã rời khỏi các thành phố lớn về quê do mất việc hoặc không đủ tiền để trụ lại thành phố.

Phó Chủ tịch Hiệp hội Nhựa, Phó Chủ tịch Hiệp hội Doanh nghiệp TPHCM Trần Việt Anh cho biết: “Đầu tháng 9, khảo sát một nhóm khoảng 300 DN trong các lĩnh vực công nghiệp phụ trợ và các sản phẩm thiên về kỹ thuật, chúng tôi thấy rằng, chỉ có khoảng 40% lao động mong muốn trở lại làm việc sau khi TPHCM mở cửa”.

Theo ông Trần Việt Anh, hiện nay có thể chia lực lượng lao động thành 4 nhóm gồm: Lực lượng làm trong các DN FDI, nhóm lao động làm trong các khu công nghiệp, nhóm lao động làm việc ngoài khu công nghiệp và lao động tự do. Trong đó, 2 nhóm đầu là lực lượng lao động kỹ thuật tương đối ổn định, trong đợt dịch vừa qua không bị ảnh hưởng quá nhiều về thu nhập, tỷ lệ dịch chuyển thấp. Tuy nhiên, cả 4 nhóm lao động này đều tập trung sống ở các xóm trọ, trong thời điểm giãn cách, hầu hết đều ở tại nơi trọ toàn thời gian, không gian sống chật hẹp, tạm bợ, không thể đảm bảo 5K, qua đó phát sinh nhiều F0, F1.

“Sống trong môi trường như vậy, nhiều lao động sẽ muốn về quê, nhất là các lao động tự do. Vì vậy, để đảm bảo nguồn lực lao động tại TPHCM, trong tương lai, Thành phố cần quan tâm xây dựng các khu lưu trú, khu nhà ở cho công nhân, xây dựng các trung tâm y tế phục vụ NLĐ”, ông Trần Việt Anh đề xuất.

Có thể thấy, dù gặp nhiều khó khăn nhưng để duy trì hoạt động, nhiều DN đã chủ động lập kế hoạch tuyển dụng nhân sự mới và liên lạc với nhân sự cũ đang tạm nghỉ, đồng thời thiết kế nhiều chế độ ưu đãi và tạo thuận lợi để thu hút NLĐ quay trở lại làm việc.

Ông Trương Tiến Dũng, Phó Chủ tịch Thường trực Hội Lương thực và Thực phẩm TPHCM, Tổng giám đốc Công ty CP Kinh doanh thủy hải sản Sài Gòn cho biết, Công ty có 400 lao động. Khi thực hiện sản xuất “3 tại chỗ”, Công ty có 200 lao động tham gia. “Chúng tôi nhận thấy nếu làm không tốt, chăm lo không tốt cho NLĐ thì sau đại dịch, nguy cơ thiếu lao động sẽ rất cao. Vì thế, khi thực hiện 3 tại chỗ, ban lãnh đạo công ty cùng ăn, cùng ở, cùng làm việc với NLĐ. Công ty chủ động chăm lo suất ăn tốt hơn để tăng cường sức khoẻ cho NLĐ”, ông Dũng nói.

Bên cạnh đó, với những NLĐ của Công ty không tham gia 3 tại chỗ, đang ở nhà, ở trọ, Công ty cũng thực hiện việc đi chợ hộ cho NLĐ để giúp họ tránh tiếp xúc, tránh lây nhiễm, yên tâm ở nhà phòng chống dịch.

Theo thống kê, chỉ có khoảng 20 trong tổng số 400 lao động của Công ty về quê và số này sẵn sàng quay lại nhà máy khi các địa phương hết giãn cách. Từ đầu tháng 10, có 300/400 NLĐ của Công ty đã quay lại làm việc sau khi mọi khâu chuẩn bị an toàn phòng chống dịch được thực hiện kỹ.

Trao đổi về các giải pháp “giữ chân” NLĐ, Chủ tịch HĐQT Tập đoàn Dệt may Việt Nam Lê Tiến Trường cho biết, việc thu hút NLĐ quay trở lại DN phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, trong đó quan trọng nhất là duy trì chế độ đãi ngộ thỏa đáng. Trạng thái của DN trước khi xảy ra dịch bệnh chính là “chìa khóa” để giữ chân NLĐ. DN có “sức khỏe” tốt, NLĐ sẽ yên tâm quay trở lại, xóa bỏ tâm lý muốn nhảy việc, tìm nơi thu nhập cao hơn.

Theo ông Lê Tiến Trường, NLĐ sẽ quay lại nhà máy tại các tỉnh phía nam chậm nhất là 2 tháng đối với ngành may và 1 tháng đối với ngành dệt sợi sau khi các địa phương mở cửa, các nhà máy được hoạt động trở lại. “Thực tế, khi NLĐ trở về quê ở các tỉnh miền Tây, họ sẽ phải tính đến bài toán mưu sinh. Bởi lẽ, các tỉnh này hầu như không có khu công nghiệp nên NLĐ muốn có việc làm vẫn phải quay trở lại các nhà máy”.

“Chìa khóa” là duy trì sự an toàn

Theo các chuyên gia, nếu chế độ đãi ngộ là yếu tố hàng đầu để thu hút NLĐ quay trở lại làm việc thì bảo đảm sự an toàn trong lao động, sản xuất trước diễn biến phức tạp của đại dịch COVID-19 chính là “chìa khóa” để “giữ chân” NLĐ gắn bó lâu dài với DN.

Giám đốc điều hành Navigos Nguyễn Phương Mai cho rằng, DN cần nhận ra vai trò của mình trong công tác phòng chống dịch bệnh. Dù ở trong giai đoạn chống dịch hay sau này, các DN cũng cần duy trì vai trò trong việc ngăn chặn và làm chậm sự lây lan của dịch bệnh tại nơi làm việc. “Cơn bão” dịch bệnh đi qua, DN nên ưu tiên lên kế hoạch chuẩn bị, ứng phó và kiểm soát dịch bệnh dành cho NLĐ. Khi đóng vai trò chủ động, DN có thể đưa ra các kịch bản ứng phó như làm việc từ xa, hỗ trợ nhân viên kịp thời, ưu tiên cho sự linh hoạt giờ giấc…

Ngoài lương thưởng thì phúc lợi cho NLĐ là rất quan trọng. Phúc lợi nên linh hoạt và đặt trọng tâm vào các chính sách phúc lợi cho NLĐ. Hiện NLĐ rất quan tâm đến sức khoẻ nên DN cần đầu tư vào vấn đề này.

