Thêm kết quả...

Triển vọng cho ngành sản xuất bao bì Việt Nam

Công nghiệp bao bì là ngành phụ trợ cho các ngành sản xuất nên đầu ra thuận lợi, luôn giữ được tốc độ tăng trưởng cao và ổn định. Đồng thời, xu hướng tiêu dùng hiện đại, nhu cầu từ thị trường hàng hóa thế giới cũng đang tạo cơ hội lớn cho ngành sản xuất bao bì phát triển.

Mặc dù vậy, ngành sản xuất bao bì cũng đang gặp phải những thách thức trong việc đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế bền vững và sự cạnh tranh từ các doanh nghiệp (DN) ngoại.

* Nhiều tiềm năng

Hiện nay, sản xuất bao bì là một trong những ngành công nghiệp quan trọng trong việc bảo quản, vận chuyển và phân phối hàng hóa. Nhiều nhà sản xuất bao bì đang nỗ lực để sáng chế ra các vật liệu và thiết kế mới, tạo ít chất thải hơn, có khả năng tái chế cao, giá thành thấp và quy trình đơn giản hơn.

Theo Chủ tịch Hiệp hội Bao bì Việt Nam Nguyễn Ngọc Sang, công nghiệp bao bì Việt Nam có tốc độ tăng trưởng khá cao và ổn định. Hiện cả nước có khoảng 14 ngàn DN bao bì. Trong đó, bao bì giấy khoảng 4,5 ngàn DN, còn lại là bao bì nhựa. Tương lai công nghiệp bao bì sẽ còn phát triển cùng với sự phát triển của kinh tế Việt Nam, vì vậy công nghiệp bao bì là ngành hấp dẫn nguồn vốn đầu tư từ nhiều quốc gia.

Tại Đồng Nai, nhiều DN sản xuất bao bì đang mạnh dạn nâng cao chất lượng, đáp ứng các tiêu chí của đối tác, nhà sản xuất. Đại diện Công ty CP Sản xuất bao bì công nghiệp Toàn Cầu (TP.Biên Hòa) cho hay, từ năm 2017 đến nay, DN đã đầu tư công nghệ để sản xuất ra những sản phẩm cao cấp hơn, đủ chủng loại và liên tục mở rộng thêm các nhà máy mới ở TP.Biên Hòa, H.Vĩnh Cửu và tỉnh Long An. Để có thể phát triển mạnh hơn, DN tiếp tục hiện đại hóa quản trị sản xuất, quản trị nhân sự và đầu tư công nghệ. Trong đó, định hướng của công ty là đa dạng hóa sản phẩm để phục vụ nhu cầu trong nước và xuất khẩu để phát triển lâu dài.

Theo Giám đốc Công ty TNHH Bao bì Ngọc Thanh Phước (Khu công nghiệp Hố Nai, H.Trảng Bom) Nguyễn Thị Kim Tuyến, công ty sản xuất đầy đủ các chủng loại bao bì dùng để đóng gói sản phẩm thuộc các lĩnh vực cơ khí, may mặc, sản phẩm gỗ, thực phẩm, phủ nhà kính, nhà vườn… Đặc biệt, công ty có thể sản xuất túi ny-lông phân hủy từ bột mì nên đầu ra tương đối ổn định. Để có được nhiều dòng sản phẩm đa dạng, DN ưu tiên đầu tư máy móc hiện đại, đào tạo nguồn lao động có tay nghề cao, áp dụng quy trình sản xuất khép kín hướng đến sản xuất xanh.

* Xanh hóa sản xuất để đáp ứng chuẩn quốc tế

Theo các chuyên gia, ngành bao bì Việt Nam vẫn còn nhiều tiềm năng để phát triển. Tuy nhiên, ngành này cũng phải đối đầu với nhiều thách thức, trong đó có sự cạnh tranh, thâu tóm từ DN ngoại và việc đáp ứng các quy chuẩn quốc tế. Điều đó buộc DN phải tăng sức cạnh tranh bằng việc quản lý hiệu quả, thực hiện chuyển đổi số, xây dựng công nghiệp bao bì thành ngành công nghiệp xanh đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế bền vững.

Ông Trịnh Chí Cường, Tổng giám đốc Công ty CP Nhựa Đại Đồng Tiến (hiện có nhà máy sản xuất ở Đồng Nai) cho biết, DN sản xuất ngoài lợi nhuận thì phải có trách nhiệm trong việc bảo vệ môi trường, góp phần phát triển kinh tế địa phương và bảo vệ sức khỏe người tiêu dùng. Do vậy, DN đang tiếp tục đơn giản hóa hoạt động (cắt hoạt động dư thừa, giảm tồn kho…) để giúp năng suất lao động và tỷ suất lợi nhuận tăng đáng kể. Đồng thời, DN tìm thêm nguồn cung sản phẩm mới và cải thiện doanh thu, tìm đối tác đáp ứng các mặt hàng nhựa đảm bảo chất lượng ở phân khúc trung và cao cấp. Năm 2022, công ty bắt đầu thực hiện lộ trình số hóa để hướng đến sản xuất xanh, phát triển bền vững.

Sự kiện Triển lãm quốc tế về công nghệ xử lý, chế biến và đóng gói bao bì lần thứ 16 (ProPak Vietnam 2023) vừa được tổ chức ở tại Trung tâm Hội chợ và triển lãm Sài Gòn quy tụ 400 DN sản xuất bao bì trong và ngoài nước tham gia. Tại đây, các DN được tham quan, cập nhật những công nghệ tiên tiến, giúp cải tiến quy trình sản xuất. Từ đó tối ưu hóa quy trình chế biến và đóng gói, mở rộng sản xuất, đồng thời đáp ứng các nhu cầu về sản xuất tuần hoàn.

Theo đại diện Công ty Informa Markets Việt Nam, đơn vị tổ chức chương trình, ngành chế biến, đóng gói thực phẩm và đồ uống đã phát triển mạnh mẽ nhờ sự phát triển nhanh chóng của thương mại điện tử, các ứng dụng giao hàng, cùng các hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam đã tham gia. Bên cạnh lợi ích kinh tế, sự phát triển đặt ra nhu cầu cấp bách về việc bảo vệ tài nguyên và môi trường khi Việt Nam đang đối mặt với thách thức phải xử lý lượng rác thải ngành hàng tiêu dùng nhanh gia tăng đột biến. Nhiều nhà sản xuất lớn đang nỗ lực để sáng chế ra công nghệ, vật liệu và thiết kế mới nhằm giảm chất thải, có khả năng tái chế cao, giá thành thấp và quy trình đơn giản hơn. Informa Markets Việt Nam cam kết sẽ tiếp tục các chương trình, sự kiện của mình vì tương lai bền vững cho ngành công nghiệp chế biến, đóng gói bao bì Việt.

2024-01-16 / by / in
Triển vọng tích cực của ngành công nghiệp sản phẩm nhựa Việt Nam trong năm 2024

Trong năm 2023, xuất khẩu đồ nhựa của Việt Nam đã ghi nhận một số con số quan trọng. Tổng giá trị xuất khẩu sản phẩm nhựa của đất nước này đạt 4,75 tỷ USD theo thông tin từ Tổng cục Hải quan Việt Nam, thấp hơn 12,2% so với năm 2022.

