Thêm kết quả...

Dụng cụ điện cầm tay truyền động bằng động cơ được sửa chữa và bảo dưỡng như thế nào theo quy định?

Dụng cụ điện cầm tay truyền động bằng động cơ được sửa chữa và bảo dưỡng như thế nào?

Theo đó, dụng cụ điện cầm tay truyền động bằng động cơ được sửa chữa và bảo dưỡng như sau:

– Người sử dụng dụng cụ điện cầm tay phải thường xuyên kiểm tra, bảo dưỡng và thống kê các công việc máy đã làm.

Nếu bị hỏng thì phải sửa chữa dụng cụ điện cầm tay trước khi sử dụng, dụng cụ phải được vệ sinh sạch sẽ sau khi sử dụng.

Sau khi sửa chữa mỗi dụng cụ phải được thử lại theo tiêu chuẩn tương ứng của bộ TCVN 7996 phần 2 (IEC 60745-2).

– Dụng cụ điện cầm tay phải được bảo trì bởi người sửa chữa đã qua đào tạo và chỉ sử dụng các bộ phận thay thế tương tự.

Dụng cụ điện cầm tay truyền động bằng động cơ phải đảm bảo an toàn đối với các nguy hiểm cơ học như thế nào?

Theo đó, dụng cụ điện cầm tay truyền động bằng động cơ phải đảm bảo an toàn đối với các nguy hiểm cơ học được nêu rõ ở sau:

Cấm sử dụng chất kích thích trong khi vận hành dụng cụ điện cầm tay.

Sử dụng trang bị phương tiện bảo vệ cá nhân thích hợp khi vận hành dụng cụ điện cầm tay như mặt nạ chống bụi, giầy an toàn chống trơn trượt, mũ cứng, phương tiện bảo vệ thính giác, kính bảo vệ mắt.

Chú ý ngăn ngừa khởi động dụng cụ điện cầm tay không chủ ý. Phải đảm bảo rằng cơ cấu cắt đã ở vị trí cắt trước khi nối với nguồn điện để sử dụng.

Phải đảm bảo tất cả các chìa vặn hoặc dụng cụ sửa chữa đã được bỏ ra khỏi dụng cụ điện cầm tay trước khi cho nó hoạt động.

Không với quá xa khi sử dụng dụng cụ điện cầm tay. Giữ thân người luôn ở tư thế cân bằng khi thao tác ở mọi thời điểm.

Nếu thiết bị có trang bị để nối với cơ cấu hút bụi và phương tiện gom bụi thì phải đảm bảo rằng chúng được nối và sử dụng đúng.

Với các dụng cụ điện cầm tay có khối lượng lớn hơn 10kg, phải trang bị cơ cấu để nâng, treo dụng cụ khi làm việc.

Không gò ép dụng cụ điện cầm tay hoạt động không đúng công dụng. Sử dụng đúng dụng cụ điện cầm tay cho từng công việc.

Không sử dụng dụng cụ điện cầm tay nếu cơ cấu đóng cắt không bật và tắt nguồn được

Cắt nguồn điện trước khi tiến hành điều chỉnh, thay thế phụ kiện, tạm ngừng công việc hoặc cất giữ dụng cụ điện cầm tay.

Cất dụng cụ điện cầm tay ở xa tầm với của trẻ em, không để người chưa được huấn luyện về an toàn đối với dụng cụ điện cầm tay vận hành dụng cụ.

Chỉ sử dụng dụng cụ điện cầm tay, phụ kiện và các chi tiết của dụng cụ cho các công việc phù hợp với chức năng của dụng cụ và theo hướng dẫn của nhà sản xuất, có tính đến điều kiện làm việc và công việc cần thực hiện.

Khi sử dụng dụng cụ điện cầm tay, phải chú ý tới cả những yêu cầu nêu trong chỉ dẫn sử dụng dụng cụ, giữ gìn dụng cụ cẩn thận, không để dụng cụ bị va đập, quá tải hoặc bị tác động của bụi bẩn, dầu mỡ, không để nước nhỏ giọt, nước mưa hoặc chất lỏng khác bắn vào các dụng cụ không có bảo vệ chống ẩm.

 

2023-12-07 / by / in
Xuất khẩu sản phẩm nhựa Việt Nam giảm đều, trừ thị trường Trung Quốc

Trong các thị trường lớn của sản phẩm nhựa Việt Nam, chỉ có xuất khẩu sang Trung Quốc tăng trong 9 tháng đầu năm 2023.

Tại Triển lãm quốc tế về máy móc và thiết bị công nghiệp ngành sản phẩm nhựa và cao su (VietnamPlas) năm 2023 ngày 18-10, ông Hồ Đức Lam – chủ tịch Hiệp hội Nhựa Việt Nam – cho biết khó khăn kinh tế khiến xuất khẩu sản phẩm nhựa Việt Nam sang các thị trường lớn trong 9 tháng của năm 2023 hầu hết giảm so với cùng kỳ năm 2022.

Đáng chú ý trong các thị trường lớn của sản phẩm nhựa Việt Nam chỉ có kim ngạch xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc tăng.

“Các tháng cuối năm 2023, nền kinh tế thế giới chưa có nhiều khởi sắc như kỳ vọng, khó khăn dẫn đến tiêu thụ sản phẩm nhựa tiếp tục sụt giảm ở các thị trường, nhưng so với tháng trước, thị trường đã có sự hồi phục”, ông Lam nhìn nhận.

VietnamPlas 2023 ghi nhận hiện tượng tăng gấp đôi về số lượng gian hàng cũng như diện tích triển lãm so với năm ngoái, trong đó chủ yếu là doanh nghiệp đến từ Trung Quốc.

Đại diện Hiệp hội Nhựa Việt Nam cho biết sau hơn 20 năm kiên trì và nỗ lực, VietnamPlas đã thành công khi kêu gọi được nhiều nhà sản xuất quốc tế, nhà cung ứng phụ gia, phụ liệu trong ngành sản phẩm nhựa đến Việt Nam để trưng bày, giới thiệu sản phẩm mới nhất của ngành.

Năm nay triển lãm mở cửa từ ngày 18 đến 21-10 tại TP.HCM.

Những máy móc hiện đại nhất từ các doanh nghiệp hàng đầu trong ngành đều được đem đến đây triển lãm.

VietnamPlas 2023 thu hút sự tham gia của hơn 625 đơn vị triển lãm, với số lượng gian hàng ấn tượng hơn 1.100 gian tham gia đến từ 22 quốc gia và vùng lãnh thổ như Úc, Bangladesh, Brazil, Campuchia, Trung Quốc, Cộng hòa Czech, Pháp, Hong Kong, Ấn Độ, Indonesia, Iran, Ý, Nhật Bản, Malaysia, Nga…

Triển lãm có tổng diện tích trên 23.000m2, tăng gấp đôi về số lượng gian hàng cũng như diện tích triển lãm so với năm 2022. Điều này cho thấy thị trường ngành nhựa và cao su Việt Nam đầy tiềm năng và có tốc độ phát triển rất nhanh.