Ông Củ Phát Nghiệp, Chủ tịch Công đoàn Công ty TNHH Pou Yuen Việt Nam cho biết, tính đến thời điểm hiện nay, Pou Yuen Việt Nam có hơn 40.000 lao động đã tiêm vaccine mũi 1 và khoảng 20.000 lao động đã tiêm vaccine mũi 2. Đây chính là một trong những giải pháp hiệu quả nhất để “giữ chân” NLĐ, tạo cho NLĐ tâm lý an tâm, tập trung sản xuất và gắn bó với DN.

Ông Củ Phát Nghiệp cũng mong muốn TPHCM sẽ tiếp tục tạo điều kiện cho NLĐ ở các tỉnh nhưng làm việc tại TPHCM được tiêm vaccine để họ được đi làm trở lại. DN cam kết sẽ thực hiện nghiêm túc các biện pháp an toàn phòng chống dịch. DN cũng sẽ đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao ý thức cho NLĐ, để họ có ý thức bảo vệ an toàn cho bản thân, cho gia đình và cho cộng đồng.

Các khảo sát cũng cho thấy, DN cần phát triển nguồn nhân lực theo định hướng mới. Khi nền kinh tế hồi phục, nhiều ngành sẽ bắt đầu tiến vào giai đoạn sản xuất mới, đây cũng là lúc DN săn đón lao động đã qua đào tạo, lao động trình độ cao với chính sách phúc lợi và mức lương khác nhau. Tuy nhiên, NLĐ vừa trải qua giai đoạn khủng hoảng do dịch bệnh cho nên có thể họ không chỉ đơn thuần tìm kiếm công việc có mức lương hay chế độ đãi ngộ hấp dẫn mà sẽ cân nhắc về môi trường làm việc và mô hình vận hành của DN. Do đó, DN nên tận dụng điểm này để đưa ra những chiến lược mới thu hút NLĐ có trình độ, tay nghề khi thị trường lao động bắt đầu khôi phục.

“Nơi làm việc lấy con người làm trung tâm, nơi ưu tiên quản lý dựa trên sự đồng cảm, tính linh hoạt và sự hợp tác có định hướng sẽ là chìa khóa để duy trì lực lượng lao động trong dài hạn”, Phó Giám đốc bộ phận tuyển dụng, Adecco TPHCM Nguyễn Hoàng Thành Chương nhận định.

Thu Cúc

Nguồn: chinhphu.vn

2021-10-25 / by / in
Doanh nghiệp gia đình làm thế nào để vượt qua đại dịch?

Doanh nghiệp gia đình làm thế nào để vượt qua đại dịch?

 

Các lãnh đạo của các doanh nghiệp gia đình đang buộc phải đưa ra các quyết định kinh doanh nhanh chóng để giúp duy trì nguồn lực lao động và đảm bảo tính thanh khoản của doanh nghiệp, làm tiền đề cho sự phát triển trong giai đoạn sống chung cùng đại dịch…

Phạm vi ảnh hưởng của làn sóng thứ 4 của đại dịch Covid-19 lan rộng và kéo dài, gây ra các tác động sâu sắc đến nhiều thành phần kinh tế trong xã hội từ các tiểu thương nhỏ lẻ, hộ kinh doanh cá thể cho đến các doanh nghiệp và tập đoàn lớn. Số liệu của Tổng cục Thống kê cho thấy tính đến hết quý 3/2021, số doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường là 90,3 nghìn doanh nghiệp, tăng 15,3% so với cùng kỳ.

Các doanh nghiệp đang đối mặt với các khó khăn đến từ các bên và cả trong nội tại doanh nghiệp. Trong hoạt động kinh doanh, mặc dù các loại chi phí gia tăng, chuỗi cung ứng đứt gãy, doanh thu sụt giảm, tuy nhiên, doanh nghiệp vẫn phải đảm bảo tính liên tục cho hoạt động của doanh nghiệp cũng như hoạt động của các đối tác kinh doanh. Các đối tác ngân hàng nghiêm ngặt hơn trong việc cấp tín dụng mới.

Doanh nghiệp gia đình tại Việt Nam, cũng giống như các doanh nghiệp khác, đã và đang chuyển tâm lý từ “làm thế nào chúng ta có thể phát triển “sang” làm thế nào chúng ta có thể vượt qua”. Phần lớn các doanh nghiệp gia đình hiện nay đang trong giai đoạn chuyển giao sang thế hệ thứ hai kế nghiệp. Chúng tôi nhận thấy đây là cơ hội chuyển tiếp kinh nghiệm xử lý khủng hoảng, xử lý suy thoái từ thế hệ thứ nhất sang cho thế hệ thứ hai. Điều này đóng vai trò nền tảng trọng tâm, tạo tiền đề cho việc xây dựng chiến lược dài hạn của các doanh nghiệp gia đình.

Do ít có sự tác động của bên thứ ba, việc đưa ra quyết định của các doanh nghiệp gia đình diễn ra nhanh chóng và kịp thời giữa các thành viên trong gia đình, mặc dù có thể mang những tổn thất ngắn hạn nhưng có lợi cho công ty trong dài hạn. Chẳng hạn như việc chấp nhận một số chi phí tăng cao, ổn định lực lượng lao động, giữ giá bán đã thỏa thuận với đối tác.

Mặt khác, các doanh nghiệp gia đình trong lịch sử đã cho thấy khả năng phục hồi tốt hơn các tổ chức khác khi xảy ra những đợt suy thoái kinh tế bất ngờ, đột ngột. Khi tư vấn cho các doanh nghiệp gia đình, chúng tôi thường khuyến nghị 3 vấn đề mà họ cần chú trọng nhằm vượt qua giai đoạn khủng hoảng.

Duy trì nguồn lực lao động

Sự gắn kết của nhân viên tác động trực tiếp đến hiệu quả hoạt động của doanh nghiệp. Mặc dù việc duy trì điều kiện cho hoạt động kinh doanh liên tục là rất quan trọng, nhưng một ưu tiên chính của các doanh nghiệp gia đình trong giai đoạn khó khăn và bất ổn này là một số hỗ trợ nhân viên nhằm duy trì nguồn lực lao động.

