Thêm kết quả...

Doanh nghiệp Bắc Ninh đề xuất hỗ trợ sau dịch

Doanh nghiệp Bắc Ninh đề xuất hỗ trợ sau dịch

 

Giảm lãi suất, giãn nợ, hỗ trợ tiền thuê đất, tiền điện là các đề nghị của doanh nghiệp nhỏ và vừa Bắc Ninh, sáng 13/10.

Cuộc gặp sáng 13/10 là lần thứ hai Bắc Ninh đối thoại tháo gỡ khó khăn cho doanh nghiệp sau dịch Covid-19.

Ông Lương Ngọc Toản, Phó chủ tịch Hội doanh nghiệp nhỏ và vừa Bắc Ninh chia sẻ các doanh nghiệp muốn ngân hàng thống nhất một mức giảm lãi suất chung từ 1-1,5% và hỗ trợ giãn nợ áp dụng đồng đều cho tất cả khách hàng đủ điều kiện vay và cùng vay vốn từ một đơn vị cung cấp tín dụng.

Ông Lương Ngọc Toản nói trong cuộc đối thoại. Ảnh: Gia Chính

Ngoài ra, với các khoản vay trung và dài hạn ông đề nghị cho giãn thời gian trả nợ đến hết năm 2021. “Các khoản vay ngắn hạn của doanh nghiệp, đề nghị cho doanh nghiệp giãn một vòng quay vốn. Đồng thời khoanh số nợ cũ, tạo điều kiện cho doanh nghiệp vay khoản mới để đầu tư sản xuất, kinh doanh và nới lỏng các diều kiện cho vay và lãi suất ưu đãi hơn.

Trả lời đề xuất trên, ông Nguyễn Như Đôn, Giám đốc Ngân hàng Nhà nước Bắc Ninh cho rằng như vậy chính các doanh nghiệp sẽ thiệt thòi. Khi áp dụng một mức lãi suất chung, các ngân hàng sẽ chọn ở mức sàn thấp nhất như giảm 0,5-1% chứ không phải tới 2% như hiện tại.

Về việc cơ cấu lại nợ, giãn nợ, đại diện Ngân hàng nhà nước tỉnh Bắc Ninh bày tỏ lo lắng nếu như thực hiện thì khi hết kỳ các doanh nghiệp sẽ trả như thế nào khi rơi vào cảnh nợ chồng nợ vì đây “bản chất là nợ xấu”.

Ông Nguyễn Như Đôn trả lời doanh nghiệp. Ảnh: Gia Chính

Về giảm lãi suất, ông Nguyễn Như Đôn cho biết thuộc thẩm quyền của Chính phủ, Ngân hàng nhà nước không thể can thiệp mà chỉ đóng vai trò kêu gọi. “Thực tế doanh nghiệp và ngân hàng phải cùng nhau phát triển vì nếu doanh nghiệp chết thì ngân hàng cũng không sống được”, ông Đôn nói và rằng doanh nghiệp và các ngân hàng nên cùng sát cánh để vượt qua đại dịch.

Tranh luận thêm về chủ đề vốn, ông Nguyễn Nhân Phương, Chủ tịch Hiệp hội doanh nghiệp vừa và nhỏ Bắc Ninh cho rằng trên thực tế nhiều ngân hàng thương mại giãm lãi suất rất ít, chỉ 0,5%, dẫn tới nhiều doanh nghiệp không trả được nợ. “Việc giãn nợ giúp doanh nghiệp có thêm đồng vốn để bảo đảm kinh doanh, thậm trí chậm trả nợ để duy trì sản xuất”, ông Phương nói.

Ông Nguyễn Đình Tân (Hiệp hội doanh nghiệp nhỏ và vừa TP Bắc Ninh) đề nghị UBND tỉnh cho phép giảm 30% tiền sử dụng đất phải nộp năm 2021 đối với các doanh nghiệp sản xuất, giảm 50% tiền sử dụng đất đối với các doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực thương mại, dịch vụ, nhất là các dịch vụ nhà hàng, khách sạn, lưu trú.

Ông Ngô Xuân Tòng, Cục trưởng Thuế Bắc Ninh cho biết các chính sách miễn giảm thuế hỗ trợ doanh nghiệp bị ảnh hưởng bởi dịch Covid-19 của năm 2021 đã được mở rộng hơn năm 2020 về đối tượng cũng như mức giảm, các doanh nghiệp có thể làm thủ tục để nhận được hỗ trợ.

Ông Ngô Xuân Tòng trả lời doanh nghiệp. Ảnh: Gia Chính

Về đề nghị nâng mức giảm của nhóm ngành nghề thương mại, dịch vụ, ông Tòng nói thuộc thẩm quyền Chỉnh phủ. “Nếu UBND tỉnh nhận thấy hợp lý thì có thể đề xuất lên Chỉnh phủ đề thay đổi”, ông Tòng nói thêm.

Ông Kiều Đình Hương, Hiệp hội doanh nghiệp huyện Quế Võ đề nghị tiếp tục giảm giá điện và điều chỉnh giờ cao điểm từ 10h đến 12. Vì thời gian từ 7-10h là thời điểm các doanh nghiệp đang sản xuất ổn định và có năng suất cao nhất ngành điện lại tăng giá điện, làm tăng chi phí, tăng giá thành sản xuất của doanh nghiệp.

Trả lời kiến nghị trên, đại diện EVN Bắc Ninh cho biết tăng giá điện vào khoảng thời gian trên thực tế không phải với mục đích thu thêm tiền điện mà để giảm tải áp lực cho hệ thống. “Khung giờ này nhiều hoạt động cùng lúc dẫn tới hệ thống điện có thể bị quá tải, chúng tôi đưa ra quy định như vậy mục đích là để các doanh nghiệp chuyển sang các khung giờ khác sản xuất”, vị này nói.

Ông Ngô Tân Phượng, Phó chủ tịch tỉnh Bắc Ninh cho rằng, trong bối cảnh khó khăn sau dịch, doanh nghiệp và ngân hàng nên cùng nhau ngồi lại để tìm tiếng nói chung, duy trì sản xuất. “Các ý kiến trong thẩm quyền tỉnh thì tỉnh sẽ giải quyết ngay, những ý kiến cần cấp cao hơn thì tỉnh sẽ xem xét để đề trình”, ông Phượng kết luận.

Gia Chính

Nguồn: vnexpress

2021-10-14 / by / in
Nhiều doanh nghiệp lớn ngành điện tử mở rộng đầu tư ở Việt Nam

Nhiều doanh nghiệp lớn ngành điện tử mở
rộng đầu tư ở Việt Nam

Samsung Việt Nam đã tổ chức kỳ thi tuyển dụng nhân sự lớn nhất trong năm tại Hà Nội.
Ảnh Hữu Đức-Hữu Chánh.

Thị trường chứng kiến nhiều doanh nghiệp lớn trong ngành điện tử vẫn tiếp tục đầu tư hoặc mở rộng sản xuất tại Việt Nam thông qua các dự án lớn, trong đó có các dự án xây các trung tâm nghiên cứu.

Navigos Group – tập đoàn cung cấp dịch vụ tuyển dụng nhân sự tại Việt Nam cho biết, nhiều doanh nghiệp ngành hàng tiêu dùng nhanh và bán lẻ sẽ hoãn tuyển dụng và ngừng tuyển trong quý 4.2021.