Bà Judy Wang – chủ tịch Yorkers, trưởng ban tổ chức – cho biết ngành nhựa và cao su Việt Nam đang có tốc độ tăng trưởng hằng năm đáng chú ý, với tỉ lệ tăng trưởng hằng năm (CAGR) đáng kể là 8%.

 

2023-12-06 / by / in
Công nghiệp sản xuất bao bì Việt Nam hướng tới phát triển bền vững

Với hơn 14.000 doanh nghiệp, ngành công nghiệp bao bì Việt Nam có tốc độ tăng trưởng khá cao và ổn định. Dù vậy, ngành này cũng gặp phải những thách thức trong việc đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế bền vững…

Tác động bởi đại dịch Covid-19 đã tạo ra thói quen tiêu dùng ưu tiên sự tiện lợi, đây cũng chính là một trong những yếu tố thúc đẩy sự phát triển của thương mại điện tử, làm gia tăng lượng chất thải ngành hàng tiêu dùng nhanh (FMCG).

Theo báo cáo Chỉ số thương mại điện tử Việt Nam – EBI năm 2023, tốc độ tăng trưởng thương mại điện tử năm 2023 sẽ vượt trên 25% và đạt quy mô hơn 20 tỷ USD. Trái ngược với những biến động trong suy thoái thế giới, Việt Nam tiếp tục là một trong những quốc gia có nền thương mại điện tử phát triển nhanh nhất khu vực châu Á.

Theo ông BT Tee, Tổng Giám đốc Công ty Informa Markets Việt Nam, trong những năm qua, ngành chế biến, đóng gói thực phẩm và đồ uống đã phát triển mạnh mẽ nhờ sự phát triển nhanh chóng của thương mại điện tử, các ứng dụng giao hàng, cùng các hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam đã tham gia.

Bên cạnh lợi ích kinh tế, sự phát triển này đặt ra nhu cầu cấp bách về việc bảo vệ tài nguyên và môi trường, Việt Nam đang đối mặt với thách thức phải xử lý lượng rác thải ngành hàng tiêu dùng nhanh gia tăng đột biến.

“Nhiều nhà sản xuất bao bì đang nỗ lực mạnh mẽ để sáng chế ra các công nghiệp, vật liệu và thiết kế mới tạo ít chất thải hơn, có khả năng tái chế cao, giá thành thấp và quy trình đơn giản hơn”, ông BT Tee cho biết thêm.

Hiện nay, bao bì là một trong những ngành công nghiệp quan trọng trong việc bảo quản, vận chuyển và phân phối hàng hóa. Theo dự báo của Market Research Future, tốc độ tăng trưởng kép hằng năm (CAGR) cho thị trường toàn cầu của bao bì nhựa là 3,6%, bao bì giấy là 4,7% trong giai đoạn 2023 – 2030.

Về thị trường sản xuất bao bì nhựa Việt Nam, theo Mordor Intelligence dự kiến sẽ tăng từ 10,07 triệu tấn vào năm 2023 lên 15,09 triệu tấn vào năm 2028, với mức tăng trưởng hàng năm trung bình đạt 8,44% (2023 – 2028).

Trong đó, bao bì giấy dự kiến đạt mức tăng trưởng đáng kể, từ 2,37 tỷ USD vào năm 2023 lên 3,77 tỷ USD vào năm 2028, với mức CAGR là 9,73%. Đồng thời, bao bì cho ngành thực phẩm, đồ uống tiếp tục chiếm thị phần đáng kể.

Ông Nguyễn Ngọc Sang, Chủ tịch Hiệp hội Bao bì Việt Nam, cho biết nhìn chung công nghiệp bao bì Việt Nam có tốc độ tăng trưởng khá cao và ổn định, trong giai đoạn 2015-2020 tốc độ tăng trưởng bình quân là 13,4%/năm.

Thống kê từ Hiệp hội Bao bì Việt Nam cho thấy, Việt Nam hiện có khoảng 14.000 doanh nghiệp bao bì. Trong đó, bao bì giấy khoảng 4.500 doanh nghiệp và bao bì nhựa khoảng 9.200 doanh nghiệp.

“Tương lai công nghiệp sản xuất bao bì sẽ còn phát triển cùng với sự phát triển của kinh tế Việt Nam, chính vì vậy công nghiệp bao bì cũng là ngành hấp dẫn nguồn vốn đầu tư từ nhiều quốc gia”, ông Sang nhấn mạnh.

Dù vậy, ông Sang cũng nhận định ngành công nghiệp sản xuất bao bì Việt Nam cũng đối đầu nhiều thách thức, cần phải tăng sức cạnh tranh bằng quản lý hiệu quả, thực hiện chuyển đổi số, xây dựng công nghiệp bao bì thành ngành công nghiệp xanh đáp ứng yêu cầu của nền kinh tế bền vững.

Trong bối cảnh đó, triển lãm quốc tế lần thứ 16 về “Công nghệ xử lý, Chế biến, Đóng gói bao bì tại Việt Nam – ProPak Vietnam 2023” do Công ty Informa Markets Việt Nam tổ chức sẽ được diễn ra từ ngày 08 – 10/11/2023 tại Trung tâm hội chợ và triển lãm Sài Gòn (SECC), TP.HCM.

Tại triển lãm, khách tham quan, doanh nghiệp sẽ được khám phá các máy móc vận hành cỡ lớn, trải nghiệm các vật liệu bao bì mới, tiếp cận công nghệ, ý tưởng sáng tạo kỹ thuật từ khắp nơi trên thế giới.

Bên cạnh đó, doanh nghiệp sẽ có cơ hội đổi cùng nhiều chuyên gia hàng đầu trong ngành, tìm kiếm nhà cung cấp tiềm năng. Từ đó nâng cao chất lượng ngành công nghiệp bao bì Việt Nam, góp phần thúc đẩy nền kinh tế xanh, bền vững.

Với diện tích trưng bày lên đến 10,000m2, ProPak Vietnam 2023 đón hơn 400 đơn vị trưng bày đến từ 30 quốc gia và vùng lãnh thổ. Đa phần nhà trưng bày đến từ các quốc gia phát triển như Hoa Kỳ, Vương quốc Anh, Pháp, Đức, Ý, Đan Mạch, Ba Lan, Hà Lan, Úc, Áo, Bỉ, Nhật Bản, Hàn Quốc, Singapore, Trung Quốc, Đài Loan (Trung Quốc), Hong Kong (Trung Quốc) và nhiều quốc gia khác.