Theo khảo sát Doanh nghiệp gia đình Việt Nam của PwC thực hiện cuối năm 2020(2), có trên 70% doanh nghiệp tham gia khảo sát chia sẻ rằng họ đã hỗ trợ nhân viên làm việc từ xa, và trên 40% cố gắng giữ lại số lượng lao động nhiều nhất có thể, đồng thời cung cấp các hỗ trợ về sức khỏe tinh thần cho nhân viên. Điều này sẽ giúp doanh nghiệp có nguồn lực ổn định để tái khởi động và phục hồi tốt trong quá trình mở cửa trở lại của nền kinh tế.

Các doanh nghiệp gia đình cũng cần quan tâm đến việc chia sẻ thông tin về tình hình tài chính công ty cho nhân viên của mình, thay vì miễn cưỡng làm vì lý do bảo mật như trước đây. Giao tiếp và truyền đạt thông tin rõ ràng là một trong những cách giúp xây dựng lòng tin và giảm bớt lo lắng cho nhân viên trung thành của công ty.

Tính thanh khoản của doanh nghiệp

Tìm kiếm sự ổn định và duy trì thanh khoản là một trong những thách thức lớn của doanh nghiệp trong thời điểm này. Việc đảm bảo sự cân đối chính xác các khoản thu với các khoản chi của doanh nghiệp rất quan trọng và mang tính sống còn đối với doanh nghiệp. Có một số bước mà chúng tôi khuyên các doanh nghiệp nên thực hiện để tiếp tục duy trì tính thanh khoản của mình(3), bao gồm:

Đánh giá lại danh mục chi phí để xem các chi phí nào cần loại bỏ, các khoản chi phí nào chưa thực sự cần thiết phải phát sinh, và có thể cắt giảm, các chi phí “tốt” giúp duy trì hoạt động doanh nghiệp và sản xuất.

Đối với các khoản thanh toán, xác định những khoản thanh toán nào có thể được hoãn lại và thương lượng với nhà cung cấp về gia hạn thời gian thanh toán.

Xác định lại danh mục đầu tư cả của doanh nghiệp, tạm hoãn hoặc thoái vốn khỏi các dự án khác không được coi là cần thiết.

Xác định lại các khoản nợ, làm việc với các bên cho vay để yêu cầu gia hạn hoặc giảm chi phí lãi vay nếu có thể. Đánh giá chu kỳ vốn lưu động, trong trường hợp chu ký vốn thay đổi do ảnh hưởng của Covid-19, thì làm việc với các ngân hàng điều chỉnh thời hạn của các khoản giải ngân mới trong hạn mức phù hợp với chu kỳ mới. Việc kết hợp các giải pháp này giúp giảm bớt áp lực về dòng tiền đến hạn thanh toán.

Tính thanh khoản của gia đình

58% doanh nghiệp gia đình trong khảo sát của PwC Việt Nam(2) chia sẻ rằng vốn gia đình là nguồn tài chính chủ đạo để duy trì hoạt động kinh doanh và tăng trưởng bên cạnh các nguồn tài chính truyền thống khác (vay vốn ngân hàng, vốn hoạt động v.v..). Chính vì vậy, đối với doanh nghiệp gia đình, thanh khoản của các thành viên trong gia đình cũng được xem là một nguồn thanh khoản dự phòng tối quan trọng của doanh nghiệp.

Với dự đoán việc ảnh hưởng của đại dịch vẫn có thể diễn ra trong một thời gian dài, chúng tôi thường khuyến nghị các thành viên trong gia đình:

Lập ra kế hoạch dòng tiền cá nhân của mình trong thời gian 12-24 tháng trong trường hợp xấu nhất nguồn thu từ việc chia cổ tức từ hoạt động kinh doanh không còn.

Rà soát và đánh giá các khoản mục đầu tư cá nhân của mình các khoản mục nào có tính thanh khoản cao nhất, các khoản mục nào không cần thiết có thể thoái vốn, trong trường hợp xấu nhất thì có thể góp vốn vào duy trì hoạt động của doanh nghiệp.

Việc minh bạch thông tin đến các thành viên trong gia đình là rất cần thiết. 70% doanh nghiệp trong khảo sát (2) tiết lộ Covid-19 đã tăng cường sự giao tiếp chia sẻ thông tin kinh doanh giữa các thành viên trong gia đình. Nếu trước đây chỉ các thành viên tham gia điều hành được tiếp cận các thông tin về hoạt động kinh doanh và tài chính của doanh nghiệp, thì trong giai đoạn này các thông tin cũng được chia sẻ đến các thành viên không tham gia điều hành. Mặc dù có thể có những tranh cãi phát sinh, việc minh bạch thông tin trong các cuộc trao đổi nội bộ gia đình sẽ giúp giảm thiểu xung đột giữa các thanh viên đặc biệt là trong thời điểm căng thẳng như hiện tại.

Nguồn: vneconomy

2021-10-22 / by / in
Hà Nội cho phép xe khách, bến xe được hoạt động 100% trở lại
VOV.VN – Xe khách tại Hà Nội được hoạt động bình thường trở lại thay vì chỉ được chạy với tần suất 5% lượt chuyến và chở khách tối đa bằng 50% số ghế như trước. Cùng với đó, bỏ quy định khách phải test COVID-19 trước khi lên xe…

Sở GTVT Hà Nội vừa có thông báo cho các bến xe, trung tâm quản lý và đơn vị vận tải trên địa bàn Hà Nội về việc tổ chức vận tải trong tình hình mới “Thích ứng an toàn, linh hoạt”.

Văn bản do ông Đào Việt Long-Phó Giám đốc Sở GTVT Hà Nội ký cho biết, căn cứ vào các chỉ đạo của Chính phủ, Bộ GTVT về việc phối hợp chỉ đạo triển khai hướng dẫn tạm thời về tổ chức hoạt động vận tải đảm bảo thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID, Sở GTVT Hà Nội yêu cầu các đơn vị kinh doanh vận tải bằng xe ô tô, các đơn vị khai thác bến xe, cảng hàng không, ga đường sắt, đơn vị cung cấp phần mềm kết nối trong hoạt động vận tải trên địa bàn thành phố tổ chức lại hoạt động vận tải trên địa bàn.