Nguyên nhân chủ yếu do doanh nghiệp tập trung phòng chống dịch bệnh nên hoạt động sản xuất, kinh doanh bị gián đoạn hoặc chủ duy trì ở mức thấp. Các ứng viên trong mảng này do ảnh hưởng bởi COVID-19 nên không cởi mở với các cơ hội mới nhằm đảm bảo sự an toàn trong công việc.

Chính vì vậy, thị trường cũng vẫn khan hiếm ứng viên tiềm năng cho các vị trí đang cần tuyển. Trong quý 4, các doanh nghiệp trong ngành bán lẻ đang dần mở cửa trở lại, dự báo nhu cầu tuyển dụng có chiều hướng tăng nhẹ vào đầu năm 2022.

Navigos Group cho biết thêm, tại miền Bắc, do ảnh hưởng của COVID-19 ít hơn so với miền Nam nên đa số các doanh nghiệp dệt may vẫn đang duy trì sản xuất tốt ở thời điểm hiện tại.

Rất nhiều doanh nghiệp có thêm các đơn hàng từ các vùng khác tại châu Á chuyển về Việt Nam do các vùng này chưa kiểm soát tốt dịch bệnh.

Chính vì vậy, các doanh nghiệp dệt may lớn và có uy tín đang rất ổn về đơn hàng hiện nay. Có những công ty đã nhận đơn hàng tới tận tháng 4.2022 và vẫn đang cần tuyển thêm lao động.

Các ngân hàng đang chạy đua chuyển đổi số nên nhu cầu tuyển dụng nhân sự chất lượng cao vẫn tăng. Theo Navigos Group, đẩy mạnh chuyển đổi số và phát triển công nghệ là xu hướng chung được quan sát ở lĩnh vực tài chính – ngân hàng trong thời gian qua.

Không chỉ các ngân hàng có quy mô lớn, các ngân hàng nhỏ hơn và một số công ty chứng khoán cũng đã lên kế hoạch và đầu tư cho việc chuyển đổi, thành lập các ban dự án, khối chuyển đổi.

Theo đó, nhu cầu nhân sự các cấp cho các vị trí công nghệ thông tin, chuyển đổi số vẫn tiếp tục tăng cao, đặc biệt là các vị trí phát triển ứng dụng, phát triển công nghệ, quản trị chuyển đổi, quản trị và phân tích dữ liệu, marketing và kinh doanh trên nền tảng số.

Navigos Group khẳng định, nhiều doanh nghiệp lớn trong ngành điện tử vẫn tiếp tục đầu tư hoặc mở rộng sản xuất tại Việt Nam.

Thị trường chứng kiến nhiều doanh nghiệp lớn trong ngành điện tử vẫn tiếp tục đầu tư hoặc mở rộng sản xuất tại Việt Nam thông qua các dự án lớn, trong đó có các dự án xây các trung tâm nghiên cứu (Research & Development – R&D) lớn.

Bắc Ninh, Hải Phòng, Bắc Giang, Thanh Hóa và Đà Nẵng tiếp tục trở thành các địa phương nhận được các đầu tư rất lớn từ các dự án FDI này.

Theo Navigos Group, một số các doanh nghiệp tại phía Bắc trong mảng này do có các phương án phòng chống COVID-19 hiệu quả nên vẫn duy trì được hoạt động sản xuất tốt, thậm chí có sự tăng trưởng nhẹ do nhận được nhiều đơn hàng sản xuất được chuyển về từ các chi nhánh khác đang bị ảnh hưởng bởi COVID-19.

ANH THƯ

Nguồn: laodong.vn

2021-10-14 / by / in
Trung Quốc khủng hoảng thiếu điện, nhiều doanh nghiệp sắt thép, xi măng Việt Nam hưởng lợi

Trung Quốc khủng hoảng thiếu điện, nhiều doanh nghiệp
sắt thép, xi măng Việt Nam hưởng lợi

 

Việc thiếu hụt nguồn cung thép – xi măng tạm thời từ Trung Quốc sẽ mở ra cơ hội xuất khẩu cho các doanh nghiệp Việt Nam, tối thiểu đến hết quý 4/2021…

Ảnh minh hoạ.

Trung Quốc đang đối mặt với tình trạng thiếu điện nghiêm trọng dẫn đến việc thu hẹp sản xuất một số ngành như thép, xi măng. Trong báo cáo cập nhật mới đây, VnDirect cho rằng, việc thiếu hụt nguồn cung thép, xi măng tạm thời từ Trung Quốc sẽ mở ra cơ hội xuất khẩu cho các doanh nghiệp Việt Nam, tối thiểu đến hết quý 4/2021.

TRUNG QUỐC THIẾU ĐIỆN ĐẾN HẾT QUÝ 4/2021

Sản xuất công nghiệp Trung Quốc phục hồi quá nhanh sau đại dịch đã gây áp lực lên hệ thống điện quốc gia. Theo Tân Hoa Xã, tiêu thụ điện của Trung Quốc đã tăng 13,5% so với cùng kỳ trong 8 tháng đầu năm 2021, tuy nhiên sản lượng điện lại chỉ tăng 10,1% so với cùng kỳ.

Tình trạng mất cân bằng cung – cầu này chủ yếu do các nhà máy nhiệt điện cắt giảm sản lượng để tránh thua lỗ trong bối cảnh giá nhiên liệu đầu vào tăng cao và thời tiết bất lợi khiến sản lượng điện tái tạo không đạt kỳ vọng.

Tình trạng thiếu điện trở nên trầm trọng hơn trong tháng 9/2021 khi có 17/31 tỉnh/khu vực tại Trung Quốc thông báo về tình trạng cắt điện.

Khủng hoảng thiếu điện ở Trung Quốc đã ảnh hưởng rất lớn đến nhóm các ngành thâm dụng điện, bao gồm thép và xi măng. Nhiều nhà sản xuất đã nhận được yêu cầu cắt giảm công suất để tiết kiệm năng lượng, nhất là trong bối cảnh lo ngại không đủ điện để giữ ấm khi mùa đông đang đến gần. Đáng chú ý, phần lớn sản lượng thép và xi măng của Trung Quốc tập trung ở các khu vực thiếu điện sản xuất như Hà Bắc, Sơn Đông, Liêu Ninh…đây đều là những nơi bị cắt điện.

Sản lượng sản xuất thép – xi măng của Trung Quốc trong tháng 8/2021 đã giảm lần lượt 12,2%-4,3% so với cùng kỳ, và thấp hơn 14,2%-8,7% so với trung bình quý 2/2021. Nguồn cung giảm quá nhanh đã khiến ngành thép – xi măng Trung Quốc rơi vào tình trạng mất cân đối cung – cầu tạm thời. Xu hướng này dự báo sẽ tiếp diễn tối thiểu đến hết quý 4/2021 khi sản lượng điện tại Trung Quốc chưa có dấu hiệu sẽ tăng mạnh trong thời gian tới.

Mức tồn kho thép và xi măng tại Trung Quốc đều đang ở mức thấp nhất kể từ đầu năm và giá bán các mặt hàng này có dấu hiệu tăng đáng kể từ tháng 8/2021. Do đó, Trung Quốc đang gặp tình trạng thiếu hụt nguồn cung vật liệu xây dựng tạm thời và xu hướng này sẽ tối thiểu tiếp tục trong quý 4/2021 khi sản lượng điện dùng cho sản xuất tại quốc gia này chưa có dấu hiệu hồi phục.

DOANH NGHIỆP NÀO HƯỞNG LỢI?