Các thị trường chính mà Việt Nam xuất khẩu đồ nhựa gồm có Hoa Kỳ với 1,08 tỷ USD (chiếm 22,7%), Trung Quốc với 860 triệu USD (18,2%), Hàn Quốc với 450 triệu USD (9,5%), Nhật Bản với 360 triệu USD (7,6%), và Thái Lan với 280 triệu USD (6,0%).

Trên thị trường xuất khẩu, các mặt hàng nhựa chủ lực của Việt Nam bao gồm bao bì nhựa với 2,01 tỷ USD (chiếm 42,4%), sản phẩm nhựa gia dụng với 900 triệu USD (18,8%), sản phẩm nhựa kỹ thuật với 740 triệu USD (15,4%), sản phẩm nhựa xây dựng với 420 triệu USD (8,9%), và các sản phẩm nhựa khác với 680 triệu USD (14,5%).

Tổng quan, xu hướng xuất khẩu sản phẩm nhựa của Việt Nam trong năm 2023 có chiều hướng giảm so với năm 2022. Điều này chủ yếu là do giá nguyên liệu nhựa tăng cao, lạm phát gia tăng, và nhu cầu tiêu thụ giảm. Mặc dù vậy, dự kiến vào những tháng cuối năm 2023, xuất khẩu đồ nhựa sẽ có dấu hiệu phục hồi do nhu cầu tiêu thụ tăng cao vào dịp cuối năm.

Tầm nhìn tổng quan của Hiệp hội Nhựa Việt Nam (VPA) cho ngành công nghiệp nhựa Việt Nam trong năm 2024 vẫn khá tích cực, với dự kiến tốc độ tăng trưởng dao động khoảng từ 5-7%.

Có một số lý do chính dẫn đến triển vọng tích cực của ngành công nghiệp sản phẩm nhựa Việt Nam trong năm 2024:

  • Nhu cầu sử dụng nhựa trong nhiều lĩnh vực như đóng gói, xây dựng, điện tử, y tế và nông nghiệp vẫn đang gia tăng.
  • Việt Nam là một trong những thị trường xuất khẩu nhựa tiềm năng nhất trên thế giới, với lợi thế về lao động rẻ, nguồn nguyên liệu phong phú và chính sách hỗ trợ từ Chính phủ.

Tuy nhiên, ngành công nghiệp nhựa Việt Nam cũng đối mặt với một số thách thức:

  • Giá nguyên liệu nhựa tăng cao do giá dầu tăng.
  • Lạm phát làm giảm nhu cầu tiêu thụ.
  • Sức ép cạnh tranh từ các đối thủ trong khu vực và trên thế giới.

Để vượt qua những thách thức này, các doanh nghiệp sản phẩm nhựa Việt Nam cần tập trung vào những giải pháp sau:

  • Tăng cường nghiên cứu và phát triển để tạo ra các sản phẩm nhựa chất lượng cao, thân thiện với môi trường và tiết kiệm nguyên liệu.
  • Đa dạng hóa thị trường xuất khẩu để giảm thiểu rủi ro từ thị trường không ổn định.
  • Nâng cao khả năng cạnh tranh về giá cả và chất lượng sản phẩm.

Dưới đây là những dự báo cụ thể cho từng phân khúc của ngành công nghiệp nhựa Việt Nam trong năm 2024:

  • Phân khúc bao bì nhựa dự kiến sẽ tiếp tục dẫn đầu với tốc độ tăng trưởng dự kiến từ 7-9%. Nguyên nhân là do nhu cầu sử dụng bao bì nhựa trong lĩnh vực thương mại điện tử, thực phẩm và đồ uống vẫn đang tăng.
  • Phân khúc sản phẩm nhựa gia dụng dự kiến sẽ tăng trưởng với tốc độ khoảng từ 5-7%. Nguyên nhân là do nhu cầu tiêu dùng hàng hoá gia dụng đang tăng, đặc biệt là tại các khu vực đô thị.
  • Phân khúc sản phẩm nhựa kỹ thuật dự kiến sẽ tăng trưởng với tốc độ khoảng từ 4-6%. Nguyên nhân là do nhu cầu sử dụng sản phẩm nhựa kỹ thuật trong lĩnh vực công nghiệp, xây dựng và giao thông vận tải đang tăng lên.
  • Phân khúc sản phẩm nhựa xây dựng dự kiến sẽ tăng trưởng với tốc độ khoảng từ 3-5%. Nguyên nhân là do nhu cầu xây dựng cơ sở hạ tầng và nhà ở đang tăng lên.

Tóm lại, ngành công nghiệp nhựa Việt Nam vẫn có tiềm năng phát triển đáng kể trong năm 2024. Tuy nhiên, các doanh nghiệp nhựa cần có chuẩn bị kỹ lưỡng để vượt qua thách thức và tận dụng cơ hội phát triển.

2024-01-15 / by / in
Ngành sản phẩm nhựa phải giảm lãi do nền kinh tế chung còn khó khăn

Ngược dòng với nhóm tăng lãi, khó khăn chung từ nền kinh tế trong và ngoài nước là lý do chính khiến một số công ty sản phẩm nhựa có kết quả kém trong quý 3 của năm 2023 vừa rồi

Chẳng hạn, do kinh tế khó khăn, sức mua chung giảm, Nhựa Picomat (HNX: PCH) đưa ra chính sách giảm giá bán từ cuối quý 3/2022 để hỗ trợ khách hàng, khiến lãi ròng chỉ bằng một nửa cùng kỳ, còn 1.8 tỷ đồng.

Tương tự, doanh thu Nhựa Tân Đại Hưng (HOSE: TPC) giảm một nửa, chủ yếu do sản lượng bán hàng xuất khẩu giảm mạnh; kết quả lỗ 1 tỷ đồng trong khi cùng kỳ lãi 2 tỷ đồng. TPC cho biết, do lạm phát kinh tế thế giới và trong nước, thị trường bao bì dệt cạnh tranh khốc liệt, nhu cầu tiêu dùng cả thế giới giảm đi rất nhiều, lãi vay tăng, khách hủy đơn hàng, giá nguyên vật liệu còn cao.

Tập đoàn Nhựa Đông Á (HOSE: DAG) phân phối sản phẩm nhựa phục vụ lĩnh vực bất động sản. Thị trường này đang khó khăn làm doanh thu giảm 61%, chi phí tài chính công ty con, cụ thể là tỷ giá chênh lệch tăng cao 190% do nhập khẩu hàng hóa, máy móc tăng. Dù doanh thu giảm mạnh, các loại chi phí vẫn phải chi trả, dẫn đến sụt giảm lợi nhuận. Kết quả: DAG lỗ hơn 16 tỷ đồng, trong khi cùng kỳ lãi 3.3 tỷ đồng.

Thuận Đức (HOSE: TDP) gặt hái doanh thu thêm 25% so với cùng kỳ, lên hơn 1 ngàn tỷ đồng, nhưng chủ yếu là từ bán hạt nhựa nên biên lợi nhuận không lớn; đồng thời chi phí lãi vay tăng mạnh trong thời gian dài, tổng cầu quốc tế không đạt kỳ vọng, làm lợi nhuận giảm. Bên cạnh đó, cộng hưởng thêm chính sách thuế TNDN tại Nghị định 132/2020 làm cho chi phí thuế của Công ty tăng cao.