Theo đó, bắt đầu từ ngày 21/10, tuân thủ các yêu cầu chung tại phần 1, Quyết định số 1812 của Bộ GTVT, gồm: Khôi phục lại hoạt động vận tải của 5 lĩnh vực đường bộ, đường thủy nội địa, hàng hải, đường sắt, hàng không cho phù hợp với công tác phòng, chống dịch COVID để phát triển kinh tế – xã hội, bảo đảm an ninh, trật tự an toàn xã hội; đưa đời sống sinh hoạt của người dân dần trở lại tình trạng bình thường mới.

Văn bản của Sở GTVT Hà Nội nêu: Do Hà Nội đang là vùng 1 (vùng xanh), trong phần hướng dẫn về lĩnh vực hoạt động vận tải đường bộ cần thực hiện hướng dẫn tại mục II phần 2 quyết định của Bộ GTVT. Cụ thể: “Tổ chức hoạt động vận tải hành khách với tần suất bình thường”.

Không test COVID-19 đối với khách Vùng 1, 2, 3 theo quy định

Sở GTVT Hà Nội yêu cầu, với hành khách đi trên các tuyến vận tải liên tỉnh, cần tuân thủ “Thông điệp 5K”; khai báo y tế theo quy định của Bộ Y tế; thực hiện nghiêm các biện pháp phòng, chống dịch.

Văn bản của Sở GTVT Hà Nội nêu rõ quy định về xét nghiệm COVID-19: Theo đó, đối với hành khách chỉ phải xét nghiệm, test COVID-19 trong các trường hợp: có biểu hiện triệu chứng sốt, ho, mệt mỏi, đau họng; hành khách đến từ địa bàn có dịch ở cấp 4 (vùng đỏ) hoặc cách ly y tế trong vùng phong tỏa; không yêu cầu xét nghiệm khi di chuyển trong cùng một địa bàn.

Đối với người đã tiêm đủ liều vaccine và người mắc COVID-19 đã khỏi bệnh đi xe khách, chỉ xét nghiệm một trong các trường hợp: khi có yêu cầu điều tra dịch tễ; đến từ địa bàn có dịch ở cấp 4 hoặc cách ly y tế vùng phong tỏa. Việc xét nghiệm SARS-CoV-2 được thực hiện bằng RT-PCR hoặc test kháng nguyên nhanh có giá trị trong vòng 72 giờ.

“Yêu cầu các bến xe, trạm dừng nghỉ, xây dựng và triển khai phương án, kế hoạch đón, trả hành khách bảo đảm an toàn; bố trí điểm khai báo y tế, quét mã QR; niêm yết số điện thoại đường dây nóng của cơ quan chức năng địa phương để thông tin khi có vi phạm quy định về phòng, chống dịch; bố trí khu cách ly cho các trường hợp có các triệu chứng nghi nhiễm COVID”, Phó Giám đốc Sở GTVT Hà Nội Đào Việt Long yêu cầu./.

Kiến nghị Chính phủ chỉ đạo “khơi thông” vận tải

Theo Thứ trưởng Bộ GTVT Lê Đình Thọ, sau đợt 1 thực hiện tổ chức hoạt động vận tải hành khách của các lĩnh vực đường bộ, đường sắt, hàng không đảm bảo thích ứng an toàn, linh hoạt, kiểm soát hiệu quả dịch COVID-19.

Với vận tải khách đường bộ, từ ngày 13 – 18/10/2021, có 48 địa phương đã được UBND tỉnh đồng ý cho thực hiện khôi phục hoạt động tuyến vận tải hành khách cố định liên tỉnh. 15 Sở GTVT đã báo cáo UBND tỉnh kế hoạch khôi phục lại tuyến.

“Có 38 địa phương đã tổ chức khai thác với tổng số tuyến đăng ký là 793. Trong đó, số tuyến thực chạy là 588. Số chuyến đăng ký hoạt động/ngày là 1.970 chuyển. Số chuyến hoạt động thực tế là 1.037. Số xe hoạt động là 944 xe. Số khách vận chuyển là 5.641”, Thứ trưởng Bộ GTVT cho hay.

Đánh giá về khó khăn trong quá trính thí điểm, Thứ trưởng Lê Đình Thọ cho biết, bên cạnh đó, tâm lý khách còn e ngại, lo lắng nên chưa tự tin đi lại bằng phương tiện giao thông công cộng. Mặt khác, nhiều địa phương còn có quy định quá chặt chẽ việc xét nghiệm, cách ly đối với hành khách về địa phương.

Bên cạnh đó, việc yêu cầu lái xe, phụ xe phải tiêm đủ liều vaccine khó thực hiện. Bởi thực tế, lái xe, phụ xe, nhân viên phục vụ trên xe ở hầu hết các địa phương đều mới được tiêm 1 liều vaccine, tỷ lệ tiêm đủ liều vaccine còn thấp.

“Do điều kiện hành khách khi đi xe phải đảm bảo các quy định tại Quyết định 1777 của Bộ GTVT nên tại một số tỉnh, số lượng người được tiêm vaccine mũi hai còn thấp, dẫn đến lượng khách từ các tỉnh nhỏ đi các thành phố lớn hoặc các tỉnh lớn không cao. Một số tỉnh thành phố thuộc vùng xanh nhưng vẫn duy trì chốt kiểm soát dịch bệnh COVID-19 và chưa cho hoạt hoạt động vận tải hành khách liên tỉnh vào hoạt động bình thường”, ông Thọ nêu lý do.

Cũng theo Thứ trưởng Bộ GTVT Lê Đình Thọ, Nghị quyết 128 của Chính phủ quy định các tỉnh thành phố xác định cấp độ dịch trên địa bàn, tuy nhiên việc công bố cấp độ dịch tại các địa phương còn chưa kịp thời, đến nay mới chỉ có một số tỉnh, thành phố nên dẫn đến việc tổ chức hoạt động vận tải hành khách tại địa phương còn lúng túng, gây khó khăn trong việc áp dụng các biện pháp phòng, chống dịch tương ứng với hoạt động vận tải theo quy định.

“Mặt khác, việc công bố cấp độ dịch chưa có tổng hợp chung trên toàn quốc mà mỗi tỉnh công bố tại một trang web riêng, gây khó khăn cho đơn vị kinh doanh vận tải trong việc theo dõi và cập nhật thông tin để có phương án hoạt động phù hợp”, Bộ GTVT cho biết.

Bộ GTVT kiến nghị Chính phủ chỉ đạo về kế hoạch khai thác vận tải (đường bộ, hàng không, đường sắt và đường thủy) trong thời gian tới. Cùng đó, chỉ đạo UBND tỉnh, thành phố tiếp tục ủng hộ việc mở lại hoạt động vận tải hành khách trên các lĩnh vực.