Chứng khoán VnDirect cho rằng, các nhà xuất khẩu vật liệu xây dựng Việt Nam đang được hưởng lợi khi quốc gia láng giềng thiếu hụt nguồn cung tạm thời. Trong đó, HPG và BCC sẽ là hai doanh nghiệp được hưởng lợi lớn chính nhờ tỷ trọng xuất khẩu thép xây dựng và xi măng sang thị trường này. Còn các doanh nghiệp tôn mạ sẽ được hưởng lợi gián tiếp khi áp lực cạnh tranh từ tôn mạ Trung Quốc tại các thị trường xuất khẩu khác giảm.

Sản lượng thép – xi măng Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc ghi nhận mức tăng trưởng mạnh trong tháng 8-9 so với giai đoạn tháng 5-7 trước đó, cùng lúc thời điểm các nhà máy sản xuất vật liệu xây dựng tại Trung Quốc bị yêu cầu cắt giảm công suất do thiếu điện.

Tuy nhiên, nhà đầu tư cũng nên lưu ý rằng trạng thái cân bằng cung – cầu các sản phẩm thép – xi măng có thể sẽ sớm được thiết lập trong năm 2022 khi giới chức Trung Quốc đang đề xuất nhiều giải pháp để giải quyết vấn đề thiếu hụt điện hiện nay như tăng sản lượng khai thác than nội địa; tăng giá thu mua điện, hỗ trợ các nhà máy nhiệt điện hoạt động trở lại,… Do đó, tiềm năng xuất khẩu vật liệu xây dựng mạnh mẽ của các doanh nghiệp Việt Nam sẽ là ngắn hạn.

Tại Việt Nam, rủi ro về khả năng thiếu hụt điện sản xuất do giá than tăng cao ở mức thấp nhờ thủy điện chiếm tỷ trọng lớn nhất trong tổng công suất phát điện của Việt Nam năm 2020, khoảng 30% và (2) hiện tượng La Nina (mưa nhiều) được kỳ vọng sẽ tiếp tục cho đến hết quý 1/2022, đảm bảo lượng nước cho các nhà máy thủy điện.

Nguồn: vneconomy

2021-10-14 / by / in
Doanh nghiệp có nợ xấu vẫn được vay gói trả lương lãi suất 0%

Doanh nghiệp có nợ xấu vẫn được vay gói trả lương lãi suất 0%

Gói 7.500 tỷ lãi suất 0% cho vay trả lương nhân viên ngừng việc, phục hồi sản xuất vừa bỏ điều kiện “doanh nghiệp không có nợ xấu”.

Phó thủ tướng Lê Minh Khái vừa ban hành Nghị quyết 126 sửa đổi Nghị quyết 68 về hỗ trợ người lao động và người sử dụng lao động khó khăn do Covid-19. Một trong những nội dung được sửa đổi liên quan tới chính sách cho vay trả lương ngừng việc, phục hồi sản xuất. Đây là gói quy mô 7.500 tỷ Ngân hàng Nhà nước sẵn sàng tái cấp vốn cho Ngân hàng Chính sách xã hội để cho vay lãi suất 0%.

Theo Nghị quyết sửa đổi, Chính phủ bỏ điều kiện “doanh nghiệp không được có nợ xấu” mới được phép vay gói lãi suất 0%. Các điều kiện khác vẫn giữ nguyên.

Điều kiện về nợ xấu là một trong hai nút thắt lớn khiến doanh nghiệp khó tiếp cận gói này, bên cạnh yêu cầu về quyết toán thuế. Với chu kỳ quyết toán thuế 3-5 năm, nhiều doanh nghiệp chưa kịp quyết toán thuế năm 2020 không đủ điều kiện để làm thủ tục vay vốn.

Tính đến cuối tháng 9, gói này mới giải ngân được khoảng 6% cho chưa đến 1.000 khách vay vốn để trả lương hơn 130.700 lượt người lao động. Với việc gỡ vướng về điều kiện nợ xấu, lãnh đạo Ngân hàng Nhà nước cũng kỳ vọng gói này sẽ giải ngân nhanh khi doanh nghiệp quay trở lại guồng sản xuất.

Hai diện doanh nghiệp có thể tiếp cận với gói vay này. Doanh nghiệp cho người lao động đang tham gia bảo hiểm bắt buộc phải ngừng việc từ 15 ngày liên tục trở lên từ 1/5 năm nay đến hết 31/3 năm sau. Hoặc, doanh nghiệp phải tạm dừng hoạt động do yêu cầu của cơ quan nhà nước để phòng chống dịch… từ 1/5 năm nay đến hết tháng 3 năm sau.

Mức cho vay tối đa bằng lương tối thiểu vùng đối với số người lao động làm việc theo hợp đồng lao động và đang tham gia bảo hiểm xã hội bắt buộc theo thời gian trả lương thực tế tối đa ba tháng. Thời hạn vay vốn dưới 12 tháng.

Nguồn: vnexpress

2021-10-14 / by / in
Đồng Nai: Hơn 80% doanh nghiệp trong khu công nghiệp hoạt động lại

Đồng Nai: Hơn 80% doanh nghiệp trong
khu công nghiệp hoạt động lại

 

TTO – Ngày 14-10, Ban quản lý các khu công nghiệp Đồng Nai (DIZA) cho hay có hơn 80% doanh nghiệp tại 31 khu công nghiệp trên địa bàn đã hoạt động trở lại sau nhiều tháng tạm dừng sản xuất do dịch COVID-19.

Công ty TNHH Pousung VN (KCN Bàu Xéo, huyện Trảng Bom, Đồng Nai) tổ chức xét nghiệm
cho lao động trong ngày đầu quay lại sản xuất – Ảnh: A LỘC

Cụ thể, từ cuối tháng 9 đến nay, hàng loạt doanh nghiệp trên địa bàn bắt đầu hoạt động trở lại. Đến nay, toàn tỉnh có gần 1.400 doanh nghiệp trong tổng số hơn 1.700 doanh nghiệp trong các khu công nghiệp đã sản xuất kinh doanh (chiếm tỉ lệ hơn 80%) và trên 334.000 lao động trong tổng số trên 615.000 lao động trở lại làm việc (chiếm tỉ lệ 54,3%).

Trong số đó, nhiều doanh nghiệp có số lượng lao động lớn như Tập đoàn Phong Thái, các công ty Changshin VN, Dona Standard, Taekwang vina, Pousung VN, Pouchen VN… đã quay trở lại sản xuất sau gần 3 tháng tạm dừng hoạt động.

Tuy nhiên, số lượng lao động được chấp thuận trở lại sản xuất bằng hình thức đi và về hằng ngày chưa đáng kể, dẫn tới việc doanh nghiệp vẫn thiếu hụt lao động. Do đó, các doanh nghiệp này đang tiếp tục lên phương án tuyển dụng thêm lao động trong thời gian tới.

Cũng theo DIZA, thời gian qua Đồng Nai ưu tiên tiêm vắc xin COVID-19 cho công nhân, đồng thời ban hành nhiều văn bản hỗ trợ, tháo gỡ khó khăn cho các doanh nghiệp để sớm phục hồi sản xuất.

Bên cạnh đó, UBND tỉnh Đồng Nai đã ban hành kế hoạch từng bước phục hồi kinh tế – xã hội, cho phép doanh nghiệp chủ động chọn phương án sản xuất, công nhân được đi làm hằng ngày bằng phương tiện cá nhân… Những động thái này đã giúp doanh nghiệp tự tin hơn và sớm lên phương án quay lại sản xuất.