2023-12-05 / by / in
10 ví dụ về động cơ điện trong gia đình chúng ta hiện nay
Động cơ điện được sử dụng rất nhiều trong các lĩnh vực cuộc sống, từ dân dụng tới công nghiệp. Bạn có nhìn thấy các động cơ điện được sử dụng trong nhà mình không?

Động cơ điện là gì?

Động cơ điện là một máy móc biến đổi năng lượng điện thành năng lượng cơ học. Đồng thời, tiêu thụ năng lượng điện và cung cấp năng lượng cơ học dưới dạng quay.

Ví dụ, quạt điện bao gồm một động cơ, lấy năng lượng điện từ nguồn điện và cung cấp động năng (cơ năng) dưới dạng luồng không khí. Trong quá trình biến đổi, một lượng nhỏ năng lượng điện bị mất dưới dạng nhiệt.

Động cơ điện có 2 phần chính là phần đứng yên (stator) và phần chuyển động (rotor) được quấn nhiều vòng dây dẫn hay có nam châm vĩnh cửu. Khi cuộn dây trên rotor và stator được nối với nguồn điện, xung quanh nó tồn tại các từ trường.

Sự tương tác giữa hai từ trường, một được tạo ra bởi nam châm ở stator và một được tạo ra bởi nam châm ở rotor, dẫn đến kết quả chuyển động quay của rotor quanh trục động cơ.

10 ví dụ về động cơ điện trong gia đình

Động cơ điện dù phân thành nhiều loại khác nhau, dựa vào nguồn điện cung cấp hay công nghệ nhưng chúng đều được ứng dụng rất nhiều trong đời sống hằng ngày. Sau đây là 10 ví dụ về ứng dụng động cơ điện sử dụng trong gia đình.

1. Quạt điện. Khi gắn phích cắm quạt điện vào ổ cắm điện, dòng điện làm cho động cơ điện quay, dẫn tới cánh quạt quay, tạo ra hiệu ứng làm mát.

2. Máy xay sinh tố. Khi được cấp điện, động cơ của máy xay sẽ làm trục quay và truyền chuyển động đến phần lưỡi dao để cắt và nghiền nhỏ thực phẩm.

3. Máy giặt. Máy giặt cần một động cơ công suất lớn để thực hiện quay lồng giặt, làm sạch quần áo. Đối với máy lồng đôi có lồng giặt và lồng sấy quay thì cần có hai động cơ.

4. Máy hút bụi. Khi bật điện, động cơ điện dẫn động một chiếc quạt gây ra sự thay đổi áp suất, tạo ra lực hút để hút bụi bẩn trên sàn và thảm.

5. Máy sấy tóc. Khi máy sấy tóc kết nối với nguồn điện, động cơ điện làm quay bộ phận quạt, tạo ra lực hút lấy không khí từ bên ngoài vào trong máy. Không khí hút vào, đi qua dây maiso tạo ra luồng gió có nhiệt nóng.

6. Máy rửa bát. Động cơ điện trong máy rửa bát có tác dụng bơm nước, tạo áp lực để làm sạch bát, đĩa trong máy rửa bát của bạn.

7. Máy bơm nước. Máy bơm nước gồm hai phần chính là động cơ điện và đầu bơm. Khi được cấp điện, động cơ điện hoạt động giúp máy bơm hút, tạo ra dòng chảy liên tục giúp vận chuyển nước.

8. Lò vi sóng. Động cơ điện rất nhỏ trong lò vi sóng, giúp xoay chầm chậm bàn xoay đặt thức ăn khi lò vi sóng bắt đầu quá trình làm nóng.

9. Máy đọc đĩa (máy chơi CD hay DVD). Động cơ điện bên trong máy, khi có điện sẽ giúp quay đĩa và vận hành khay chứa đĩa.

10. Tủ lạnh. Tủ lạnh cần động cơ điện nhỏ để vận hành máy nén, bộ phận quan trọng thực hiện chu trình làm mát cho tủ lạnh. Bên cạnh đó, tủ lạnh còn có quạt tản nhiệt ở dàn nóng, quạt gió ở dàn lạnh.

Ngoài ra, một số thiết bị điện cũng cần có động cơ điện để vận hành, như máy khoan, máy cưa gỗ, máy cắt cỏ, máy xay cà phê,…

2023-12-04 / by / in
Đẩy mạnh phát triển ngành dệt may Việt Nam trong thời gian tới

Nhìn tổng thể tình hình xuất khẩu ngành may mặc trong những năm gần đây thấy rằng, tăng trưởng trong xuất khẩu ngành dệt may của Việt Nam biến động theo xu hướng xuất khẩu chung của cả nước. Năm 2022, ngành dệt may chịu nhiều áp lực lớn. Xuất khẩu dệt may tăng trưởng tương đối tốt trong nửa đầu năm 2022, tuy nhiên, trong 6 tháng cuối năm 2022, các thị trường chính của dệt may Việt Nam rơi vào lạm phát, sức mua suy giảm mạnh, đến quý IV/2022, đơn hàng đã giảm đến 30%, có doanh nghiệp giảm đến 70% đơn hàng ở thị trường châu Âu, do lạm phát cao làm giảm chi tiêu của người dân, trong đó may mặc là mặt hàng bị cắt giảm chi tiêu nhiều. Bên cạnh đó, bất lợi về tỷ giá với các đối thủ cạnh tranh, tình trạng thiếu lao động sau đại dịch Covid-19, yêu cầu truy soát nguồn gốc bông, vải, sợi, hay xanh hóa dệt may từ các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới cũng là những thách thức mà doanh nghiệp dệt may Việt Nam phải đối mặt. Ngoài ra, các thị trường là đối tác thương mại quan trọng của Việt Nam, như: Trung Quốc, Nhật Bản, Đài Loan (Trung Quốc)… vẫn trong năm 2022 áp dụng các biện pháp nghiêm ngặt chống Covid-19, ảnh hưởng không nhỏ đến chuỗi cung ứng nguyên, phụ liệu và tiêu thụ sản phẩm dệt may của Việt Nam.