Yêu cầu các địa phương công bố kịp thời cấp độ dịch tại địa phương để Sở GTVT địa phương đó tra cứu và thống nhất tổ chức hoạt động vận tải hành khách liên tỉnh cho phù hợp theo quy định tại Nghị quyết số 128 của Chính phủ và Quyết định số 4800 của Bộ Y tế; Có kế hoạch khẩn trương tiêm vaccine cho lái xe, nhân viên phục vụ và cán bộ công nhân viên tại bến xe, trạm dừng nghỉ để đảm bảo nhân sự cho công tác tổ chức vận tải./.

2021-10-22 / by / in ,
Làm thế nào để tuyển dụng được các nhân viên mới tài năng cho công ty của bạn

Làm thế nào để tuyển dụng được các nhân viên mới tài
năng cho công ty của bạn

 

1.Hoạch định nguồn nhân lực

Việc hoạch định nguồn nhân lực lao động phải được tiến hành thường xuyên. Các chuyên gia nhân sự phải hiểu cung và cầu nhân tài. Cần tập trung vào những gì đang xảy ra trên thị trường lao động và nó liên quan như thế nào đến các mục tiêu kinh doanh của công ty.

2.Cải thiện chất lượng nhóm ứng cử viên

Trong nhiều trường hợp, Nhân sự bỏ sót ứng viên tốt nhất của họ vì họ không tìm được những ứng cử viên chất lượng ngay từ đầu. Phần lớn những cái tên trong danh sách này thuộc về những ứng viên thụ động, hoặc những ứng viên hiện đang làm việc cho người khác và cũng không quá tích cực tìm kiếm một công việc mới. Các tạo ra nhóm ứng cử viên tốt:

  • Tìm kiếm và xây dựng mối quan hệ với các trường đại học, nhà tuyển dụng và các công ty tìm kiếm.
  • Cho phép nhân viên hiện tại tham gia các hoạt động chuyên môn bên ngoài để giúp thu hút nhân tài mới.
  • Tìm kiếm nhân viên tiềm năng trên các phương tiện truyền thông xã hội khác.

3.Đánh giá nội bộ

Cung cấp các cơ hội thăng tiến và sau này cho nhân viên hiện tại giúp nâng cao tinh thần. Nó cũng làm cho nhân viên cảm thấy tài năng, năng lực và thành tích của họ được đánh giá cao. Cho ứng viên nội bộ một cuộc phỏng vấn giúp nhân sự có cơ hội hiểu rõ hơn về họ. Đổi lại, nhân viên hiểu thêm về các mục tiêu và nhu cầu của tổ chức.

4.Các công cụ tuyển dụng hiện đại

Có rất nhiều công cụ trên mạng mà các nhóm nhân sự có thể và nên sử dụng trong quá trình tuyển dụng. Những công cụ này thường cải thiện hiệu quả. Hãy sử dụng công nghệ tuyển dụng thông minh. Công nghệ tuyển dụng được trang bị AI cho phép một số mức tăng quan trọng. Nó cho phép sàng lọc nhanh hơn. Nó cũng cho phép công bằng hơn trong quá trình này, nhờ đó có thể giúp chống lại sự thiên vị.

5.Tập trung vào kinh nghiệm của ứng viên

Tiếp theo, bộ phận nhân sự nên quan tâm đúng mức đến kinh nghiệm của ứng viên. Cách tốt nhất để cải thiện trải nghiệm của ứng viên là chỉ cần tôn trọng nhân viên mới tiềm năng như bạn đối với nhân viên hiện tại. Điều tương tự cũng có thể nói đối với những nhân viên nội bộ đó. Điều này đòi hỏi những gì? Đối với người mới bắt đầu: minh bạch. Nhân sự phải hoàn toàn cởi mở, trung thực và giao tiếp càng nhiều càng tốt. 81% người tìm việc nói rằng giao tiếp liên tục sẽ tốt hơn trải nghiệm tổng thể 3 .

6.Thương hiệu của nhà tuyển dụng

Nhân sự nên xem xét các hoạt động của nhân viên trong công ty để giữ chân, tạo động lực, trách nhiệm giải trình, khen thưởng, công nhận, tính linh hoạt trong cân bằng cuộc sống và công việc, thăng tiến và tham gia. Đây là chìa khóa để trở thành một nhà tuyển dụng được lựa chọn. Nếu những cách làm này thành công, nhân viên hiện tại sẽ khoe khoang rằng tổ chức là một nơi tuyệt vời để làm việc. Điều này sẽ giúp tăng tỷ lệ ứng viên tìm kiếm công ty.

7.Giữ chân nhân viên hiện tại

Như đã đề cập trước đây, nhân viên hiện tại có thể là một tài sản lớn trong việc thu hút nhân tài mới. Tìm đến nhân viên để giới thiệu ứng viên. Họ có thể hỗ trợ sự kiện trong việc phác thảo trình độ của các ứng viên tiềm năng. Nhân viên có thể giúp đỡ trong quá trình phỏng vấn. Vì họ là người thực hiện công việc, họ có thể giúp đưa ra những câu hỏi đi vào thực tế của công việc.

8.Đưa ra mức lương cao nhất và những lợi ích tốt nhất

Điều này thường không có nghĩa là: công ty trả lương cao hơn và có lợi ích tốt hơn sẽ thu hút nhân viên giỏi hơn. Điều quan trọng là Nhân sự phải theo dõi mức lương cả ở công ty của họ và đối thủ cạnh tranh của họ. Điều tương tự cũng có thể nói đối với những lợi ích. Có thể cạnh tranh theo cách này sẽ giúp HR thu hút được ứng viên tốt nhất có thể.

9.Kiểm tra kỹ sơ yếu lý lịch

Nhân sự LUÔN LUÔN phải kiểm tra sơ yếu lý lịch. Trong xã hội ngày nay, HR cần phải theo đuổi mọi con đường để đảm bảo rằng những người được thuê có thể làm công việc, đóng góp vào sự tăng trưởng và phát triển của công ty và không có hành vi vi phạm trong quá khứ có thể gây nguy hiểm cho lực lượng lao động hiện tại. Trên thực tế, công ty có thể phải chịu trách nhiệm nếu không tiến hành kiểm tra lý lịch và sau đó người ta biết được nhân viên mới đã tấn công một nhân viên khác tại công việc trước đó.