Nhờ mở rộng đa dạng kênh phân phối bán hàng nên doanh thu CTCP Sản xuất và Thương mại Nhựa Việt Thành (HNX: VTZ) đạt 471 tỷ đồng, tăng 10%; nhưng chi phí tài chính đội lên cao làm lãi ròng bị thu hẹp 25%, còn hơn 5 tỷ đồng.

Quý 3, DNP Holding (HNX: DNP) khởi sắc trong một số mảng kinh doanh, giúp doanh thu đạt hơn 1,800 tỷ đồng, tăng 10%. Đồng thời, khoản lãi từ hoạt động đầu tư cùng lãi tiền gửi, tiền cho vay góp thêm 40 tỷ đồng vào tổng doanh thu của DNP. Dù vậy, giá vốn tăng với tỷ lệ cao hơn, khoản lỗ khác cùng chi phí thuế TNDN đột biến khiến cổ đông công ty mẹ chỉ thu về gần 2 tỷ đồng, giảm 25%.

Sau 9 tháng, ngành sản phẩm nhựa có 4 công ty báo lỗ, trong khi cùng kỳ chỉ có 1 công ty, dù có 4 trường hợp thu lãi tăng bằng lần, cho thấy sức cầu còn khó khăn.

Tổng doanh thu và lãi ròng sau 9 tháng của 26 công ty ngành sản phẩm nhựa đạt 39.1 ngàn tỷ đồng và 1.35 ngàn tỷ đồng, giảm lần lượt 8% và 10% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, có 12 công ty lãi tăng (gồm 1 công ty giảm lỗ), 10 công ty giảm lãi, 4 công ty lỗ trong khi cùng kỳ lãi.

Nhóm lợi nhuận trên trăm tỷ đồng, duy nhất “ông lớn” BMP lãi tăng đến 75%, trong khi AAA, NTP giảm lãi lần lượt 23% và 4%.

Các công ty thu lãi tăng bằng lần gồm DNP, STP, RDP và BPC, ít nhất 167%. DNP tăng mạnh nhất, gấp 10 lần cùng kỳ.

So với cùng thời điểm năm trước, tổng hàng tồn kho của các doanh nghiệp ngành sản phẩm nhựa giảm 26%, về mức 9,860 tỷ đồng. AAA giảm nhiều nhất: 68%, NTP giảm 41%, BMP giảm 16%. Các công ty cũng tích cực giảm vay nợ dài hạn, còn 5 ngàn tỷ đồng, tức giảm 39% so với cuối quý 3/2022.

 

Nguồn: vietstock.vn

2024-01-11 / by / in
Đẩy mạnh quá trình phát triển gia công cơ khí để tiệm cận với trình độ thế giới

Chú trọng đầu tư phát triển, nâng cao năng lực sản xuất, ngành cơ khí trong nước đã từng bước làm chủ và nâng cao tỷ lệ nội địa hóa; tạo động lực thúc đẩy các ngành công nghiệp và kinh tế khác phát triển. Theo dự báo, tổng nhu cầu thị trường cơ khí của Việt Nam đến năm 2030 có thể đạt hơn 300 tỷ USD. Để ngành cơ khí phát triển đáp ứng nhu cầu của thị trường và tiếp cận gần hơn với thế giới trong thời gian tới cần tiếp tục có những giải pháp thúc đẩy phát triển mạnh mẽ hơn nữa.

Thực trạng phát triển ngành cơ khí trong thời gian qua

Cơ khí là ngành công nghiệp nền tảng được Đảng, Nhà nước đặc biệt quan tâm và trở thành một trong những ngành then chốt của nền kinh tế.  Những năm qua, ngành cơ khí phát triển với nhiều chuyển biến tích cực, từng bước làm chủ công nghệ, mở rộng đầu tư nâng cao chất lượng sản phẩm và tỷ lệ nội địa hóa. Với thế mạnh tập trung ở ba phân ngành là xe máy và phụ tùng linh kiện xe máy; cơ khí gia dụng và dụng cụ; ôtô và phụ tùng ôtô. Sản phẩm của ngành gia công cơ khí đã từng bước thay đổi từ chỗ phải hoàn toàn nhập khẩu sang tự chế tạo. Đến nay, linh kiện kim loại sản xuất trong nước đã đáp ứng được 85 – 90% nhu cầu cho sản xuất xe máy; khoảng 15 – 40% nhu cầu linh kiện cho sản xuất ôtô (tùy chủng loại xe), khoảng 20% cho sản xuất thiết bị đồng bộ và 40 – 60% cho sản xuất các loại máy nông nghiệp, máy động lực và 40% cho máy xây dựng. Cung ứng linh kiện kim loại cho các ngành công nghiệp công nghệ cao hiện đáp ứng khoảng 10% nhu cầu. Theo Tổng cục Thống kê, năm 2022,  trị giá xuất khẩu mặt hàng máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác ước tính đạt 45.722 triệu USD, tăng 19,3% so với năm trước. Trị giá nhập khẩu mặt hàng máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác ước tính đạt 45.391 triệu USD, giảm 2,0% so với năm trước. Kết quả này cho thấy, Việt Nam đang giảm dần sự phụ thuộc vào máy móc nhập khẩu từ nước ngoài. 9 tháng năm 2023, trị giá xuất khẩu mặt hàng máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác ước tính đạt 30.642 triệu USD, mặc dù giảm 10,6% so với cùng kỳ năm trước song đây vẫn là những tháng đạt giá trị xuất khẩu hàng hòa trên 10 tỷ USD. Trị giá nhập khẩu mặt hàng máy móc thiết bị, dụng cụ phụ tùng khác ước tính đạt 30.569 triệu USD, giảm 11,1% so với cùng kỳ năm trước.

Đẩy mạnh quá trình tiệm cận với trình độ thế giới

Mặc dù đạt được những kết quả tích cực song ngành gia công cơ khí trong nước vẫn còn phải đối mặt với những khó khăn như: Các doanh nghiệp cơ khi có quy mô nhỏ khá phổ biến; năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp chưa đủ mạnh, chưa làm chủ được công nghệ lõi hoàn chỉnh trong lĩnh vực cơ khí; sản phẩm xuất khẩu khá khiêm tốn; thị phần trong nước của ngành cơ khí chưa nhiều.

Hiện, Việt Nam với dân số 100 triệu người, đa phần là dân số trẻ đang tạo ra cho Việt Nam triển vọng trở thành trung tâm công nghiệp cơ khí hàng đầu Đông Nam Á. Đặc biệt, với việc ngày càng hội nhập sâu rộng với thế giới và tham gia ký kết hàng loạt các hiệp định thương mại tự do (FTA) thời gian qua, mang tới cơ hội lớn cho các doanh nghiệp cơ khí Việt Nam được tiệm cận gần hơn với trình độ khoa học kỹ thuật tiên tiến trên thế giới.

Bên cạnh đó, các công ty đa quốc gia vẫn tiếp tục tìm kiếm đối tác liên doanh, liên kết, đặt nhà máy sản xuất tại Việt Nam và xu hướng chuyển dịch chuỗi cung ứng cũng đang tạo ra cơ hội lớn cho doanh nghiệp cơ khí của Việt Nam.