Mặc dù khó khăn, nhưng theo Báo cáo của Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex), với những biến động phức tạp của nền kinh tế thế giới, Vinatex vẫn đạt các chỉ tiêu về hoạt động sản xuất, kinh doanh, với doanh thu hợp nhất ước đạt 19.535 tỷ đồng, đạt 108% kế hoạch tăng 15% cùng kỳ. Lợi nhuận hợp nhất ước đạt 1.090 tỷ đồng, đạt 115% kế hoạch, tương đương 75% năm 2021. Kết quả sản xuất, kinh doanh Công ty mẹ với doanh thu ước đạt 2.158 tỷ đồng, đạt 123% kế hoạch, tăng 32% cùng kỳ. Lợi nhuận ước đạt 336 tỷ đồng, đạt 101% kế hoạch, tăng 8% so với năm 2021. Trong đó, thị trường xuất khẩu trọng tâm Hoa Kỳ với 13,9 tỷ USD, các nước trong khối Hiệp định Đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTTP) 4,733 tỷ USD, các nước EU là 3,63 tỷ USD, Hàn Quốc là 2,525 tỷ USD, Trung Quốc là 925 triệu USD. Quần áo may mặc các loại vẫn là mặt hàng chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu của ngành, tới 29,1 tỷ USD. Ngoài quần áo, ngành dệt may Việt Nam cũng xuất khẩu vải với 2,13 tỷ USD, xơ sợi 4,083 tỷ USD, phụ liệu may 1,165 tỷ USD, vải địa 747 triệu USD.

Cho đến nay, ngành may mặc đã xuất khẩu sản phẩm đến 66 nước, vùng lãnh thổ trên thế giới. Đây là sự bứt phá của Ngành trong phát triển thị trường. Bên cạnh đó, số mặt hàng duy trì xuất khẩu khoảng 47-50 mặt hàng khác nhau vào thị trường toàn cầu và chiếm tỷ trọng lớn trong xuất khẩu là quần áo may mặc các loại. Đặc biệt, đối với thị trường EU, nếu như trước đây dệt may Việt Nam chỉ tập trung vào một số nước lớn, như: Đức, Pháp, Tây Ban Nha, Anh, thì nay đã xuất khẩu vào 26/27 quốc gia ở EU.

Năm 2022, ngành dệt may Việt Nam đã có 10 thương hiệu đạt thương hiệu quốc gia Việt Nam, bao gồm: sản phẩm thời trang Viettien (Tổng Công ty May Việt Tiến), thương hiệu Merriman (Tổng Công ty Cổ phần Dệt may Hòa Thọ), thương hiệu Mattana & Novelty (Tổng Công ty May Nhà Bè), trang phục An Phước (Công ty TNHH May thêu giày An Phước), May10 Series, May10 Suits & Eternity GrusZ (Tổng Công ty May 10), thời trang Thái Tuấn (Công ty Cổ phần Tập đoàn Thái Tuấn), khăn bông Mollis (Tổng Công ty Cổ phần Phong Phú). Mục tiêu từ nay tới năm 2025, Việt Nam sẽ có 20 thương hiệu thời trang không chỉ trong nước mà còn vươn ra tầm thế giới.

Có được kết quả trên là do ngành may mặc Việt Nam đã và đang nỗ lực không ngừng để có thể bắt kịp với xu hướng thế giới. Trong đó, nổi bật nhất là các doanh nghiệp đã chủ động nâng cao năng lực sản xuất; nâng cao trình độ tay nghề; chuyển hướng sản xuất từ hình thức chỉ nhận gia công sang hình thức tự chủ nguồn nguyên liệu, tự thiết kế và hoàn thành sản phẩm; đặc biệt, việc các doanh nghiệp tiếp tục đầu tư vào thiết bị, công nghệ tự động hóa cũng là một trong những yếu tố góp phần tạo nền tảng để ngành dệt may chống chịu được những áp lực của thị trường về chất lượng, điều kiện giao hàng nhanh…

Ngoài ra, Nhà nước đã hỗ trợ các doanh nghiệp dệt may trong việc tổ chức các cuộc hội thảo, xúc tiến thương mại để các doanh nghiệp có cơ hội tìm kiếm đối tác, mở rộng thị trường xuất khẩu; Nhà nước cũng hỗ trợ trong việc thu hút vốn đầu tư vào ngành dệt may…

Mặc dù đạt được một số kết quả, nhưng ngành may mặc Việt Nam còn có những hạn chế, đó là:

Thứ nhất, hiện nay, tình trạng yêu cầu truy xuất nguồn gốc bông, vải, sợi hay “xanh hóa” dệt may từ các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới là những thách thức mà doanh nghiệp dệt may Việt Nam cần phải giải quyết để có thể hưởng ưu đãi từ các hiệp định này.

Thứ hai, ngành dệt may gặp các khó khăn trong ngắn hạn về thu hẹp thị trường, sụt giảm đơn hàng và đơn giá, khó khăn nội tại về nguồn vốn, chi phí đầu vào, logistics, nguồn lao động…

Thứ ba, hiện nay, ngành đang đứng trước các thách thức lớn về yêu cầu chuyển đổi mạnh mẽ mô hình sản xuất theo hướng bền vững, xanh, tuần hoàn và đáp ứng các quy định mới liên quan đến lao động, nguồn gốc xuất xứ, khả năng tái chế của sản phẩm từ các thị trường chủ chốt, như: Mỹ, EU.

Thứ tư, công nghiệp hỗ trợ trong ngành may mặc chưa phát triển mạnh, chưa thu hút được sự quan tâm của các doanh nghiệp trong nước và nước ngoài, dẫn đến có sự khan hiếm nguồn nguyên liệu trong nước, phụ thuộc lớn vào nhập khẩu và khó khăn trong việc đáp ứng các yêu cầu về quy tắc xuất xứ.

Thứ năm, dệt may của Việt Nam cũng đang gặp phải cạnh tranh lớn từ một số nước đang phát triển hiện đang đẩy mạnh sản xuất trong bối cảnh phục hồi kinh tế và thực hiện hiệu quả chiến lược “xanh hóa” các nhà máy sản xuất.

Thứ sáu, thực trạng thiếu thông tin về thị trường, về nguồn cung nguyên liệu là một trong những lý do khiến doanh nghiệp ngành dệt may khó dịch chuyển lên phương thức sản xuất cao hơn là thiếu thông tin về khách hàng, về các nhà cung cấp và thị trường nguyên phụ liệu, thiếu đội ngũ cán bộ mua hàng am hiểu thị trường và có năng lực quản lý chuỗi giá trị.

 

 

Nguồn: Theo Tạp chí Kinh tế và Dự báo

2023-12-01 / by / in
Thực trạng thị trường ngành sản xuất thiết bị điện công nghiệp tại Việt Nam

Trong quá trình Công Nghiệp Hóa – Hiện Đại Hóa như hiện nay, ngành công nghiệp thiết bị điện đã và đang trở thành mối quan tâm hàng đầu của nhiều quốc gia, đặc biệt là đối với các quốc gia đang phát triển như Việt Nam. Với tiềm năng tiêu thụ rộng lớn trong và ngoài nước, ngành này đang có lộ trình và cơ hội lớn để phát triển. Tuy nhiên, bên cạnh những cơ hội vẫn còn đó những khó khăn cơ bản trước mắt chưa thể vượt qua. Vậy thị trường ngành sản xuất thiết bị điện đang có những khó khăn gì? Các doanh nghiệp đã làm gì để vượt qua được những khó khăn đó? Và cơ hội nào đang chờ đợi các nhà đầu tư? Hãy cùng chúng tôi tìm hiểu qua bài viết dưới đây.