10.Nhân viên cũ cũng quan trọng như nhân viên mới

Phần lớn thông tin trong bài viết này tập trung vào việc tìm kiếm và thuê những nhân tài tốt nhất. Nhiều chiến lược trong số đó bao gồm việc sử dụng nhân viên hiện tại. Nhân sự cũng nên khai thác sức mạnh của các nhân viên cũ. Không phải tất cả các mối quan hệ đã kết thúc giữa nhân viên và chủ lao động đều tiêu cực. Những người rời bỏ công ty với điều kiện tốt thường sẽ nói chuyện tích cực với các nhân viên tiềm năng khác. Thậm chí tốt hơn, những nhân viên cũ này có thể biến thành nhân viên boomerang nghĩa là cuối cùng họ sẽ quay lại làm việc cho công ty. Nếu mối quan hệ kết thúc không tốt đẹp, cả hai chiến lược tương lai này sẽ không hoạt động.

Tổng kết

Cần nhắc lại rằng việc tuyển dụng hiện nay quan trọng hơn so với những năm gần đây. Nhân sự phải tập trung vào việc mang đến những ứng viên phù hợp và tốt nhất. Nhân tài là mạch máu của một công ty. Không có nó, một doanh nghiệp không thể tồn tại. Nhân tài được tuyển dụng càng mạnh thì tương lai của doanh nghiệp càng tốt.

2021-10-21 / by / in
Doanh nghiệp Việt sản xuất máy tính bảng giá rẻ phục vụ học trực tuyến

Doanh nghiệp Việt sản xuất máy tính bảng giá rẻ phục vụ học trực tuyến

 

TTO – Mức giá một chiếc máy tính bảng dự kiến 2.350.000-2.450.000 đồng tùy theo cấu hình. Doanh nghiệp khẳng định bán phi lợi nhuận.

Các em học sinh sử dụng máy tính bảng tra cứu thông tin bài học
Ảnh: NGUYÊN NGỌC

Ngày 19-10, Công ty HANET Technology (đơn vị thành viên của Tập đoàn Công nghệ G-Group) công bố đã nghiên cứu và sản xuất máy tính bảng có giá thành rẻ với mục tiêu phi lợi nhuận và hỗ trợ cộng đồng theo chương trình “Sóng và máy tính cho em”.

Đại diện doanh nghiệp cho biết những chiếc máy tính bảng này nhằm giúp các em học sinh đang ở vùng có dịch COVID-19, hoàn cảnh khó khăn có thể có một chiếc máy tính bảng cấu hình tốt với giá rẻ trong thời gian ngắn nhất để học tập trực tuyến.

“G-Group không kinh doanh bán lẻ sản phẩm này, chỉ nhận đặt hàng từ các bộ ngành, tổ chức, doanh nghiệp trong việc tài trợ máy tính cho học sinh. Chúng tôi mong muốn thông qua dự án phi lợi nhuận này, các em học sinh sẽ có điều kiện học tập tốt hơn, đặc biệt trong thời điểm dịch bệnh đang diễn biến phức tạp. G-Group có thể sản xuất và cung cấp khoảng 1 triệu chiếc máy tính bảng”, ông Võ Đức Thọ, tổng giám đốc HANET Technology, chia sẻ.

Hiện tại, G-Group đang bắt đầu nhận đặt hàng từ các đơn vị. Để có mức giá tốt như trên, số lượng tối thiểu cần để sản xuất là 10.000 chiếc. Mức giá một chiếc máy tính bảng sẽ từ 2.350.000-2.450.000 đồng tùy theo cấu hình.

Nguồn: Tuổi trẻ

2021-10-20 / by / in
Doanh nghiệp ‘kêu trời’ vì phải thu gom ô tô để tái chế, Bộ trưởng TN-MT nói gì?

Doanh nghiệp ‘kêu trời’ vì phải thu gom ô tô để tái chế,
Bộ trưởng TN-MT nói gì?

 

Đối thoại với Bộ trưởng TN-MT, các doanh nghiệp “kêu trời” vì dự thảo quy định buộc họ phải thu gom ô tô, xe máy hết niên hạn để tái chế, góp phần bảo vệ môi trường.

Ngày 18.10, Bộ TN-MT có cuộc làm việc với các hiệp hội doanh nghiệp về xây dựng Nghị định hướng dẫn thi hành luật Bảo vệ Môi trường 2020.

Ông Lê Văn Vệ cho rằng, quy định cứng tỉ lệ thu gom, tái chế ô tô, xe máy là làm khó doanh nghiệp
Ảnh: LÊ QUÂN

 

Doanh nghiệp nói bị làm khó

Ông Lê Văn Vệ, đại diện các doanh nghiệp sản xuất, nhập khẩu ô tô, xe máy, “kêu trời” bởi quy định doanh nghiệp phải có tỷ lệ thu gom, tái chế nhất định đối với sản phẩm như trong dự thảo Nghị định hướng dẫn luật Bảo vệ Môi trường 2020 đưa ra.

“Đặc thù của ô tô, xe máy là thời gian sử dụng dài. Đây lại là tài sản có đăng ký quyền sở hữu, sử dụng của công dân, được pháp luật bảo vệ chặt chẽ. Nhưng dự thảo đề xuất là nhà sản xuất phải có trách nhiệm thu gom, tái chế với tỷ lệ bắt buộc. Như vậy là làm khó, vì không thể thu gom được nếu người tiêu dùng không có nhu cầu thải bỏ tài sản”, ông Vệ nói.

Cũng theo ông Vệ, quy định về tái chế sản phẩm ô tô, xe máy trước đây cũng đã được Bộ TN-MT nêu ra nhưng không khả thi vì một số lý do về không có quy định về niên hạn phương tiện cũng như trách nhiệm của người sử dụng. Tại sao trong dự thảo lần này lại tiếp tục đưa ra?

“Vấn đề thu gom, tái chế sản phẩm đối với ô tô, xe máy cũng có thể gây bất công, vì hiện nay có thực tế là một số nhà nhập khẩu ô tô, xe máy chỉ hoạt động trong thời gian ngắn rồi dừng. Như vậy, trách nhiệm thu gom những phương tiện do các đơn vị này nhập về phân phối sẽ ra sao? Trong khi những nhà sản xuất, nhập khẩu hoạt động lâu dài thì buộc phải tuân thủ. Điều này gây ra sự bất công giữa các doanh nghiệp”, ông Vệ nói thêm.