Theo một lãnh đạo DIZA nhận định, hầu hết doanh nghiệp trong các khu công nghiệp trên địa bàn có tiềm lực tài chính vững vàng, lượng lớn công nhân gắn bó với công ty nên quá trình phục hồi sản xuất kinh doanh sẽ diễn ra nhanh và thuận lợi hơn.

Nguồn: tuoitre

2021-10-14 / by / in
Top 4 lý do doanh nghiệp bạn cần 1 website

Top 4 lý do doanh nghiệp bạn cần 1 website

 

Trong thời đại kỹ thuật số này, nhiều chủ doanh nghiệp liên tục hỏi, “Tôi có thực sự cần một trang web không?” Và câu trả lời là có!” Nhiều chủ doanh nghiệp cảm thấy rằng một trang web là không cần thiết vì một số lý do, tuy nhiên, có sự hiện diện trực tuyến là điều quan trọng và cần thiết cho doanh nghiệp của bạn. Theo CMO , trong quý đầu tiên của năm 2014, doanh thu bán lẻ trực tuyến có tốc độ tăng trưởng 11% so với cùng kỳ năm ngoái. Nó cũng đề cập rằng 72% người mua sắm tiềm năng thích duyệt trực tuyến trước khi thực sự bước vào cửa hàng. Các nghiên cứu từ Hiệp hội Doanh nghiệp Nhỏ cũng chỉ ra rằng các doanh nghiệp nhỏ có trang web tạo ra doanh thu nhiều hơn 39% so với các doanh nghiệp khác không có trang web.

  1. Sự uy tín

Giả sử bạn đang tìm kiếm một kế toán cụ thể có thể giúp bạn về các khoản thuế của bạn. Bạn đã thử tìm kiếm trực tuyến nhưng chỉ có thể tìm thấy thông tin tối thiểu về họ và họ hiện không có trang web. Bạn có tin tưởng doanh nghiệp đó không? Hầu như không. Bạn sẽ không cảm thấy thoải mái hơn khi tin tưởng ai đó sau khi bạn có thể có thêm một số thông tin cơ bản về doanh nghiệp và thông tin đăng nhập của họ? Trang web cho phép bạn chia sẻ thông tin về công ty của mình với các khách hàng tiềm năng và giúp tạo dựng uy tín cho doanh nghiệp của bạn.

2.Mở cửa 24/7 – Làm cho doanh nghiệp của bạn trở nên địa phương và toàn cầu

Các trang web không ngủ, nhưng bạn có! Hãy tưởng tượng có một cửa hàng mở cửa 24/7 mà bạn không cần phải thức. Nhiều khách hàng tiềm năng đang mua sắm hoặc nghiên cứu một số mặt hàng trong giờ làm việc. Nếu bạn không có một trang web cho những khách hàng đó, bạn đang mất đi một lượng lớn doanh số bán hàng tiềm năng. Điều quan trọng là luôn sẵn sàng phục vụ khách hàng của bạn bất cứ khi nào bạn có thể. Bạn không chỉ có thể tạo thêm doanh thu, mà khách hàng của bạn cũng sẽ rất vui! Khi bạn có một trang web, bạn có sẵn cho khách hàng không chỉ ở địa phương đối với bạn mà còn trên toàn cầu. Hầu hết các doanh nghiệp nhỏ, như bạn, những người không sở hữu trang web, chỉ có thể truy cập vào cộng đồng hoặc khu vực địa phương của họ. Do đó, điều đó đơn giản có nghĩa là bạn đang bỏ lỡ những cơ hội có thể mang lại lợi ích hoặc phát triển doanh nghiệp của mình. Với một trang web được phát triển tốt, bạn cho phép liên lạc giữa tất cả các khách hàng của mình về bất kỳ câu hỏi, đề xuất hoặc lời khuyên nào. Điều này cũng cho phép hàng hóa và dịch vụ của bạn được đưa ra quốc tế.

3.Đối thủ cạnh tranh

Có nhiều khả năng đối thủ cạnh tranh của bạn đã có một trang web, điều này khiến bạn chậm hơn một bước so với phần còn lại. Một khi khách hàng tiềm năng của bạn nhận ra rằng đối thủ cạnh tranh của bạn có trang web còn bạn thì không, hình ảnh của bạn có thể thiếu trong mắt họ. Đối thủ cạnh tranh của bạn khi đó sẽ có lợi thế hơn bạn. Bạn cũng muốn san bằng sân chơi bằng cách làm điều tương tự để không bị tụt lại phía sau.

4.Dịch vụ khách hàng tốt hơn

Có một trang web cho phép cung cấp thông tin tức thì và đôi khi thậm chí có thể chia sẻ thông tin có thể được tải xuống bởi người tiêu dùng của bạn. Như đã nói, bạn có thể thêm nhiều chức năng và trang có thể giúp khách hàng của bạn với bất kỳ câu hỏi nào mà họ có thể có. Ví dụ: chỉ cần có một biểu mẫu liên hệ (yêu cầu), khách hàng của bạn có thể liên hệ với bạn bất kỳ lúc nào nếu họ có thắc mắc mà không cần phải chờ đợi hoặc gọi điện để giải đáp thắc mắc của họ. Một ví dụ khác là trang “Câu hỏi thường gặp” nơi các câu hỏi phổ biến của khách hàng đã được giải quyết. Chỉ cần có hai tính năng cơ bản này, bạn có thể tạo trải nghiệm tích cực cho người xem và họ có nhiều khả năng sẽ cân nhắc bạn vì mối quan hệ kinh doanh đang diễn ra.

2021-10-14 / by / in
Sáng, tối lợi nhuận doanh nghiệp dầu khí

Sáng, tối lợi nhuận doanh nghiệp dầu khí

 

 (ĐTCK) Giá dầu Brent 9 tháng đầu năm nay đạt trung bình 67,56 USD/thùng, dầu WTI đạt 64,66 USD/thùng, tăng 65,52% và 68,74% so với cùng kỳ, giúp các doanh nghiệp ngành dầu khí dễ thở hơn, nhưng không phải tất cả đều hưởng lợi.

Những doanh nghiệp đi lùi

8 tháng đầu năm, công ty mẹ PV Drilling (mã PVD) lỗ 116 tỷ đồng, kết quả tệ hơn nhiều so với kế hoạch (lỗ 28 tỷ đồng) và cùng kỳ năm trước (lỗ 65 tỷ đồng). Dự kiến tháng 9, công ty này chưa thể thoát lỗ.

Nguyên nhân là đơn giá cho thuê giàn khoan tự nâng thực tế thấp hơn kế hoạch (đơn giá bình quân 8 tháng khoảng 52.000 USD/ngày so với kế hoạch 65.000 USD/ngày) và giảm doanh thu từ các dịch vụ kỹ thuật giếng khoan do nhu cầu khách hàng giảm, chi phí logistics, hỗ trợ sản xuất tăng mạnh do ảnh hưởng từ đại dịch Covid-19.

Tổng công ty cổ phần Dịch vụ kỹ thuật Dầu khí Việt Nam (mã PVS) ước doanh thu hợp nhất đến hết tháng 9 đạt 8.960 tỷ đồng, đạt 128% kế hoạch 9 tháng đầu năm, bằng 90% kế hoạch năm, giảm 41% so với thực hiện cùng kỳ năm trước; lợi nhuận hợp nhất trước thuế đạt 616 tỷ đồng, đạt 226% kế hoạch 9 tháng đầu năm, bằng 88% kế hoạch năm, giảm 31% so với thực hiện cùng kỳ năm trước.