Khó khăn mà ngành đang gặp phải

Hầu hết các sản phẩm thiết bị điện công nghiệp được sản xuất tại Việt Nam đều phải chịu sự cạnh tranh gay gắt với các sản phẩm có xuất xứ từ các nước láng giềng như Thái Lan, Hàn Quốc, Trung Quốc, Indonesia,… Các doanh nghiệp sản xuất trong nước gần như lép vế trước những sản phẩm từ Trung Quốc trong những buổi đấu thầu cung cấp thiết bị cho các công trình điện.

Bên cạnh đó, tại thị trường điện gia dụng, ước tính mỗi năm sử dụng hàng trăm tỉ đồng cho nhu cầu mua sắm thiết bị điện, nhưng chủ yếu chỉ đến từ những thương hiệu ngoại nhập còn doanh số đến từ một số thương hiệu trong nước như Điện Quang, Trần Phú,… vẫn chưa nhiều. Lý do dễ hiểu cho vấn đề này chính là vì các sản phẩm ngoại nhập có sự đa dạng và phong phú về chủng loại, một số khác thì có giá thành rẻ hơn cả sản phẩm trong nước.

Tuy nhiên, không lùi bước trước những khó khăn từ các sản phẩm ngoại nhập, thị trường ngành sản xuất thiết bị điện tại Việt Nam đã vượt qua và có nhiều cải thiện đáng kể.

Sau những khó khăn đã vượt qua, sẽ có những cơ hội lớn nào dành cho các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm thiết bị điện?

Với thị trường trong nước, theo quy định Số 48/2008/QĐ-BCT của Bộ Công Thương, trong giai đoạn từ năm 2015 – 2025, ngành sản xuất thiết bị điện công nghiệp sẽ phải đầu tư và phát triển để đáp ứng 70% nhu cầu trong nước về những thiết bị đường dây, trạm biến áp; 55% nhu cầu về động cơ điện và một số loại máy phát điện thông dụng. Cũng theo kế hoạch, vào năm 2025, các sản phẩm trong nước có thể cung cấp trọn bộ thiết bị điện cho các công trình đường dây điện, trạm biến áp,… Với các kế hoạch mà Chính phủ đã đề xuất ở trên, đây quả thật là một cơ hội lớn đối với các doanh nghiệp trong ngành sản xuất thiết bị điện.

Hơn thế nữa, một thị trường tiềm năng khác dành cho các doanh nghiệp trong ngành chính là mạng lưới điện quốc gia ở những vùng sâu, vùng xa, hải đảo,…Ở những khu vực này sẽ khai thác tối đa lợi thế điều kiện tự nhiên để sản xuất điện. Đây là thị trường tiềm năng mà các đơn vị sản xuất thiết bị điện trong nước nên khai thác.

Đối với thị trường xuất khẩu, Lào và Campuchia là 2 đích đến tiềm năng cho các doanh nghiệp Việt Nam vì họ đang đẩy mạnh tỷ lệ hộ được cấp điện trong cả nước nhưng khả năng trong nước lại không đủ cung cấp.

Với những khó khăn đã vượt qua, cùng những cơ hội thị trường tiềm năng trước mắt, chúng tôi tin chắc rằng ngành gia công và sản xuất thiết bị điện nước ta sẽ còn phát triển hơn nữa.

2023-11-30 / by / in
Ngành sản xuất sản phẩm nhựa kỳ vọng khởi sắc trong các tháng cuối năm 2023

Trong những tháng gần đây, xuất khẩu nhựa đang có sự hồi phục, tháng sau cao hơn tháng trước. Do đó, xuất khẩu sản phẩm nhựa được kỳ vọng có nhiều khởi sắc trong các tháng cuối năm.

Xuất khẩu nhựa đang có sự phục hồi

Theo Tổng cục Thống kê, ngành sản phẩm nhựa hiện có gần 4.000 doanh nghiệp trên cả nước, trong đó 90% là doanh nghiệp nhỏ và vừa, tập trung chủ yếu tại khu vực phía Nam. Tổng doanh thu ngành nhựa đã đạt trên 25 tỷ USD, trong đó xuất khẩu chiếm 22%.

Các doanh nghiệp nhựa Việt Nam có thể sản xuất đầy đủ các chủng loại sản phẩm nhựa phục vụ cho tiêu dùng nội địa và xuất khẩu. Đến nay, sản phẩm nhựa Việt Nam đã xuất khẩu đến hơn 160 quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới và có mặt khắp các thị trường khó tính như Mỹ, Đức, Pháp, Anh, Ý, Hà Lan, Tây Ban Nha, Nhật, Úc…

Kim ngạch xuất khẩu sản phẩm nhựa tăng trưởng đều qua các năm từ 3 tỷ USD trong năm 2018 lên đến 5,5 tỷ USD năm 2022, với mức tăng trưởng trung bình từ 12 – 20%.

Tại Đại hội Hiệp hội Nhựa Việt Nam nhiệm kỳ VII (2023 – 2028) ngày 25/10, ông Hồ Đức Lam, Chủ tịch Hiệp hội Nhựa Việt Nam (VPA), Chủ tịch HĐQT CTCP Rạng Đông Holding (mã RDP) chia sẻ, tốc độ tăng trưởng ngành nhựa Việt Nam đang có dấu hiệu chậm lại từ cuối năm 2022 đến nay do những ảnh hưởng từ tình hình suy thoái kinh tế toàn cầu nói chung và tác động dai dẳng của đại dịch Covid-19 nói riêng.

Trong những tháng gần đây, xuất khẩu nhựa đang có sự hồi phục, tháng sau cao hơn tháng trước. Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, tiếp đà tăng trưởng trong tháng 7, sang tháng 8, xuất khẩu sản phẩm nhựa Việt Nam tiếp tục tăng. Cụ thể, kim ngạch xuất khẩu sản phẩm nhựa của Việt Nam trong tháng 8 đạt 466,8 triệu USD, dù giảm 0,5% so với cùng kỳ năm ngoái nhưng vẫn tăng 6,8% so với tháng 7.