Xe máy cũ nát tham giao thông gây ô nhiễm môi trường không khí cần được xử lý
VŨ PHƯỢNG

Một ý kiến khác cũng nêu, trong một sản phẩm ô tô, xe máy khi được sản xuất, đưa ra thị trường tiêu thụ có hàng trăm, hàng nghìn bộ phận lắp ráp với nhau, đến từ nhiều đơn vị khác nhau.

Trong khi đó, nền tái chế ở nước ta chưa có công nghệ, trình độ phát triển để xử lý được toàn bộ các bộ phận của ô tô, xe máy. Đơn cử như ắc quy, việc tái chế không hề dễ dàng, phải đưa ra nước ngoài mới đủ trình độ tái chế. Như vậy, nếu đưa ra lộ trình tái chế thì đúng là làm khó cho doanh nghiệp, Bộ TN-MT cần cân nhắc.

Vị đại diện này đồng ý trách nhiệm bảo vệ môi trường nhưng ô tô, xe máy có đặc thù là tài sản, cần cân nhắc khi quy định cứng về trách nhiệm thu gom, tái chế. Vấn đề tái chế có thể thực hiện được ở mức độ nào đó, nhưng thu gom thì không dễ do thiếu cơ chế pháp luật. Đây là mấu chốt, mong được Bộ TN-MT xem xét lại và cần phải xem xét lại quy định về niên hạn sử dụng ô tô, xe máy.

Bộ trưởng TN-MT nói gì?

Trả lời các doanh nghiệp, Bộ trưởng Bộ TN-MT Trần Hồng Hà cho biết, nhiều nước đã đẩy mạnh tái chế ô tô, xe máy và nước ta không thể nằm ngoài xu hướng. Vấn đề là tìm ra cách tốt nhất chứ không thể đứng ngoài xu hướng. Đây cũng là thể hiện trách nhiệm bảo vệ môi trường, vì cộng đồng của các doanh nghiệp.

Bộ trưởng Bộ TN-MT Trần Hồng Hà cho rằng, không thu gom, tái chế ô tô, xe máy cũ là đi ngược với xu
hướng thế giới, gây bất công đối với doanh nghiệp các lĩnh vực khác
Ảnh: LÊ QUÂN

Theo Bộ trưởng Hà, để tái chế thì trước hết phải thu gom được. Trong luật Bảo vệ Môi trường 2020 đã quy định lộ trình không cho hoạt động tiêu thụ nhiên liệu, dừng các loại phương tiện giao thông gây ô nhiễm môi trường.

Hiện nay, thực trạng phương tiện giao thông, trong đó có rất nhiều ô tô, xe máy cũ nát không đảm bảo tiêu chuẩn khí thải nhưng vẫn hoạt động nên phải thu hồi, dừng hoạt động để tái chế. Điều này góp phần giảm thiểu ô nhiễm môi trường không khí từ hoạt động giao thông.

“Đã đến lúc mỗi người một phải chung tay để hành động, trong đó, nhà sản xuất, nhà nhập khẩu ô tô, xe máy không thể đứng ngoài cuộc. Tất nhiên, doanh nghiệp cũng sẽ có thời điểm khó khăn hay thuận lợi, nhưng dù thế nào thì cũng đã đến lúc cần phải hành động thiết thực. Do vậy, cần phải thảo luận góp ý thêm về cơ chế, làm sao để thực hiện được về thu gom, tái chế ô tô, xe máy cũ, góp phần bảo vệ môi trường…”, Bộ trưởng Hà nói.

Cũng theo Bộ trưởng Bộ TN-MT, để tạo ra công bằng thì không thể để tình trạng các hiệp hội doanh nghiệp trong lĩnh vực sản xuất thép, giấy, nhựa… đẩy mạnh thực hiện thu gom, tái chế sản phẩm mà các nhà sản xuất, nhà nhập khẩu ô tô, xe máy lại đứng ngoài cuộc.

Theo lãnh đạo Bộ TN-MT, để thu gom, tái chế sản phẩm ô tô, xe máy thì các nhà sản xuất, nhập khẩu không phải không có cách nào, cũng không nhất thiết phải quy định pháp luật cứng rắn. Đơn cử có thể dùng cơ chế thị trường như khuyến khích đổi cũ lấy mới. Đồng thời, nhà nước đẩy mạnh hỗ trợ về cơ chế đăng ký đăng kiểm… kết hợp tuyên truyền để người dân nhận ra rằng như vậy là mang lại nhiều lợi ích thì sẽ thu gom được ô tô, xe máy cũ để tái chế.

Vấn đề trước hết là làm sao để mỗi người, mỗi doanh nghiệp phải thấy rõ được trách nhiệm bảo vệ môi trường, vì cộng đồng, phát triển bền vững. Cơ chế chính sách hay cách làm sẽ từ từ cùng nhau chung tay thực hiện.

Bộ trưởng Bộ TN-MT yêu cầu Tổ biên tập tiếp nhận những ý kiến đóng góp của các hiệp hội để tiếp tục bổ sung, chỉnh sửa dự thảo Nghị định hướng dẫn thi hành luật Bảo vệ Môi trường 2020 trước khi trình Chính phủ xem xét.

Nguồn: thanh niên

2021-10-20 / by / in
Vì sao doanh nghiệp Nhà nước đầu tư ra nước ngoài lỗ 1,17 tỷ USD?

Vì sao doanh nghiệp Nhà nước đầu tư ra nước ngoài lỗ 1,17 tỷ USD?

Tính đến cuối năm 2020, có 46 dự án đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp có vốn Nhà nước lỗ lũy kế. Tổng số lỗ lũy kế các năm lên tới 1,17 tỷ USD.

Doanh nghiệp Nhà nước nào dẫn đầu về đầu tư ra nước ngoài?

Mới đây, Chính phủ đã gửi Quốc hội về báo cáo hoạt động đầu tư, quản lý, sử dụng vốn Nhà nước tại doanh nghiệp trong phạm vi toàn quốc năm 2020. Theo đó, báo cáo cho biết, tính đến hết năm 2020, cả nước có tổng cộng 807 doanh nghiệp có vốn Nhà nước.