Khó khăn còn đến với cả đơn vị không trực tiếp sản xuất như PVChem (mã PVC). Doanh thu hợp nhất tháng 9 của doanh nghiệp này ước đạt 252 tỷ đồng, đạt 172% kế hoạch tháng, nhưng lợi nhuận trước thuế ước đạt 1,3 tỷ đồng, đạt 51% kế hoạch tháng.

Chỉ tiêu doanh thu hoàn thành kế hoạch đặt ra, song chỉ tiêu lợi nhuận không đảm bảo kế hoạch tháng do hệ thống logistics toàn cầu tiếp tục trong giai đoạn khó khăn, giá cước vận tải tăng cao dẫn đến các hóa chất đầu vào của PVChem tăng, trong khi giá dịch vụ cung cấp chưa thể tăng tương ứng.

Với lĩnh vực dịch vụ khoan, khách hàng của PV Chem tiếp tục cắt giảm chi phí, một số đơn vị có năng lực, kinh nghiệm và kỹ thuật đã tự cấp dịch vụ dung dịch khoan cho một số giếng khai thác của mình.

Đồng thời, hiện nay, các nhà cung cấp nước ngoài thông báo điều chỉnh tăng giá hóa phẩm đầu vào, điều này làm giảm lợi nhuận từ các hợp đồng vốn có tỷ suất lợi nhuận không cao do đấu thầu cạnh tranh về giá với các đối thủ.

Còn PVOil (mã OIL) cho biết, ảnh hưởng của dịch bệnh Covid-19 và giãn cách xã hội kéo dài khiến nhu cầu tiêu thụ xăng dầu giảm mạnh trong quý III, kết hợp với xu hướng giá dầu giảm trong tháng 7 (chỉ hồi phục vào tháng 9) đã làm tình hình kinh doanh xăng dầu gặp nhiều khó khăn khi các đầu mối đua tăng chiết khấu để bán hàng.

Sản lượng kinh doanh toàn hệ thống trung bình quý III giảm 23% so với trung bình quý II và giảm 20% so với trung bình 6 tháng đầu năm. Công ty mẹ PVOil bị lỗ trong tháng 8.

Tương tự, đợt bùng phát dịch lần thứ tư, đặc biệt tại khu vực phía Nam, đã làm phụ tải điện thấp hơn 24% so với trước thời gian thực hiện giãn cách xã hội và thấp hơn 15% so với cùng kỳ năm ngoái, ảnh hưởng đến khả năng vận hành các nhà máy nhiệt điện của Tổng công ty Điện lực Dầu khí (PV Power, mã POW). Tháng 9, PV Power đạt 1.020 tỷ đồng doanh thu, nhưng lại lỗ 173 tỷ đồng.

Nhờ các quý trước kéo lại, 9 tháng, Tổng công ty ước đạt doanh thu 21.320 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế 1.691 tỷ đồng, tăng 1% về doanh thu và tăng 65% về lợi nhuận so với kế hoạch được Tập đoàn giao.

Khó khăn chưa hết với Tổng công ty Xây lắp Dầu khí. 9 tháng đầu năm, doanh nghiệp đạt 1.325 tỷ đồng doanh thu, bằng 96% kế hoạch được giao nhưng vẫn lỗ 58,7 tỷ đồng. Nhiều dự án gặp khó khăn, chẳng hạn Dự án Nhà máy Nhiệt điện Thái Bình 2, công tác hoàn thiện hồ sơ chất lượng/khối lượng cho thời gian trước đây để phục vụ thu hồi vốn chậm.

Chế biến sâu và dịch vụ ngoài ngành lãi lớn

Tuy vậy, một số doanh nghiệp chế biến sâu như sản xuất đạm lại thắng lớn. Số liệu từ Công ty cổ phần Phân bón Dầu khí Cà Mau (mã DCM) cho thấy, doanh thu 9 tháng đầu năm 2021 đạt 6.320 tỷ đồng, tăng 18% so với cùng kỳ năm ngoái, hoàn thành 82% kế hoạch năm; lợi nhuận trước thuế đạt 770,63 tỷ đồng, tăng 57% so với cùng kỳ năm ngoái và bằng 3,7 lần kế hoạch năm; tỷ suất lợi nhuận trên vốn điều lệ đạt 14,6%, cao hơn 9,3% cùng kỳ năm ngoái.

9 tháng đầu năm, DCM đạt lợi nhuận trước thuế 770,63 tỷ đồng, tăng 57% so với cùng kỳ và bằng 3,7 lần kế hoạch năm.

Trong 9 tháng đầu năm, sản lượng tiêu thụ urê của DCM ước đạt 569.070 tấn, đạt 72% kế hoạch năm 2021 và bằng 79% cùng kỳ năm 2020.

Tình hình tiêu thụ thấp hơn so với cùng kỳ là do hầu hết các địa phương trên cả nước thực hiện giãn cách xã hội để phòng chống dịch theo Chỉ thị 16 của Thủ tướng Chính phủ nên công tác bán hàng gặp nhiều khó khăn. Tuy nhiên, doanh nghiệp đạt doanh thu và lợi nhuận cao hơn so với kế hoạch và cùng kỳ chủ yếu do giá bán tăng 24% so với kế hoạch và tăng 36% so với cùng kỳ.

Tổng công ty Phân bón và hóa chất Dầu khí (mã DPM) ước đạt doanh thu hợp nhất 2.759 tỷ đồng, lợi nhuận trước thuế hợp nhất 489,1 tỷ đồng trong quý III/2021.

Ở Petrosetco (mã PET), nhờ tăng trưởng mạnh từ mảng phân phối sản phẩm điện thoại, laptop, đặc biệt là mảng kinh doanh phân phối các sản phẩm của Apple, kết quả kinh doanh tăng trưởng mạnh.

Cụ thể, doanh thu 9 tháng ước đạt 11.058 tỷ đồng, đạt 74% kế hoạch 2021, tăng 13% so với cùng kỳ; lợi nhuận trước thuế 9 tháng đạt 237,7 tỷ đồng, bằng 95% kế hoạch năm và tăng 58% so với cùng kỳ.

Trong đó, mảng bán lẻ đem lại cho PET 9.666 tỷ đồng doanh thu là 148,3 tỷ đồng lợi nhuận trước thuế, cao hơn 19% kế hoạch cả năm.

Doanh số của các sản phẩm Apple vẫn tăng trưởng khá tốt. PET đã liên tục mở rộng và tăng độ phủ thị trường phân phối của mình trước tình trạng các mặt hàng Apple đang khan hiếm nhờ vào sự ưu tiên hàng hóa từ hãng.

Tình trạng hàng hóa khan hiếm nên công tác thu hồi công nợ với các đại lý được triển khai tốt hơn. Nhu cầu thị trường cao, hàng hóa nhập về xuất bán ngay nên vòng quay tài chính khá tốt.

Mảng kinh doanh hạt nhựa PP và khí hóa lỏng cũng tích cực. 9 tháng đầu năm, PET đã phân phối khoảng 11.700 tấn và 27.000 tấn PP, doanh thu ước đạt 1.214 tỷ đồng, bằng 143% kế hoạch và tăng 21% so với cùng kỳ.