Hiện tại, tồn kho của các thị trường lớn của sản phẩm nhựa Việt Nam đã có dấu hiệu giảm nên VPA kỳ vọng tiệu thụ sản phẩm nhựa Việt Nam sẽ có nhiều khởi sắc trong các tháng cuối năm 2023, đơn hàng các doanh nghiệp sẽ nhiều hơn. Đồng thời, kỳ vọng đầu ra nội địa và quốc tế cũng có tiến triển tích cực trong cả năm 2024.

Nhìn về xu hướng trong cả giai đoạn 2023 – 2028, Chủ tịch VPA chỉ ra ngành nhựa thế giới nói chung và Việt Nam sẽ có 5 vấn đề lớn.

Thứ nhất, tăng trưởng sản xuất và tiêu thụ của ngành nhựa thế giới và Việt Nam dự kiến sẽ tiếp tục tăng trưởng sản xuất và tiêu thụ nhựa trong tương lai, do nhu cầu sử dụng nhựa trong nhiều lĩnh vực như đóng gói, ô tô, điện tử, y tế và nông nghiệp vẫn đang tăng lên.

Thứ hai, do tình trạng ô nhiễm môi trường ngày càng trầm trọng, ngành nhựa thế giới và Việt Nam sẽ hướng đến chuyển đổi sang sản xuất các loại sản phẩm thân thiện với môi trường, như nhựa tái chế, nhựa sinh học, nhựa tái sử dụng.

Thứ ba, ngành nhựa thế giới và Việt Nam sẽ tăng cường đầu tư vào nghiên cứu và phát triển công nghệ mới về nhựa, nhằm tạo ra các sản phẩm chất lượng cao, tiết kiệm nguyên liệu và năng lượng và giảm thiểu tác động xấu đến môi trường.

Thứ tư, do cạnh tranh ngày càng khốc liệt trong ngành, các doanh nghiệp sản xuất nhựa sẽ phải nỗ lực để tăng năng suất, cải thiện chất lượng sản phẩm và giảm chi phí sản xuất để cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

Thứ năm, Chính phủ Việt Nam sẽ đưa ra các chính sách hỗ trợ cho ngành sản phẩm nhựa nhằm thúc đẩy sản xuất, đầu tư và xuất khẩu, đồng thời hướng dẫn các doanh nghiệp sản xuất nhựa thực hiện các quy định về môi trường và bảo vệ sức khoẻ người tiêu dùng.

Trong bối cảnh nền kinh tế hội nhập toàn cầu hiện nay và định hướng xu hướng kinh tế tuần hoàn, các doanh nghiệp hoạt động trong ngành nhựa cần có sự đầu tư nghiêm túc về công nghệ, thiết bị máy móc, đẩy mạnh các sản phẩm có giá trị gia tăng cao và có sự phát triển trong tương lai.

“Điều này cho thấy, để hội nhập thành công, doanh nghiệp ngành nhựa Việt Nam cần chuẩn bị kỹ càng đón đầu cơ hội, đa dạng mẫu mã, nâng cao chất lượng, tìm kiếm nguồn nguyên liệu là những vấn đề mà ngành phải đối mặt và cải thiện nhiều hơn nữa”, ông Lam nói.

70% nguyên liệu vẫn phụ thuộc nhập khẩu

VPA cho biết, sản lượng nguyên liệu nhập khẩu tăng trưởng đều qua các năm từ 5,589 triệu tấn trong năm 2018 tăng lên 7,12 triệu tấn trong năm 2022. Đến nay, Việt Nam có thể sản xuất được các nguyên liệu như PVC, PP, PET, PS, PE, với tổng công suất gần 3 triệu tấn/năm. Nguồn nguyên liệu trong nước có thể đáp ứng 30% nhu cầu thị trường nội địa, 70% còn lại được nhập khẩu từ các quốc gia trên thế giới như Arab Saudi, Hàn Quốc, Thái Lan, Nhật Bản, Mỹ, Trung Quốc, Đài Loan (Trung Quốc), Malaysia, Singapore…

Ông Đinh Đức Thắng, Phó chủ tịch VPA, Chủ tịch HĐQT CTCP Stavian Hoá Chất thông tin, giá nguyên liệu của ngành nhựa phụ thuộc nhiều vào giá dầu. Trong một năm qua, giá dầu dao động quanh mức 80 – 90 USD/thùng. Nguyên liệu chủ lực là PP biến động quanh mốc 1.000 USD/tấn, các nguyên liệu khác như HDPE FILM CFR, PET, PVC… có mức biến động khoảng 10 – 15%.

Theo ông Thắng, giá nguyên liệu nhựa năm 2024 sẽ bị ảnh hưởng song song với giá dầu thô. Trong khi giá dầu thô dự báo tiếp tục ở mức cao do sự cắt giảm nguồn cung từ OPEC+ và rủi ro xung đột Israel – Hamas lan rộng, nguồn cung dầu thô có thể bị gián đoạn, kéo theo sự ảnh hưởng đến hạt nhựa.

Bên cạnh đó, Cục Dự trữ Liên bang Mỹ (Fed) dự kiến bắt đầu các đợt cắt giảm lãi suất đầu tiên từ năm 2024. Do đó, các doanh nghiệp lúc này cần theo dõi xem khi nào lãi suất được cắt giảm, giảm ở mức nào để kích thích nhu cầu tiêu dùng trên thế giới.

Về nguồn cung trong nước, các dự án trong tương lai sẽ thúc đẩy nguồn cung nội địa và hỗ trợ sự tự chủ nguyên liệu của các doanh nghiệp. Một vài dự án đang được quan tâm như Hoá dầu Long Sơn (2023), Stavian VP (2028), Hoá dầu Stavian Quảng Yên (2029),…

Nhìn chung, với xu hướng khuyến khích phát triển đầu tư xây dựng ngành công nghiệp tái chế nhựa trong nước để tạo nguồn cung nguyên liệu nhựa tái sinh đang dần hình thành, VPA hy vọng trong tương lai gần, điều này sẽ cải thiện được một phần nguyên liệu nguyên sinh và góp phần thúc đẩy phát triển nền kinh tế tuần hoàn.

 

 

Nguồn: tinnhanhchungkhoan.vn

2023-11-29 / by / in
Ngành sản xuất bao bì khó tăng trưởng bứt phá những tháng cuối năm 2023

Theo Vietnam Report, ngành bao bì những tháng cuối năm nay khó có thể tăng trưởng bứt phá, nhưng kịch bản phục hồi nhẹ là có thể khi Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) có chiều hướng đi lên kể từ giữa quý II/2023.

Những khó khăn hàng đầu doanh nghiệp bao bì đang đối mặt

Khi kinh tế toàn cầu gặp khó khăn và chững lại, nền kinh tế Việt Nam bị ảnh hưởng tiêu cực là điều không thể tránh khỏi. Ngành sản xuất bao bì, như nhiều ngành khác, cũng phải đối mặt với hàng loạt khó khăn trong bối cảnh này. Đặc biệt, với việc các quy định pháp luật về kinh tế tuần hoàn có hiệu lực vào năm 2024, thách thức cho ngành bao bì có thể ngày càng nặng nề hơn.