Để nắm bắt cơ hội phát triển, ngành gia công cơ khí Việt Nam trong thời gian tới cần xác định nhu cầu thị trường, chỉ rõ những khoảng trống để phát triển những lĩnh vực mà ngành có thể cạnh tranh. Ngoài việc tạo thị trường cho doanh nghiệp, các cơ chế, chính sách phải linh hoạt để khuyến khích doanh nghiệp đầu tư, mở rộng sản xuất, tăng tỷ lệ nội địa hóa. Trong đó, cần đặc biệt chú trọng phát triển ngành gia công cơ khí luyện kim, công nghiệp hỗ trợ…

Về phía Bộ Công Thương để hỗ trợ doanh nghiệp cơ khí, Bộ tiếp tục tăng cường và nâng cao hiệu quả hoạt động của 2 Trung tâm kỹ thuật hỗ trợ phát triển công nghiệp miền Bắc và miền Nam. Hai Trung tâm này đã và đang có các hoạt động hỗ trợ doanh nghiệp công nghiệp cơ khí tại một số địa phương trên cả nước như: Hỗ trợ đào tạo hệ thống quản trị sản xuất, hệ thống quản lý kinh doanh; nâng cao năng lực đáp ứng các tiêu chuẩn quốc tế, tìm kiếm các nhà cung cấp phù hợp tham gia vào chuỗi giá trị của các tập đoàn; các Trung tâm này cũng tích cực hợp tác với các tập đoàn đa quốc gia tại Việt Nam như: Toyota, Mitsubishi, Canon…

Ngoài ra, Bộ Công Thương tiếp tục phát triển mạnh công nghiệp hạ nguồn, trrong đó có một số ngành như: Công nghiệp năng lượng, các ngành công nghiệp về cơ khí chính xác cũng như một số ngành cơ khí chế tạo để đảm bảo cho công nghiệp hỗ trợ có điều kiện phát triển…

Ngày 15/3/2018, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 319/QĐ-TTg về Phê duyệt Chiến lược phát triển ngành Cơ khí Việt Nam đến năm 2025, tầm nhìn đến năm 2035 với quan điểm cơ khí là ngành công nghiệp nền tảng, gắn kết sản xuất cơ khí với dịch vụ, thương mại, phát triển công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí chủ động tham gia sâu vào chuỗi giá trị, sản xuất công nghiệp thế giới. Kiến tạo thị trường cho doanh nghiệp cơ khí và tự động hoá, từ đó thúc đẩy năng lực nội tại của doanh nghiệp, cải thiện vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Chiến lược đưa ra mục tiêu đến năm 2035, ngành gia công cơ khí Việt Nam được phát triển với đa số các chuyên ngành có công nghệ tiên tiến, chất lượng sản phẩm đạt tiêu chuẩn quốc tế, tham gia sâu hơn nữa vào chuỗi giá trị toàn cầu, sử dụng năng lượng tiết kiệm, hiệu quả, cạnh tranh bình đẳng trong hội nhập quốc tế; đội ngũ lao động chuyên nghiệp, có kỷ luật và có năng suất cao, chủ động trong các khâu nghiên cứu, thiết kế, chế tạo sản phẩm cơ khí, cơ bản đáp ứng nhu cầu sản phẩm cơ khí của thị trường trong nước. Đến năm 2030, sản lượng xuất khẩu đạt 40% tổng sản lượng ngành cơ khí, đến năm 2035 đạt 45%.

Theo đó, mục tiêu cụ thể, đến năm 2025, tập trung phát triển một số phân ngành cơ khí ô tô, máy kéo, máy nông nghiệp, thiết bị công trình, thiết bị công nghiệp và thiết bị điện, có khả năng đáp ứng cơ bản các yêu cầu của nền kinh tế và một phần xuất khẩu; đội ngũ lao động ngành cơ khí cơ bản có đủ trình độ đáp ứng nhu cầu của nền sản xuất hiện đại. Sau năm 2025, hình thành một số tổ hợp nhà thầu tư vấn và chế tạo có khả năng làm chủ công tác thiết kế, chế tạo nhóm thiết bị phụ, gói thầu EPC của các công trình công nghiệp; Tập trung hỗ trợ một số doanh nghiệp trong nước có tiềm năng trở thành các tập đoàn mạnh trong khu vực trong lĩnh vực chế tạo như: Ô tô, máy nông nghiệp và thiết bị điện; Hình thành hệ thống doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ ngành cơ khí đạt tiêu chuẩn nhà cung cấp trực tiếp cho các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm hoàn chỉnh, chủ động tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu, với đối tượng doanh nghiệp vừa và nhỏ chiếm vai trò chủ đạo.

Chiến lược cũng đã đưa ra giải pháp thực hiện các mục tiêu như:

Một là, tập trung phát triển một số loại vật liệu cơ bản phục vụ ngành cơ khí, nhằm tận dụng lợi thế so sánh về nguồn khoáng sản trong nước với trình độ công nghệ tiên tiến, có tính cạnh tranh cao và thân thiện với môi trường.

Hai là, tạo lập thị trường ở các phân ngành đã chọn, tạo tiền đề cho ngành cơ khí làm chủ công nghệ và nâng cao khả năng chế tạo. Ban hành các chế tài để bảo hộ hàng trong nước đã sản xuất được, phù hợp cam kết quốc tế.

Ba là, thu hút các tập đoàn chế tạo đa quốc gia có tiềm lực và thương hiệu với các ưu đãi có sức hấp dẫn nhằm thực hiện chính sách hỗ trợ đầu tư có trọng tâm, trọng điểm; đồng thời, chú trọng xúc tiến đầu tư đối với doanh nghiệp nhỏ và vừa, nhất là trong lĩnh vực công nghiệp hỗ trợ, theo hướng chọn lọc các dự án có chất lượng, có giá trị gia tăng cao, sử dụng công nghệ hiện đại, thân thiện với môi trường.

Bốn là, Nhà nước có chính sách hỗ trợ doanh nghiệp mua thiết kế, công nghệ, đổi mới công nghệ, thiết bị sản xuất, áp dụng công nghệ và mô hình quản lý sản xuất tiên tiến để nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng, tài nguyên đầu vào, nâng cao năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm cơ khí; đa dạng hóa và khác biệt hóa sản phẩm. Hỗ trợ xây dựng và phát triển thương hiệu sản phẩm hoặc hỗ trợ mua sát nhập các doanh nghiệp toàn cầu có thương hiệu, bao gồm cả Phần R&D để rút ngắn quá trình phát triển.

Năm là, Nhà nước ưu tiên đầu tư nâng cấp các cơ sở đào tạo ngành gia công cơ khí, gắn đào tạo với thực hành; hỗ trợ kinh phí cử cán bộ, công nhân giỏi đi đào tạo và thực tập tại nước ngoài theo các Chương trình, dự án được phê duyệt, từng bước xây dựng lực lượng tổng công trình sư và kỹ sư trưởng.

Sáu là, Nhà nước có cơ chế về lãi suất tín dụng để đầu tư và thời hạn vay vốn lưu động cho các nhà sản xuất thiết bị cơ khí có dung lượng thị trường đủ lớn.

Bảy là, xây dựng hệ thống thông tin ngành cơ khí để làm cơ sở dữ liệu cho cơ quan quản lý nhà nước và doanh nghiệp dùng chung;

Tám là, thúc đẩy và phát huy vai trò các hiệp hội ngành nghề trong việc liên kết các doanh nghiệp trong ngành cơ khí, khắc phục tình trạng chia cắt và phân tán trong ngành cơ khí./.