Trong năm 2020, tổng vốn Nhà nước đã đầu tư hơn 1,597 triệu tỷ đồng, tăng 2% so với năm 2019. Trong đó, 459 doanh nghiệp 100% vốn Nhà nước có tổng vốn đầu tư lên tới 1,4 triệu tỷ đồng. Hơn 151 nghìn tỷ đồng còn lại, Nhà nước đầu tư vào 187 doanh nghiệp có trên 50% vốn Nhà nước và 161 doanh nghiệp Nhà nước nắm giữ dưới 50% vốn.

Liên quan đến tình hình đầu tư ra nước ngoài của khối doanh nghiệp Nhà nước, tính đến cuối năm 2020, có 28 doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp có vốn Nhà nước (không bao gồm các ngân hàng thương mại có vốn Nhà nước) đã thực hiện tổng cộng 131 dự án đầu tư ra nước ngoài. Riêng trong năm 2020, có thêm một dự án đầu tư mới tại Lào của Tổng Công ty Hợp tác kinh tế.

Lũy kế tính đến ngày 31/12/2020, vốn đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp có vốn Nhà nước là 6,71 tỷ USD (bằng 50% vốn đăng ký). Riêng số vốn đầu tư ra nước ngoài trong năm 2020 của các doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp có vốn Nhà nước là khoảng 129,9 triệu USD.

Nguồn vốn này chủ yếu tại các công ty con của Tập đoàn Dầu khí quốc gia Việt Nam (PVN), Tập đoàn Công nghiệp cao su Việt Nam (VRG), Tập đoàn Bưu chính viễn thông Việt Nam (VNPT), Tập đoàn Công nghiệp viễn thông Quân đội (Viettel).

Tổng số vốn đã đầu tư ra nước ngoài của 3 doanh nghiệp PVN, VRG và Viettel chiếm 95% tổng số vốn đầu tư ra nước ngoài của khối doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp có vốn Nhà nước.

Trong đó, PVN có số vốn đầu tư ra nước ngoài lớn nhất, khoảng 3,97 tỷ USD, chiếm 59% tổng vốn đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp có vốn Nhà nước. Tiếp theo là các tập đoàn Viettel đầu tư ra nước ngoài khoảng 1,45 tỷ USD, VRG đứng thứ ba với 925,8 triệu USD.

Tổng số vốn đã đầu tư ra nước ngoài của 3 doanh nghiệp PVN, VRG và Viettel chiếm 95% tổng số vốn đầu tư ra nước ngoài của khối doanh nghiệp Nhà nước.

Báo cáo cho hay, các tập đoàn, tổng công ty Nhà nước đang đầu tư tại 26 quốc gia trên thế giới. Theo đó, các dự án chủ yếu tập trung ở lĩnh vực dầu khí, viễn thông, trồng chế biến cây cao su, khai thác khoáng sản… Cụ thể, lĩnh vực trồng, chế biến cao su đứng đầu với 33 dự án. Tiếp theo là lĩnh vực viễn thông với 32 dự án và lĩnh vực dầu khí với 31 dự án.

Xét theo vùng lãnh thổ, số dự án các doanh nghiệp Nhà nước đầu tư vào Campuchia lớn nhất,  với 41 dự án. Đứng thứ hai là Lào với 32 dự án. Theo sau là Malaysia, Singapore, Nga, Myanmar và Peru với số dự án khoảng từ 4-9 dự án.

Về thu hồi vốn đầu tư của doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp có vốn Nhà nước tại nước ngoài, báo cáo của Chính phủ cho biết, tổng số vốn các doanh nghiệp thu hồi trong năm 2020 là 248,58 triệu USD.

Nguồn tiền thu hồi này chủ yếu từ các dự án của Viettel (128,53 triệu USD, trong đó lợi nhuận 70,51 triệu USD); PVN thu hồi được 110,6 triệu USD, lợi nhuận thu về nước là 45,4 triệu USD; còn lại 5 doanh nghiệp khác chuyển về nước số tiền 2,52 triệu USD. Có 21 doanh nghiệp không phát sinh số thu hồi, chuyển về nước trong năm 2020.

Lỗ luỹ kế trong năm 2020 tăng 120 triệu USD so với 2019

Cũng trong năm 2020, có 121/131 dự án đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp có vốn Nhà nước có báo cáo kết quả hoạt động sản xuất kinh doanh. Trong đó, 32 dự án không phát sinh doanh thu, 89 dự án có doanh thu, với tổng doanh thu tại nước ngoài năm 2020 khoảng 5,54 tỷ USD, bằng 79% cùng kỳ năm 2019.

Cũng trong năm 2020, có 61 dự án đầu tư ra nước ngoài có lợi nhuận, tổng lợi nhuận sau thuế đạt khoảng 426,66 triệu USD, giảm 138,34 triệu USD so với năm 2019.

Bên cạnh đó, tính đến cuối năm 2020, có 46 dự án đầu tư ra nước ngoài của các doanh nghiệp Nhà nước, doanh nghiệp có vốn Nhà nước lỗ lũy kế, với tổng số lỗ lũy kế lên tới 1,17 tỷ USD, tăng 120 triệu USD so với năm 2019.

Theo đánh giá của Chính phủ, trong năm 2020, nhiều dự án đầu tư ra nước ngoài tiếp tục gặp khó khăn, tiềm ẩn rủi ro, chưa có hiệu quả đầu tư. Lý giải nguyên nhân, báo cáo của Chính phủ chỉ ra, ngoài các vấn đề về năng lực quản lý, quản trị rủi ro, năng lực dự báo thị trường, kinh nghiệm trong đầu tư ra nước ngoài, thì các chính sách đầu tư nước sở tại, đặc biệt là tác động của dịch bệnh Covid-19 cũng khiến cho tình hình hoạt động của các dự án bị ảnh hưởng tiêu cực hơn so với năm 2019.

Hiện tại, nhiều dự án tiếp tục gặp khó khăn, tiềm ẩn rủi ro, chưa có hiệu quả đầu tư như các dự án khai thác, thăm dò dầu khí, các dự án trồng và chế biến cây cao su.

Một số dự án viễn thông có số lỗ lũy kế lớn hoặc mất quyền kiểm soát và rủi ro tỷ giá. Ngoài ra, một số dự án không hiệu quả thuộc các lĩnh vực khác vẫn đang hoạt động hoặc dừng triển khai như: Dự án khai thác muối mỏ Kali tại Lào, Dự án khai thác khoáng sản Steung Treng – Campuchia…

Giang Anh

Theo Nhịp sống kinh tế

2021-10-20 / by / in