Vietnam Report nhận định, suy thoái kinh tế toàn cầu bao trùm những khó khăn ngành bao bì đang phải đối mặt. Biểu hiện rõ ràng nhất ở Chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP), tính chung 8 tháng đầu năm 2023, IIP ước tính giảm 0,4% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2022 tăng 9,2%). Trong khi đó, theo khảo sát của Vietnam Report vào tháng 8/2023, 25,7% doanh nghiệp bao bì có doanh thu giảm so với cùng kỳ năm trước.

Hoạt động xuất nhập khẩu các mặt hàng sản xuất bao bì cũng sụt giảm nghiêm trọng. 6 tháng đầu năm 2023 tổng kim ngạch xuất nhập khẩu bao bì (tính trên 2 nhóm HS.3923 và HS.4819) đạt 1,07 tỷ USD, chỉ tương đương 63,1% cùng kỳ năm trước; trong đó, kim ngạch xuất khẩu và nhập khẩu lần lượt tương đương 77,4% và 36,6% so với cùng kỳ.

Khó khăn của các doanh nghiệp bao bì cũng đến từ cạnh tranh giữa các đối thủ trong ngành. Điều này một phần do cầu tiêu dùng hàng hóa giảm kéo theo lượng cầu bao bì giảm, áp lực giảm chi phí của các nhà sản xuất bao bì càng tăng cao để tạo lợi thế cạnh tranh so với đối thủ.

Triển vọng toàn ngành bao bì những tháng cuối năm 2023

Dự báo kinh tế Việt Nam những tháng cuối năm 2023, các chuyên gia tham gia khảo sát của Vietnam Report tỏ ra lạc quan hơn so với những tháng đầu năm, một phần đến từ nền kinh tế thế giới đang dần phục hồi và giải ngân vốn đầu tư công được đẩy mạnh. Ngoài ra, kinh tế vĩ mô được ổn định, nổi bật là mặt bằng lãi suất được hạ thấp và lạm phát nằm trong tầm kiểm soát, Chính phủ đã có những chính sách kích cầu tiêu dùng nhằm phục hồi tổng cầu như giảm 2% thuế giá trị gia tăng.

Ngành sản xuất bao bì những tháng cuối năm nay khó có thể tăng trưởng bứt phá, nhưng kịch bản phục hồi nhẹ là có thể khi IIP có chiều hướng đi lên kể từ giữa quý II. Nhằm thích ứng với tình hình kinh tế hiện tại, các doanh nghiệp bao bì ưu tiên giải pháp trong ngắn hạn như: mở rộng thị trường; đa dạng nhà cung cấp nguyên vật liệu.

Trong dài hạn, giải pháp trọng tâm được các doanh nghiệp thực hiện là tăng cường các biện pháp quản trị rủi ro tài chính, biến động giá và chất lượng nguồn nguyên liệu với tỷ lệ lựa chọn đạt 100%. Ngoài ra, chiến lược phát triển bền vững, bảo vệ môi trường ngày càng được doanh nghiệp trong ngành áp dụng.

Xu hướng bao bì bền vững ngày càng được quan tâm

Bao bì bền vững là một mục tiêu quan trọng để thúc đẩy sự phát triển và tạo ra giá trị hơn nữa cho ngành sản xuất bao bì. Đây là hướng đi giúp các thương hiệu tăng cường sự nhận diện và ủng hộ từ phía khách hàng, đồng thời đóng góp tích cực vào bảo vệ môi trường và phát triển bền vững.

Liên quan đến quy định pháp luật, Việt Nam ngày càng nỗ lực và quyết tâm hơn trong việc thúc đẩy bao bì bền vững, giảm thiểu tác động tiêu cực đối với môi trường và đảm bảo lợi ích dài hạn của doanh nghiệp.

Theo Vietnam Report, chuyển đổi sang bao bì bền vững không chỉ là xu hướng, mà đã trở thành điều tất yếu đối với các doanh nghiệp trong lĩnh vực này. Các quy định về bao bì bền vững không chỉ tạo ra nhiều thách thức mà còn đem lại cơ hội cho doanh nghiệp. Sự nhạy bén và linh hoạt trong thích nghi với thay đổi này có thể giúp các doanh nghiệp tận dụng những lợi ích dài hạn của việc thúc đẩy sự bền vững trong hoạt động kinh doanh.

Tính bền vững của sản xuất bao bì được người tiêu dùng ngày càng quan tâm nhiều hơn. Ưu tiên lựa chọn sản phẩm có bao bì thân thiện của người tiêu dùng còn được thể hiện qua khảo sát của Vietnam Report khi có 57,4% người tiêu dùng sẵn sàng chi trả cho bao bì thân thiện với môi trường nếu nếu giá cả không quá chênh lệch so với sản phẩm thông thường; 41,1% người tiêu dùng luôn ưu tiên lựa chọn dù giá cao hơn.

Về phía doanh nghiệp, cam kết ESG (Môi trường – Xã hội – Quản trị) cho thấy việc chuyển đổi, hướng tới phát triển bền vững của doanh nghiệp. Theo khảo sát của Vietnam Report, hiện có 33,8% doanh nghiệp bao bì đã lập kế hoạch và triển khai một phần cam kết ESG; 43,8% doanh nghiệp đang ở giai đoạn lập kế hoạch; 22,4% doanh nghiệp còn lại chưa có kế hoạch cụ thể/không đặt ra cam kết ESG.

 

 

Nguồn: Vietnam report

2023-11-28 / by / in
Ngành may mặc phụ liệu bứt phá kỷ lục về thị trường xuất khẩu trong năm 2023

Ông Vũ Đức Giang, Chủ tịch Hiệp hội Dệt May Việt Nam (VITAS) cho biết, mặc dù năm 2023 gặp nhiều khó khăn, dự kiến xuất khẩu dệt may giảm hơn so với năm 2022 nhưng năm 2023 cũng ghi nhận sự bứt phá kỷ lục của ngành may mặc phụ liệu về thị trường xuất khẩu.