 

2024-01-10 / by / in
Ba nhà sản xuất Động cơ điện lớn nhất trên thế giới

Có một câu nói nổi tiếng luôn đúng trong mọi lĩnh vực kinh doanh, đó là “hãy cạnh tranh về chi phí, đừng bao giờ cạnh tranh về giá.”

Chính vì vậy, trong dây chuyền nghiền đá xây dựng, việc lựa chọn công nghệ của thiết bị nghiền đá, cụ thể là bài toán về điện năng tiêu thụ, chi phí vật tư tiêu hao, chi phí nhân công hợp lý phù hợp sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực cạnh tranh trên thị trường.

Bài viết sẻ đi sâu nghiên cứu về 3 đơn vị sản xuất động cơ điện nổi tiếng trên thế giới hiện nay, là cơ sở và mấu chốt của vấn đề cắt giảm chi phí tiêu hao điện năng trong dây chuyền nghiền đá xây dựng.

Một nghiên cứu cho thấy, chi phí điện năng tiêu thụ hằng năm của một động cơ điện trong dây chuyền nghiền đá tương đương bảy lần giá trị đầu tư ban đầu. Nếu giải quyết được vấn đề động cơ vận hành không hiệu quả (non tải hoặc vận hành khi không cần thiết), có thể tiết kiệm 30% tổng điện năng tiêu thụ của động cơ.

1. Động cơ điện WEG: (động cơ số 1 trên thế giới về hiệu năng và độ bền)

WEG là một công ty Brazil, hoạt động trên toàn thế giới trong lĩnh vực công nghệ điện năng, năng lượng và công nghệ tự động hóa. WEG Có trụ sở tại Jaraguá do Sul, Brazil – là công ty sản xuất động cơ điện, máy phát điện, máy biến thế, ổ đĩa và lớp phủ. WEG có hoạt động tại khoảng 100 quốc gia, với khoảng 31.000 nhân viên và kỹ sư cũng như chuyên gia đầu ngành trong lĩnh vực sản xuất chế tạo cơ khí. Hiện nay, động cơ của WEG được sử dụng cho các dòng máy nghiền hàm và côn nổi tiếng trên thế giới như Superior, Mclanahan, SRH và Sandvik..

Động cơ điện WEG và ưu điểm

  • Hiệu quả cao

  • Dải điện áp làm việc rộng

  • Cuộn dây đáng tin cậy

  • Động cơ WEG cho cấp hiệu suất EU

  • Bạc đạn với khả năng chịu tải cao

  • Chống ăn mòn mạnh

  • Độ ồn thấp

  • Bảo vệ các cuộn dây phụ

  • Khung kín hoàn toàn, quạt làm mát IP55

  • Hướng cáp vào linh động

  • Dễ dàng thay thế động cơ.

Với nhưng ưu thế vượt trội của WEG so với các dòng động cơ điện khác, WEG được lựa chọn ứng dụng vào ngành công nghiệp nghiền sàng, cụ thể là máy vo đá thiết bị cần động cơ hoạt động bền bỉ, đạt tốc độ quay của rotor cao nhất, đồng thời tiết kiệm điện năng hơn 30% so với các nhà sản xuất khác trên thị trường.

Nhược điểm: giá thành rất cao, đa số được trang bị cho các chi tiết mang tính chất quan trọng

2. Siemens là đơn vị cung ứng động cơ điện lớn nhất của Đức và châu Âu, sở hữu hội sở ở Berlin và Munchen

Là một trong những tập đoàn chế tác sản xuất thiết bị điện tự động, điện tử, động cơ điện Siemens mang khoảng 343.000 viên chức từ 200 quốc gia mang doanh thu hơn 100 tỉ USD mỗi năm. Chỉ tính riêng động cơ điện, Siemens sở hữu hàng trăm loại động cơ điện cao cấp phức tạp chưa đưa vào sử dụng tại Việt Nam.

Tập đoàn Siemens như một gã đồ sộ của ngành sản xuất và cung ứng động cơ điện, sở hữu những tính năng hiện đại, ưu việt, kinh tế nhất và an toàn điện luôn là ưu tiên bậc nhất. Ngoại giả, ko cần tất cả nhà máy Việt Nam đều sở hữu thể sử dụng các vận dụng động cơ điện của hãng rẻ nhất này.

Ưu điểm động cơ siemens:

– Là motor điện thuộc top 3 trên toàn thế giới về thương hiệu cũng như danh tiếng

– Độ lớn: hiện nay Siemens là tập đoàn chế tạo sản xuất thiết bị điện tự động, thiết bị máy CNC, robot hóa, điện tử, điện cơ Siemens đang có khoảng 343 500 nhân viên đến từ 200 quốc gia. Với doanh thu hơn 100 tỉ USD đã giúp cho Siemens trở thành một trong những sản xuất động cơ tầm cỡ Thế Giới.

– Nhiều chủng loại: động cơ điện Siemens có hàng trăm loại motor cao cấp, phức tạp như sevor, step motor hoặc động cơ đa tốc độ (nhiều cấp tốc độ). Tuy nhiên, motor điện tần số cao cho hàng không vẫn chưa đưa vào sử dụng tại Việt Nam. Động cơ điện Siemens được ứng dụng rộng rãi trong cách ngành công nghiệp nặng đặc biệt là nghiền sàng, giúp cho động cơ hoạt động bền bỉ và hiệu quả, giúp tiết kiệm điện năng tối đa.

Yếu điểm động cơ hãng Siemens :

– Giá motor của Siemens cao hơn gấp 2.2 – 2.5 lần các motor thông thường tại Việt Nam là một rào chắn lớn với người các nhà đầu tư nếu muốn sử dụng đại trà trong kho xưởng nhà máy của mình.

– Với đơn hàng có nhiều KW công suất khác biệt, thời gian giao hàng rất lâu: một là nhập từ Châu Âu chờ hơn 3 tháng.

3. Động cơ TECO-WESTINGHOUSE- trụ sở chính tại Round Rock, Texas, Mỹ.

Được thành lập tại Mỹ, hiện nay TECO-WESTINGHOUSE đã có 5 nhà máy trên thế giới với hơn 10 văn phòng đại diện tại rất nhiều nơi trên thế giới, trong đó chủ đạo là Mỹ và Mexico.

Đến nay TECO-WESTINGHOUSE đã cho ra đời các dòng sản phẩm động cơ điện, motor điện Teco IE1, IE2, IE3. Đây là những động cơ có hiệu suất rất cao, lên đến 99,8%. Sản phẩm động cơ điện TECO-WESTINGHOUSE được sản xuất trên dây chuyền hiện đại nhất thế giới cho ra những sản phẩm đạt độ chính xác gần như tuyệt đối.

Động cơ điện TECO-WESTINGHOUSE hiện nay đang sử dụng bạc đạn vòng bi Nhật hoặc Đức, phần dây đồng của Motor Điện Teco được bảo vệ bởi lớp giấy cách điện mạnh và vải dây đai dày hơn các động cơ thông thường, dây đồng có cấp chịu nhiệt tới cấp F và phủ lớp cách điện cao cấp y như các sản phẩm tại Úc, Nga, Mỹ, Italia. Thân vỏ của Động Cơ Điện Teco luôn bền khỏe hơn các mô tơ khác trên thị trường. Hộp cực điện của mô tơ có khả năng chống ẩm cao. Hệ số bảo vệ ip55 bên trong hộp cực có rơ le chống nhiệt độ cao, chống vận hành quá tải.