PET tiếp tục tập trung tham gia đấu thầu cho khách hàng truyền thống như VSP, Cửu Long JOC để phục vụ cho các chiến dịch khoan và mua sắm hàng hóa cuối năm. Các dự án mà Công ty đã và đang tập trung theo dõi và tham gia đấu thầu phục vụ các mỏ Đại Hùng, Nhà máy lọc dầu Nghi Sơn, Cửu Long JOC, Nhựa Phú Mỹ…

Nguồn: tinnhanhchungkhoan

2021-10-14 / by / in
Đi tìm dáng hình doanh nghiệp nhỏ Việt Nam

Đi tìm dáng hình doanh nghiệp nhỏ Việt Nam

 

Đã gần 20 năm kể từ ngày tôi bắt đầu công tác trong lĩnh vực phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa (DNN&V), khái niệm lúc đó nghe lạ lẫm, thường được nói đến trong báo cáo của một số tổ chức quốc tế như ADB, GTZ, UNIDO…

Cũng chỉ có một văn bản pháp luật đưa ra định nghĩa chính thức về DNN&V và quy định các biện pháp hỗ trợ được ban hành, lúc đó là Nghị định 90/2001/NĐ-CP của Chính phủ. Sếp của tôi lúc đó cũng bảo, đó là một thời điểm kinh khủng, khi lần đầu tiên có cơ quan nhà nước lấy tên miền Internet là business.gov.vn, và sự ra đời của luật Doanh nghiệp năm 2000 khi ấy đã cởi trói cho không biết bao nhiêu người từ bỏ vùng an toàn để làm chủ DN của mình.

Sự ra đời của luật Doanh nghiệp năm 2000 đã cởi trói cho không biết bao nhiêu người từ bỏ
vùng an toàn để làm chủ doanh nghiệp của mình.
Ảnh minh họa

Tôi cũng không thể ngờ được chỉ vì mấy chữ DNN&V/SME thôi, mà biết bao nhiêu quốc gia trên thế giới loay hoay tìm cách hỗ trợ, phát triển từ 70 năm qua và vẫn đang tiếp tục làm việc ấy mạnh hơn. Trong 20 năm, hộp cardvisit của tôi cũng tích luỹ được khoảng vài nghìn chiếc của những người làm về phát triển DNN&V đến từ ít nhất 50 quốc gia.

Nhỏ nhưng không phải dạng vừa

DNN&V là một khái niệm quen thuộc trong tất cả các nền kinh tế và trong các ngôn ngữ chính trên toàn cầu. Các khái niệm SME trong tiếng Anh, PME trong tiếng Pháp, KMU trong tiếng Đức, PYME trong tiếng Tây Ban Nha, hay 中小企业 – “trung tiểu xí nghiệp” trong tiếng Trung/Nhật là các khái niệm tương đương với DNN&V hay Doanh nghiệp vừa và nhỏ ở Việt Nam. Tuy là khái niệm được dùng chung, nhưng không có một định nghĩa thống nhất về DNN&V giữa các quốc gia.

DNN&V có thể có tới 1.200 lao động trong một số ngành ở Hoa Kỳ, dưới 250 lao động ở EU, không quá 200 lao động ở Việt Nam, 50 lao động ở Ai Cập, hoặc được định nghĩa theo quy mô của các tiêu chí khác như số vốn đăng ký, tổng tài sản, doanh thu, giá trị xuất khẩu v.v…

Thế giới hiện nay có trên 400 triệu DNN&V, ở tất cả các nước chứ không riêng gì Việt Nam, DNN&V chiếm tuyệt đại đa số, 99,99% như ở Anh, 99,7% ở Nhật Bản so với 97,4% ở Việt Nam v.v…

Về khía cạnh xã hội, hỗ trợ và phát triển DNN&V chính là phát triển khu vực trung lưu của xã hội, duy trì mô hình phát triển xã hội bền vững theo hình thoi, đồng thời giúp bảo tồn các giá trị truyền thống.

Về khía cạnh kinh tế, phát triển DNN&V giúp duy trì sự năng động thông qua khởi nghiệp, qua sự tự chèo lái, sự tham gia trong các chuỗi giá trị, đồng thời phát huy các kinh nghiệm tích luỹ vì “nhỏ không có nghĩa là mới”.

Về khía cạnh hiệu suất, phát triển DNN&V giúp phát huy sự cải tiến ở cấp gốc rễ thông qua quan niệm “nhỏ là đẹp” và về khía cạnh phát triển, điều này góp phần đẩy mạnh sự đổi mới sáng tạo, sự linh hoạt trong thích ứng, góp phần vượt qua các cuộc khủng hoảng.

Với tôi, DNN&V còn truyền cảm hứng cho thế hệ trẻ và trao cho họ cơ hội hiện thực hoá giấc mơ làm chủ.

Trước khi học được những điều này, tôi đã không nghĩ rằng các nền kinh tế khác nhau, phát triển hay đang phát triển, đều chia sẻ những quan điểm như vậy về DNN&V.

Có lẽ phần lớn chúng ta không hình dung được DNN&V trên thế giới đã đạt được nhiều thành tựu đáng nể phục.

Ví dụ, một số “unique SME” (tạm dịch: DNN&V sản xuất các sản phẩm mà không DN nào khác sản xuất) ở Nhật có khả năng sản xuất các phụ kiện của tàu vũ trụ để bán cho Cơ quan Hàng không vũ trụ Hoa Kỳ (NASA) với trị giá khoảng vài chục ngàn USD.

Nhiều DNN&V tôi đến thăm ở Nhật Bản hoạt động trong ngành cơ khí có tuổi đời gần 100 năm tiêu thụ trên 97% số lượng sản phẩm được sản xuất cho thị trường nội địa với yêu cầu chất lượng rất cao.

Ở Hoa Kỳ, nơi có chính sách quy định mức ngân sách mua sắm tối thiểu của Liên bang dành cho các nhà thầu là DNN&V, tôi rất ngạc nhiên khi được biết Bộ Quốc phòng mặc dù là cơ quan đòi hỏi nhiều sản phẩm công nghệ rất cao lại chính là cơ quan chính phủ mua sắm nhiều nhất từ các nhà cung cấp là DNN&V.

Có rất nhiều sản phẩm chúng ta đang dùng hàng ngày ở Việt Nam đến từ các tập đoàn hàng đầu thế giới bắt đầu khởi sự như một DNN&V: Apple (Steve Jobs và Steve Wozniak, 1976), Amazon (Jeff Bezos, 1994), Microsoft (Bill Gates và Paul Allen, 1975), Google (Larry Page và Sergey Brin, 1998) v.v…

Báo cáo của OECD và nhiều tổ chức quốc tế cho thấy DNN&V có hoạt động đổi mới sáng tạo rất mạnh, các DN siêu nhỏ có thể có hiệu suất kinh doanh cao hơn các tập đoàn lớn.

DNN&V Việt Nam: Vẫn còn nhiều ẩn số

Đó là câu chuyện ở nước ngoài, còn ở Việt Nam thì sao?

Tổng số DN Việt Nam được thành lập từ năm 1991 tính đến thời điểm này khoảng 1,65 triệu, tổng số DN còn hoạt động là 811.538 (tính đến hết 2020), như vậy tỷ lệ các DN sống sót sau 30 năm là khoảng 52%, một tỷ lệ khá cao so với các quốc gia thành viên OECD.

Một DN Việt Nam điển hình năm 2021 đăng ký mới có bình quân 7,3 lao động, vốn đăng ký 13,9 tỉ đồng. Với “chiều cao” và “cân nặng” như vậy, một DN (mà đa số là nhỏ) của chúng ta thực chất có sức khoẻ như thế nào?