Hiện nay các hãng máy nghiền đá nổi tiếng trên thế giới cũng sử dụng động cơ TECO-WESTINGHOUSE ở một số vị trí trong dây chuyền như sàng rung thành phẩm, cấp liệu cho hiệu quả khá cao.

2024-01-09 / by / in
Năm 2024, ngành dệt may mặc phụ liệu đặt mục tiêu xuất khẩu 44 tỷ USD

Bước sang năm 2024, dự báo nền kinh tế thế giới còn nhiều khó khăn, thách thức, song ngành dệt may Việt Nam vẫn quyết tâm đạt mục tiêu kim ngạch xuất khẩu 44 tỷ USD, tăng 9,2% so với 2023…

Tại hội nghị “Tổng kết Hiệp hội Dệt may Việt Nam 2023”, ông Vũ Đức Giang, Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam (Vitas), cho rằng đến thời điểm này, ngành may mặc phụ liệu cơ bản có sự thành công nhất định, với kim ngạch xuất khẩu đạt 40,3 tỷ USD. Với bài học kinh nghiệm thu hái được trong năm 2023, năm 2024 ngành dệt may Việt Nam phấn đấu đạt kim ngạch xuất khẩu 44 tỷ USD.

Năm 2023, doanh nghiệp đã phải bươn trải với áp lực về giá, chi phí, thời gian giao hàng ngắn và đảm bảo việc làm cho người lao động. Đồng thời, chịu tác động từ cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước, trong khi đó, cơ chế chính sách không theo kịp xu thế…

Trong bối cảnh khó khăn này, ngành đã thực hiện 3 giải pháp căn cơ. Đó là, liên kết chuỗi; đa dạng hoá thị trường, khách hàng, mặt hàng; thực hiện phát triển bền vững, xanh hoá, chuyển đổi số, quản trị số.

Vì thế, đến giờ này ngành dệt may cơ bản có sự thành công nhất định, đạt kim ngạch xuất khẩu 40,3 tỷ USD năm 2023. Năm 2024 ngành may mặc phụ liệu Việt Nam phấn đấu đạt mục tiêu kim ngạch xuất khẩu 44 tỷ USD, tăng 9,2% so với 2023.

Theo ông Trương Văn Cẩm, Phó Chủ tịch Hiệp hội Dệt may Việt Nam, trong thời gian tới ngành dệt may có nhiều cơ hội nhưng cũng nhiều thách thức buộc phải vượt qua.

Cơ hội hiện nay đó là nhu cầu thị trường với sản phẩm may mặc phụ liệu dự kiến sẽ cải thiện hơn năm 2023, do tình hình kinh tế tại các thị trường nhập khẩu dệt may lớn của Việt Nam đang có dấu hiệu phục hồi.

Cùng với đó, mặt bằng lãi suất cho vay tại Việt Nam hiện đã giảm đáng kể, giúp giảm sức ép chi phí lãi vay lên các doanh nghiệp. Bên cạnh đó, các chính sách hỗ trợ của Chính phủ hiện nay có thể được kéo dài trong năm 2024. Đặc biệt, Chiến lược phát triển ngành dệt may, da giày Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến 2035 đã được phê duyệt.

Nhưng thách thức với dệt may trong năm 2024 vẫn còn rất lớn. Ông Cẩm cho rằng ngành dệt may sẽ đối diện với hàng loạt những khó khăn từ áp dụng cơ chế EPR (trách nhiệm mở rộng của nhà sản xuất) và CBAM (cơ chế điều chỉnh biên giới carbon) cũng như Chiến lược “thời trang bền vững” thay cho “thời trang nhanh”, Chỉ thị tra soát chuỗi cung ứng của OECD của EU; Luật thẩm định chuỗi cung ứng của Đức…… Đạo luật chống lao động cưỡng bức của Mỹ (UFLPA) cho ngành sợi.

Mặt khác, tăng trưởng kinh tế thế giới trong 2 năm tới còn phụ thuộc vào nhiều yếu tố, trong đó tâm điểm là xung đột ở khu vực Trung Đông cùng những chính sách kiềm chế lạm phát của một số nước.

Theo TS. Cấn Văn Lực – Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV & Thành viên Hội đồng tư vấn Chính sách Tài chính – Tiền tệ Quốc gia, đơn hàng xuất khẩu còn giảm, dù đang bớt đi; chuỗi cung ứng còn rủi ro, chi phí đầu vào còn cao. Bên cạnh đó rủi ro nghĩa vụ trả nợ còn cao, rủi ro lãi suất, tỷ giá giảm. Xu hướng chuyển đổi số, kinh doanh tuần hoàn diễn ra nhanh… là những vấn đề đặt ra với dệt may thời gian tới.

Do đó, để đáp ứng các yêu cầu này, ông Trương Văn Cẩm nêu định hướng, từ nay đến 2030, ngành may mặc phụ liệu chuyển dần từ trọng tâm phát triển nhanh sang trọng tâm phát triển bền vững, kinh doanh tuần hoàn.

Trong đó, đẩy mạnh mô hình phát triển bền vững (PPP- People, Profit, Planet). Cụ thể, đáp ứng nhu cầu lao động, cải thiện điều kiện làm việc, thu nhập, quan hệ lao động hài hoà; quản trị rủi ro, đa dạng nguồn nguyên phụ liệu và thị trường xuất khẩu, cắt giảm chi phí, tăng trưởng và có lãi; giảm rác thải, xử lý và tái sử dụng nước, năng lượng tái tạo, tái chế, tái sử dụng.

Từ 2031 – 2035, phát triển hiệu quả, bền vững theo mô hình kinh tế tuần hoàn. Hoàn thiện chuỗi giá trị trong nước và tham gia ở vị trí có giá trị cao trong chuỗi cung ứng toàn cầu. Xuất khẩu và tiêu thụ trong nước bằng các thương hiệu riêng mang tầm khu vực và thế giới.

2024-01-08 / by / in
Công nghệ giúp doanh nghiệp phát triển và thúc đẩy ngành bao bì nhựa tái chế

Bên cạnh cơ sở hạ tầng phân loại và thu gom rác thải, công nghệ và các giải pháp đổi mới sáng tạo là yếu tố cần thiết để tạo điều kiện cho việc phát triển bao bì nhựa tái sinh, từ đó thúc đẩy ngành công nghiệp tái chế và nền kinh tế tuần hoàn vì môi trường.

Theo Ellen Macarthur Foundation, đến năm 2040, mô hình kinh tế tuần hoàn về nhựa có tiềm năng tạo ra nhiều kết quả tích cực, như giúp cắt giảm 80% lượng nhựa thải ra đại dương hàng năm, giảm 25% lượng khí thải nhà kính gây biến đổi khí hậu, giúp tiết kiệm lên đến 200 tỷ USD mỗi năm, và tạo thêm 700.000 việc làm mới.