DN Việt Nam bán hàng hoá, dịch vụ cho DN nước ngoài ở Việt Nam khá ít (chỉ 15%), tham gia ít vào xuất khẩu (gần 16%, cả trực tiếp và gián tiếp), ít tham gia chuỗi giá trị (chỉ khoảng 21%, so với 30-50% các nước trong khu vực), đầu tư cho khoa học công nghệ cực kỳ ít (0.3-1%, so với các nước 5-50%). Tuyệt đại đa số DN của chúng ta (98%) chưa làm gì hoặc làm rất ít để chuẩn bị cho cách mạng công nghiệp 4.0 (theo khảo sát, đánh giá của VCCI, IFC, Tổng cục Thống kê, Bộ Công thương).

Không chỉ như vậy, còn rất nhiều thông tin chúng tôi mong muốn tìm kiếm trong quá trình làm việc để nhận diện được đầy đủ khu vực DNN&V Việt Nam nhưng không tìm được một cách hệ thống, đó là thông tin về các doanh nhân (trình độ, kinh nghiệm, tuổi, số DN đang quản lý…), về sự thay đổi của các DNN&V trong nội bộ từng ngành, về số vốn thực đem vào đầu tư (không phải vốn đăng ký), về số lao động thực sử dụng.

Chúng tôi cũng gặp rất nhiều khó khăn khi không quan sát được sự vận động của các khối DN siêu nhỏ, nhỏ, vừa, lớn; số lượng DNN&V đã nhận hỗ trợ tài chính; số lượng DNN&V đã tham gia các chương trình hỗ trợ của nhà nước; số lượng/tỷ lệ DNN&V có nhu cầu hỗ trợ trong từng lĩnh vực.

Mặc dù chúng ta đã có nhiều chương trình hỗ trợ các DNN&V trong 20 năm qua, giờ đây không ai trả lời được câu hỏi đã có bao nhiêu DNN&V Việt Nam được Chính phủ hỗ trợ.

Đáng buồn thay, trong xã hội cũng có một số hiểu lầm không đáng có về DN/DNN&V Việt Nam. Ví dụ “DN Việt Nam yếu kém, phần lớn là DNN&V”, chúng ta đã thấy tỷ lệ phần lớn này xảy ra ở tất cả các nền kinh tế trên thế giới.

Nhiều ý kiến thậm chí cho rằng “DN Việt Nam càng ngày càng yếu thể hiện qua quy mô lao động trung bình nhỏ dần qua các năm”. Thực chất nhận định này không chính xác, vì số lao động trung bình của một DN đăng ký mới ít đi do nhiều nguyên nhân: chuyển dịch cơ cấu sang dịch vụ, thị trường lao động và khả năng thuê dịch vụ ngoài tốt hơn, tốc độ tăng số DN mới lớn hơn nhiều so với tốc độ tăng dân số, chưa tính đến việc các ngành nghề CMCN 4.0 sẽ sử dụng ít lao động hơn nữa.

Chúng ta có thể tham khảo một ví dụ: Hoa Kỳ có 29 triệu DN trong đó có 22 triệu DN một chủ, nhưng như vậy không có nghĩa là DN Hoa Kỳ yếu hơn DN Việt Nam.

Như vậy, chúng ta đều thấy để giúp các DNN&V Việt Nam cất cánh như ở các nước khác, còn rất nhiều việc phải làm, ít nhất để nắm chắc được bức tranh về DNN&V những chỗ nào đã có màu, chỗ nào chưa có màu.

Ít nhất phải hiểu được các DN năm nay đã đầu tư bao nhiêu tiền vốn, đội ngũ quản lý có kinh nghiệm không, lao động còn thiếu kỹ năng gì, và điều gì là trở ngại để các DNN&V xuất khẩu được nhiều hơn, tham gia chuỗi giá trị sâu hơn, đầu tư nhiều hơn cho khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo.

Việc nhận diện được rõ dáng hình của DN nhỏ Việt Nam là hết sức cần thiết và cơ bản, bên cạnh những nỗ lực mà Chính phủ đang thực hiện để hoạch định và triển khai đối với các luật và chiến lược quan trọng như luật Hỗ trợ DNN&V (2017), các chiến lược về CMCN 4.0, chiến lược về kinh tế số, chiến lược về chuyển đổi số, chiến lược đổi mới sáng tạo và khởi nghiệp sáng tạo, để DNN&V tận dụng được những hạ tầng thể chế để phát triển bứt phá. Ai cũng mong nhìn thấy tên tuổi của các DNN&V, các start-up Việt xuất hiện ngày càng nhiều trong khu vực và trên thế giới.

Kinh nghiệm quốc tế đã coi trọng việc phát triển DNN&V từ cách đây 70 năm, Việt Nam mới chỉ bắt đầu công cuộc này cách đây khoảng 20 năm, vì vậy phía trước cần rất nhiều nỗ lực để phát huy tối đa vai trò của khu vực DNN&V, đóng góp vào sự phát triển bứt phá và bền vững thật sự của nền kinh tế.

Tất cả chúng ta đều tin rằng bệnh dịch Covid-19 sẽ không cản trở được những doanh nhân Việt luôn tràn đầy nhiệt huyết và nỗ lực để vượt qua mọi khó khăn, đóng góp vào quá trình phục hồi và phát triển của nền kinh tế.

Nhân dịp ngày Doanh nhân Việt Nam, nhân dịp 20 năm ra đời của nghị định đầu tiên của Chính phủ đưa ra định nghĩa của DNN&V, xin gửi những lời chúc tốt đẹp nhất tới cộng đồng DNN&V Việt Nam, dù chặng đường phía trước còn rất nhiều khó khăn, nhưng chúc các DNN&V luôn vững tay chèo vượt qua sóng dữ và đi ra biển lớn thành công!

Nguyễn Hoa Cương (Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương, Bộ Kế hoạch và Đầu tư)

Nguồn: vietnamnet

2021-10-14 / by / in
Doanh nghiệp muốn Đồng Nai và các tỉnh giáp ranh cho người lao động đi xe cá nhân

Doanh nghiệp muốn Đồng Nai và các tỉnh giáp
ranh cho người lao động đi xe cá nhân

 

TTO – Ngày 12-10, Ban quản lý các khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai đã có văn bản khẩn kiến nghị tỉnh Đồng Nai bàn với các tỉnh giáp ranh để cho chuyên gia, người lao động dùng phương tiện cá nhân (ôtô, môtô, xe máy) qua lại làm việc.

Một doanh nghiệp lắp ráp linh kiện điện tử ở Đồng Nai sản xuất “3 tại chỗ” trong mùa dịch bệnh
Ảnh: H.MI

Ngoài ra, Ban quản lý các khu công nghiệp kiến nghị người lao động từ các địa phương giáp ranh qua doanh nghiệp Đồng Nai làm việc được sử dụng kết quả test COVID-19 có giá trị trong vòng 7 ngày và tiêm vắc xin ít nhất 1 mũi sau 14 ngày (hoặc đã điều trị khỏi bệnh COVID-19 trong vòng 180 ngày).

Theo Ban quản lý các khu công nghiệp, Đồng Nai có các doanh nghiệp lớn như Changsin VN, Dona Standard, Hwaseung Vina… đã tuyển dụng và sử dụng số lượng lao động rất lớn là chuyên gia, công nhân, lao động kỹ thuật, nhân viên văn phòng từ các địa phương giáp ranh như Bình Dương, Bình Thuận, Bà Rịa – Vũng Tàu, TP.HCM…

Nếu chậm xử lý các kiến nghị trên của doanh nghiệp, có thể các chuyên gia nước ngoài có tay nghề sẽ đi các địa phương khác tìm việc, ảnh hưởng đến mục tiêu phục hồi sản xuất của các doanh nghiệp tại tỉnh Đồng Nai.

Theo tìm hiểu của Tuổi Trẻ Online, nội dung Ban quản lý các khu công nghiệp tỉnh Đồng Nai kiến nghị từng được TP.HCM đưa ra để lấy ý kiến các tỉnh, thành trong vùng. Tuy nhiên, mỗi địa phương quy định kiểm soát việc đi lại của người lao động giữa các địa phương mỗi kiểu, không đồng bộ khiến không ít doanh nghiệp lúng túng.

Cụ thể, Đồng Nai hiện chỉ mới đồng ý cho doanh nghiệp tổ chức đưa người lao động đi lại giữa TP.HCM vào tỉnh này bằng ôtô (xe đưa đón), chưa cho người lao động sử dụng xe cá nhân qua lại địa bàn làm việc.

Tại Bình Dương, người lao động chỉ được đi xe máy qua lại giữa 2 địa phương giáp ranh là TP Thủ Đức với TP Thuận An, Dĩ An và phải tiêm ngừa vắc xin đủ 2 mũi, có giấy xét nghiệm âm tính trong vòng 7 ngày.

Tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu vẫn chưa cho người lao động ở địa phương khác sử dụng xe cá nhân vào địa bàn làm việc. Người dân đi ôtô khách phải có giấy xét nghiệm âm tính COVID-19 trong vòng 3 ngày…

Nguồn: tuổi trẻ

2021-10-14 / by / in
Sớm cấp bù lãi suất giúp doanh nghiệp

Sớm cấp bù lãi suất giúp doanh nghiệp

 

TTO – Lãnh đạo Vụ Tín dụng các ngành kinh tế (Ngân hàng Nhà nước) đã công nhận gói hỗ trợ cấp bù lãi suất là hết sức cần thiết và hy vọng sẽ sớm được triển khai.

Nhiều DN mong muốn lãi suất giảm mạnh đủ để có ý nghĩa, giúp nền kinh tế nhanh hồi phục.
Trong ảnh: tại một DN sản xuất cơ khí ở phía Nam
Ảnh: T.V.NGHI

Sau một thời gian dài hoạt động kinh doanh bị “đông cứng” do dịch, các doanh nghiệp (DN) bắt đầu rón rén mở cửa trở lại và việc họ phải đối mặt đầu tiên lúc này đó là tiền đâu và lãi suất vay thế nào.

Cần giảm mạnh lãi suất vay khoản nợ cũ

Vừa hoạt động trở lại được gần nửa tháng, ông N.H., giám đốc một DN sản xuất kinh doanh sắt thép, cho biết ông mừng vì nhận được ngay đơn hàng nhưng chưa dám “bung”.

“Chúng tôi chờ chính sách ổn định mới dám tuyển mới lao động. Với lại lãi suất vay còn khá cao, có khoản lên đến 11,3%/năm, trong khi mùa này làm ăn siêu khó. Chúng tôi mong lãi suất cho vay giảm thêm, để hỗ trợ DN trong mùa làm ăn cuối năm”, ông H. nói.

Trao đổi với Tuổi Trẻ, ông Trần Văn Lĩnh, chủ tịch HĐQT Công ty thủy sản và thương mại Thuận Phước (Đà Nẵng), nhận định lãi suất cho vay được ngân hàng (NH) giảm 0,3 – 0,5%/năm, nói chung dưới 1%/năm, là giảm cho có, tượng trưng, không có ý nghĩa nhiều. Tuy nhiên, không phải khách hàng nào cũng được NH giảm lãi suất, mà thậm chí còn bị tăng lên.

Ông Lĩnh đề nghị NH Nhà nước chỉ có thể hướng dẫn, kêu gọi, khuyến khích các tổ chức tín dụng chia sẻ khó khăn với khách hàng. “Đã đến lúc Chính phủ cần vào cuộc, đưa ra giải pháp tiền tệ để thúc NH giảm lãi suất cho vay. Mức lãi suất cho vay chỉ tối đa 5 – 6%/năm, áp dụng cho cả DN và cá nhân vay vốn”, ông Lĩnh nói.

Ngân hàng chưa dám rộng cửa, vì sao?

Giám đốc vùng một NH cổ phần lớn cho biết NH này cũng chưa dám bung cửa cho vay mạnh vì còn liên quan đến hạn mức tín dụng, chưa kể nhiều khách hàng sau giai đoạn được cơ cấu nợ và thử thách vẫn không trả được nợ.

Hiện dư nợ cơ cấu chiếm đến 20% tổng dư nợ, trong khi gần đây NH Nhà nước khuyến khích các NH trích lập 100% dự phòng với nợ cơ cấu lại cũng khiến các NH chùn tay.

“Tuy nhiên, có khả năng các NH vẫn phải đẩy mạnh cho vay mới để có nguồn thu lãi bù đắp cho dư nợ tái cơ cấu, còn khoản nợ cũ xem như khoản khoanh lại để giải quyết từ từ”, ông nói.

Ông Nguyễn Đình Tùng, tổng giám đốc NH Phương Đông (OCB), cho hay trong đợt dịch không phải DN nào cũng bị ảnh hưởng như nhau, sau dịch cũng sẽ có ngành nghề hồi phục nhanh.

“Nếu DN có phương án kinh doanh tốt, điều kiện tài chính tốt, phương án kinh doanh có khả năng thu hồi vốn thì NH vẫn cho vay được, kể cả khách hàng gặp khó khăn tạm thời do COVID-19 vừa rồi phải cơ cấu. Chỉ khác đi một chút là trong bối cảnh hiện nay việc đánh giá mọi thứ phải thận trọng hơn, tùy từng khách hàng”, ông Tùng nói.

Có thể nới tín dụng

PGS.TS Trần Hoàng Ngân (viện trưởng Viện Nghiên cứu phát triển TP.HCM) cho rằng hiện nay bài toán khó nhất với DN là bài toán vốn, vì vốn chiếm đến 40% trong tăng trưởng kinh tế, 20% còn lại là lao động, 40% là năng suất yếu tố tổng hợp (TFP).

Sắp tới, Chính phủ sẽ thực hiện các biện pháp nới lỏng chính sách tài khóa thông qua giãn, giảm thuế, giảm tiền thuê đất, phí BHXH… Biện pháp cấp bù lãi suất cho DN cũng đang được nghiên cứu, nhưng vấn đề là DN phải đủ điều kiện vay vốn. Đó là bài toán khó giải nhất.

“NH Nhà nước nên nới room tín dụng cho các NH vì dư nợ vay mới tăng hơn 7% so với năm 2020, mà năm 2020 dư nợ tăng thấp. Trong giai đoạn hiện nay, các NH cũng nên linh hoạt hơn, NH Nhà nước cũng nên mở room tín dụng nhiều hơn để giúp kinh tế phục hồi”, ông Ngân đề nghị.

Trả lời câu hỏi NH Nhà nước đã nghiên cứu và đề xuất gói cấp bù lãi suất ra sao? Ông Nguyễn Tuấn Anh, vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, cho hay gói này là gợi ý của Chủ tịch Quốc hội Vương Đình Huệ. NH Nhà nước thấy gói này là hết sức cần thiết. Hy vọng gói này sẽ sớm được triển khai trong thời gian tới, ngay sau khi có nghị quyết của Quốc hội và Chính phủ.

Nguồn: tuổi trẻ

2021-10-14 / by / in