Một trong những yếu tố thúc đẩy mô hình này chính là thu gom và tái chế rác thải nhựa, biến rác thải nhựa trở thành nguồn tài nguyên cho các hoạt động kinh tế, không còn tồn tại ngoài môi trường gây ô nhiễm.

Ngành công nghiệp tái chế tại Việt Nam có nguồn nguyên liệu phong phú nhưng chưa phát triển với tỷ lệ tái chế nhựa chỉ đạt mức 33%. Bên cạnh việc phân loại và thu gom rác thải nhựa chưa thực sự đồng bộ, một nguyên nhân khác là do nhu cầu về nhựa tái sinh (PCR) chưa cao khi việc sử dụng nhựa nguyên sinh luôn dễ dàng và chi phí thấp hơn.

Việc áp dụng PCR trong sản xuất bao bì mang lại nhiều thách thức nhất định. Việc chuyển sang vật liệu tái chế đòi hỏi doanh nghiệp phải nỗ lực đáng kể trong việc khôi phục chất lượng của nhựa đã qua sử dụng để đảm bảo về mặt thiết kế, màu sắc, hình dáng, chất lượng cho bao bì nhựa PCR.

Một thách thức khác mà doanh nghiệp thường gặp phải là nguồn cung PCR ổn định. Đồng thời, việc chuyển sang nhựa PCR sẽ đòi hỏi các thông số kỹ thuật và tiêu chuẩn mới cần được thiết lập.

Thậm chí những vấn đề tưởng như chỉ là tiểu tiết cũng đòi hỏi doanh nghiệp phải nghiên cứu và phát triển các giải pháp phù hợp. “Keo dùng để dán nhãn vào chai PCR cũng cần phải thay đổi để đảm bảo độ kết dính, hay thùng đựng sản phẩm cũng cần được thiết kế để đảm bảo chai sản phẩm không bị vỡ”, bà Nguyễn Thị Mai, Giám đốc ngành hàng chăm sóc gia đình chia sẻ.

Trước những thử thách này, công nghệ và đổi mới là chìa khóa giúp Unilever Việt Nam giải quyết các rào cản trong quá trình thúc đẩy sử dụng bao bì nhựa tái sinh trong sản xuất bao bì, góp phần giảm nhựa nguyên sinh và tăng cường vòng tuần hoàn của nhựa.

Đầu tiên, việc áp dụng khoa học – công nghệ giúp doanh nghiệp phát triển khả năng có thể tái chế của bao bì. Vậy nên bao bì sau khi đã qua sử dụng vẫn “sẵn sàng” cho quá trình tái chế về sau.

Tiếp đến, công nghệ giúp thúc đẩy sự đổi mới trong thiết kế bao bì nhựa tái sinh nâng cao hiệu suất và giúp giảm trọng lượng, cho phép Unilever Việt Nam cắt giảm lượng nhựa dư thừa không cần thiết.

Đồng thời, các phép đo và phương pháp phân tích mới cũng cần được phát triển nhờ vào công nghệ. Điều này giúp doanh nghiệp có thể kiểm tra chất lượng của bao bì được sản xuất từ nhựa tái sinh một cách nhanh chóng và hiệu quả.

Bên cạnh công nghệ của doanh nghiệp, Unilever Việt Nam còn cần phối hợp, tận dụng thế mạnh chuyên môn và công nghệ của đối tác trong chuỗi giá trị. Trong đó, Tái chế Duy Tân là đối tác đóng vai trò quan trọng cho sự phát triển bao bì tái sinh của Unilever.

Đến nay, bao bì chai của sản phẩm từ nhiều nhãn hàng của Unilever Việt Nam đã và đang áp dụng nhựa PCR. Điển hình như chai của các sản phẩm Sunlight, Lux và Love Beauty & Planet đạt 100% PCR; nhiều sản phẩm khác cũng đã áp dụng nhựa PCR trong bao bì như: Dove, Lifebuoy, Sunsilk, Comfort, OMO…

Với những thế mạnh về công nghệ của hai doanh nghiệp, hợp tác giữa Unilever Việt Nam và Tái chế Duy Tân sẽ tạo động lực to lớn giúp hoàn thiện mô hình kinh tế tuần hoàn trong quản lý rác thải nhựa của Unilever. Đây cũng là cơ hội để truyền cảm hứng cho các doanh nghiệp gia tăng sử dụng nhựa PCR trong sản xuất bao bì, đồng thời kì vọng có được sự hướng dẫn và hỗ trợ từ Chính phủ để mở ra thêm nhiều cơ hội phát triển cho ngành công nghiệp tái chế, từ đó đưa kinh tế tuần hoàn trở nên phổ biến rộng khắp trên toàn quốc.

2024-01-05 / by / in
Phân loại Thiết bị điện công nghiệp theo công năng sử dụng

Vật tư điện bao gồm thiết bị điện công nghiệp, thiết bị điện nước, thiết bị điện dân dụng,…. là những vật tư không thể thiếu trong quá trình thi công nhà và các công trình lớn.

Thiết bị ngành điện giúp truyền tải điện năng một cách an toàn cho thiết bị gia dụng, máy móc, hệ thống bao gồm công tắc, dây dẫn, cầu chỉ, tủ điện, công tơ điện, cầu dao, ống luồng dây,….

PHÂN LOẠI THIẾT BỊ ĐIỆN THEO CÔNG NĂNG SỬ DỤNG

1. Thiết bị điện công nghiệp

Thiết bị điện công nghiệp là những thiết bị được sử dụng trong ngành công nghiệp với công suất lớn và được sử dụng với nguồn năng lượng lớn.

Các thiết bị điện công nghiệp cụ thể như: Thiết bị Relay thông dụng, các thiết bị bù công suất phản kháng, thiết bị tự động, các thiết bị cảm biến, thiết bị biến dòng điện, các thiết bị phụ kiện tủ điện,…

Các thiết bị điện công nghiệp được sử dụng để phục vụ chủ yếu cho các nhà máy, xí nghiệp;… Thiết bị điện công nghiệp hỗ trợ cho quá trình sản xuất được diễn ra hiệu quả hơn như hút bụi, lọc không khí, điều hòa, thông gió, điện nước, máy móc hoạt động theo dây chuyền,…
Các thiết bị điện công nghiệp chất lượng cao sẽ giúp năng suất làm việc tăng cao, sản lượng doanh nghiệp tăng cao, giảm bớt chi phí, giảm bớt sức lao động của con người.

Chính vì thế nên giá thành sản phẩm của doanh nghiệp tạo ra sẽ giảm và thu hút được nhiều khách hàng hơn.

2. Thiết bị điện dân dụng

Thiết bị điện dân dụng được sử dụng để vận hành máy móc tự động hóa, các thiết bị điện gia dụng được ứng dụng vô cùng rộng rãi và phổ biến trong các hoạt động sinh hoạt hàng ngày và các hoạt động sản xuất kinh doanh.

Các thiết bị điện dân dụng: Rắc cắm, máy sấy tóc, đèn chiếu sáng, cáp điện, dây điện, công tắc, ổ cắm,… đều được gọi là thiết bị dân dụng.

Các thiết bị điện dân dụng được sử dụng dụng để đáp ứng tốt những tiện ích của con người trong cuộc sống của họ.

3. Thiết bị điện nước
Điện và nước là 2 nhu cầu không thể thiếu trong cuộc sống hiện nay nên sử dụng các thiết bị điện nước chất lượng cao, đảm bảo an toàn.

Thiết bị điện nước được sử dụng trong các công trình xây dựng với quy mô lớn như trung tâm thương mại, bệnh viện, trường học, nhà máy,… để đáp ứng tốt nhu cầu sinh hoạt và sản xuất.

 

2024-01-04 / by / in
Tổng quan về phương pháp gia công cơ khí CNC

Phương pháp gia công cơ khí CNC là bước tiến quan trọng trong ngành công nghiệp cơ khí. Thay vì sử dụng lao động, CNC sử dụng công nghệ máy tính để điều khiển các thiết bị công cụ, tạo ra quy trình sản xuất chính xác và tự động hóa.

CNC hoạt động dựa trên chương trình máy tính chứa lệnh và hướng dẫn cho quá trình gia công. Bộ điều khiển máy CNC chuyển các lệnh này thông qua cảm biến và encoder, điều khiển động cơ và bộ phận của máy để sản xuất với độ chính xác và đáng tin cậy.

Sự kết hợp giữa công nghệ điện tử và cơ khí tối ưu hóa quá trình sản xuất, mang lại lợi ích về chính xác, tốc độ gia công, tái tạo sản phẩm chính xác và giảm sự phụ thuộc vào lao động. CNC giúp sản xuất hàng loạt và theo yêu cầu trở nên hiệu quả, tin cậy và linh hoạt.

Phương pháp gia công cơ khí CNC là sự kết hợp tinh tế giữa trí tuệ nhân tạo và sức mạnh của máy móc, đóng góp tích cực vào sự phát triển của ngành công nghiệp và sản xuất hiện đại.

Về ưu điểm khi sử dụng phương pháp gia công cơ khí CNC

  • Độ chính xác cao: Sử dụng máy tính và cảm biến, CNC đạt độ chính xác rất cao, thường chỉ sai số trong khoảng vài micromet, tăng độ tin cậy và chất lượng của sản phẩm.
  • Tốc độ gia công nhanh: Không cần lao động thủ công, thay vào đó là sự điều khiển bởi máy tính và động cơ, giúp tăng tốc độ sản xuất cũng như hiệu quả trong quy trình gia công.
  • Khả năng sản xuất hàng loạt: Các chương trình lập trình trước có thể được áp dụng để sản xuất hàng loạt các sản phẩm giống nhau một cách nhanh chóng và chính xác, giảm thiểu sai sót trong sản xuất.
  • Linh hoạt trong thiết kế: Sự hỗ trợ của máy tính cho phép thay đổi và điều chỉnh thiết kế cũng như lập trình dễ dàng, linh hoạt theo yêu cầu cụ thể của sản phẩm, giúp tối ưu hóa quá trình sản xuất.

Về những bất cập khi gia công cơ khí CNC

  • Chi phí đầu tư ban đầu cao: Máy móc và thiết bị gia công cơ khí CNC có chi phí đầu tư ban đầu cao hơn so với máy công cụ truyền thống. Điều này bắt nguồn từ yêu cầu về các thiết bị chính xác, tự động hóa và công nghệ cao.
  • Yêu cầu kỹ thuật cao: Vận hành và lập trình máy CNC đòi hỏi kiến thức chuyên môn sâu rộng và kỹ năng lập trình tốt. Điều này tạo ra ngưỡng cửa cao cho những người lao động muốn tham gia hoặc doanh nghiệp muốn chuyển từ gia công truyền thống sang CNC.
  • Không thích hợp cho sản phẩm đơn giản: Trong trường hợp sản phẩm không yêu cầu độ chính xác cao và đơn giản, việc sử dụng gia công cơ khí CNC có thể không hiệu quả. Gia công truyền thống có thể mang lại kết quả kinh tế tốt hơn và phù hợp hơn với sản phẩm này.
2024-01-03 / by / in
Băng dán vải công nghiệp và ưu thế riêng biệt của băng dán vải

Băng dán vải công nghiệp hay băng keo vải thực chất cũng là một loại băng keo nhưng lại có khả năng kết dính tốt hơn. Băng keo vải ngày càng đóng vai trò quan trọng trong ngành công nghiệp dán thùng, bảo quản sản phẩm.

BĂNG KEO VẢI LÀ LOẠI GÌ?

Là loại băng dán được sản xuất từ sợi vải công nghiệp, bên trong được quét một lớp keo. Bên ngoài của mặt băng dính vải được thiết kế bóng nhẵn rất đẹp. Nói về băng dán vải công nghiệp thì có rất nhiều mẫu mã quy cách, màu sắc chúng được sản xuất với màu sắc đa dạng như: xanh lá cây, đỏ, vàng, tím, cam, xám, xanh dương, trắng sữa…Đặc điểm này nên chúng khá giống với băng keo màu.

Do đặc thù của sản phẩm có chất liệu khác hẳn với những loại băng keo còn lại nên sản phẩm này không thể thay thế được.

CẤU TẠO CỦA BĂNG KEO VẢI 

Băng dán vải công nghiệp cũng gần giống như băng keo trong nhưng thay vì dùng lớp OPP thì người ta dùng vải công nghiệp để làm phần lớp nền. Băng keo vải có cấu tạo gồm 4 phần chính:

–  Lớp phủ: Ở trên cùng có tác dụng tạo độ tương phản về màu sắc, chống lại hóa chất, độ ẩm

–  Lớp nhựa: Có tác dụng bảo vệ lớp vải bên trong

–  Lớp vải: Là phần nền quan trọng ở dạng lưới, giữ độ bền cho băng keo và nhiều tính năng khác

–  Lớp keo: Kết dính lớp vải và bề mặt dính, ngăn cản các tác nhân bên ngoài xâm nhập vào bề mặt

ƯU THẾ RIÊNG BIỆT CỦA BĂNG KEO VẢI

Tuy cũng là một loại băng dính nhưng băng dán vải công nghiệp lại có nhiều ưu thế nổi bật riêng biệt khác với cái loại băng keo thông thường. Điều này cũng một phần tạo nên sức hút của sản phẩm.

– Do được làm từ chất liệu chủ yếu là vải nên các sản phẩm băng keo vải thường có độ bền, độ dai cũng như khả năng chịu lực tốt hơn rất nhiều so với nhiều sản phẩm cùng loại.

– Băng keo vải có độ dày gấp khoảng 5 lần so với loại băng dính OPP thông thường. Độ dày của lớp nền thường là 130-140 microns, lớp keo có độ dày lên đến 90-94 microns. Đây là sản phẩm thích hợp để đóng và cố định các mặt hàng có trọng lượng nặng.

– Chất liệu vải nên cho phé người dùng có thể kéo dãn, hay uốn cong ở những vị trí góc cạnh, mép tùy theo những mục đích sử dụng.

– Có khả năng chịu nhiệt chống tia UV tốt hơn hẳn so với băng keo OPP thậm chí lên đến 85 độ C và chống lại những ảnh hưởng của thời tiết trong thời gian lớn.

– Khả năng cách điện, cũng như chống chịu trước các tác động của môi trường tốt.

– Có thể chống nước, chống ẩm nên thường được sử dụng để cuốn ngoài các đường dây điện truyền dẫn.

– Màu sắc đa dạng, bắt mắt với độ bền màu cao.

2024-01-02 / by / in