Phát biểu tại Họp báo hội nghị tổng kết Vitas 2023 do Hiệp hội Dệt may Việt Nam tổ chức sáng 23/11, ông Vũ Đức Giang, Chủ tịch Hiệp hội Dệt May Việt Nam (VITAS) cho biết, năm 2023 ngành dệt may chịu tác động, lượng hàng hoá tồn kho toàn cầu thách thức rất lớn, làm cho nền công nghiệp dệt may chịu tác động lớn. Kim ngạch xuất khẩu dệt may năm 2023 ước đạt 40,3 tỷ USD, giảm 9,2% so với năm 2022. Xuất khẩu hàng may mặc ước giảm 3,1 tỷ USD, tương đương 8,9%, xuất khẩu vải ước giảm 186 triệu USD, tương đương 6,9%, xuất khẩu sơ sợi ước giảm 485 triệu USD tương đương 10,3%, xuất khẩu nguyên phụ liệu ước giảm 218 triệu USD, tương đương 16%.

Năm 2023, cơ cấu mặt hàng xuất khẩu có sự thay đổi rõ rệt. Một số mặt hàng xuất khẩu chủ lực giảm mạnh như đồ nỉ, quần short, quần áo trẻ em… Ở chiều ngược lại, các mặt hàng như đồ bảo hộ lao động, bộ comple, quần áo y tế, quần jeans lại tăng nhanh.

“Mặc dù kim ngạch xuất khẩu giảm nhưng năm 2023 là năm xuất khẩu may mặc phụ liệu bứt phá về thị trường, chưa năm nào ngành dệt may xuất khẩu vào nhiều thị trường như vậy với 104 thị trường, vùng lãnh thổ”, ông Vũ Đức Giang cho biết.

Trong đó, thị trường lớn nhất của ngành dệt may Việt Nam vẫn là thị trường Mỹ, trong 9 tháng sản phẩm may mặc xuất khẩu vào thị trường Mỹ đạt trên 11 tỷ USD, Nhật Bản khoảng 3 tỷ USD, Hàn Quốc là 2,4 tỷ USD, EU là gần 2,9 tỷ USD. Đây là 4 thị trường trọng điểm của ngành dệt may.
Tiếp đó, ngành dệt may xuất khẩu sang Canada khoảng 850 triệu USD, Trung Quốc 830 triệu USD, Campuchia hơn 600 USD, Anh 504 triệu USD…

“Chúng ta xuất khẩu sang 104 thị trường đây là thách thức, khi thị trường xuất khẩu lớn giảm thì các doanh nghiệp phải tìm cách mở rộng thị trường xuất khẩu như Châu Phi, Nga, Ấn Độ…Chính những người Việt ở các nước này là cầu nối cho xuất khẩu may mặc phụ liệu xuất sang các quốc gia này”, ông Vũ Đức Giang cho biết thêm.

Để đạt được những kết quả trên, theo ông Vũ Đức Giang, Hiệp hội Dệt may Việt Nam, đã đặt mục tiêu cho cộng đồng doanh nghiệp khẳng định vị thế của ngành, cùng đó, xây dựng giải pháp cùng cộng đồng doanh nghiệp trong chiến lược phát triển bền vững, đạt chuẩn mực trong các điều khoản hợp đồng thương mại, tổ chức đánh giá. Đến nay, hầu hết các doanh nghiệp đã đạt rất tốt.

Đặc biệt, các doanh nghiệp dệt may Việt Nam cũng tích cực thực hiện xanh hóa, phát triển bền vững, đầu tư hạ tầng cơ sở trong giảm phát thải nhà kính, thúc đẩy giải pháp phát triển sản phẩm có tính bền vững, chuyển đổi nồi hơi nước bằng điện thay cho đốt than, củi… Cùng với đó, doanh nghiệp dệt may Việt Nam cũng đầu tư mạnh về phát triển công nghệ số, tạo minh bạch trong sản xuất kinh doanh.

“Cùng với việc sử dụng sản phẩm tái chế, thân thiện môi trường như sợi gai, sợi tre… ngành dệt may Việt Nam cũng sắp xếp mô hình cộng đồng doanh nghiệp, chuyển dịch nhanh nhà máy từ thành phố về vùng sâu, vùng xa.. Trong những năm qua, dù khó khăn nhưng các doanh nghiệp vẫn đầu tư nhiều nhà máy mới nên giữ được tỷ trọng trong xuất khẩu. Chúng tôi kỳ vọng dịp Noel tháng 12 và Tết dương lịch, các thị trường nhập khẩu lớn sẽ thúc đẩy cho năm 2024 khi họ giảm bớt hàng tồn kho. Trong quý 4/2023, ngành dệt may Việt Nam đã nhận được tín hiệu đơn hàng tốt hơn, thị trường bắt đầu nóng lên, đây là xu thế tốt cho mục tiêu 2024 đang đến gần”, ông Vũ Đức Giang cho hay.

Đại diện Hiệp hội Dệt may Việt Nam cho biết, năm 2024, dự báo kinh tế thế giới còn nhiều biến động. Thách thức với các doanh nghiệp may mặc phụ liệu chưa dừng lại khi ngày càng nhiều thị trường nhập khẩu dệt may lớn đưa ra những quy định mới mang tính bắt buộc liên quan tới thẩm định quyền Con người và Môi trường trong Chuỗi cung ứng, quy định thiết kế sinh thái, sản phẩm tái chế, xử lý chất thải dệt may…

Tuy nhiên, ngành dệt may Việt Nam vẫn có những ưu thế so với các quốc gia cạnh tranh. Việt Nam đã tham gia và đang đàm phán 19 Hiệp định thương mại tự do (trong đó: 16 FTA đã ký kết và thực thi; 3 FTA đang trong quá trình đàm phán) và là quốc gia duy nhất ký kết Hiệp định thương mại tự do với tất cả các đối tác kinh tế lớn trên toàn cầu như: Hoa Kỳ, Nhật Bản, Trung Quốc, EU, Anh, Nga. Đặc biệt, Chiến lược phát triển ngành Dệt May và Da Giày Việt Nam đến năm 2030 tầm nhìn đến năm 2035 được Chính Phủ phê duyệt mới đây sẽ là nền móng thu hút đầu tư nước ngoài vào lĩnh vực sợi – dệt – nhuộm, tạo cơ hội cho ngành dệt may tận dụng ưu đãi từ các Hiệp định.

Trên cơ sở phân tích, dự báo bối cảnh tình hình trong nước, quốc tế, VITAS xây dựng mục tiêu toàn ngành năm 2024 đạt kim ngạch xuất khẩu 44 tỷ USD.

Để đạt được mục tiêu đề ra, Hiệp hội Dệt May Việt Nam sẽ tiếp tục sát cánh cùng doanh nghiệp, lấy lợi ích của doanh nghiệp dệt may làm trọng tâm. Cụ thể, Hiệp hội thực hiện tốt vai trò kết nối các doanh nghiệp trong nước với nhau và với các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài hình thành chuỗi cung ứng, mở rộng thị trường xuất khẩu. Cùng với đó, phối hợp với các tổ chức quốc tế uy tín triển khai các chương trình hỗ trợ doanh nghiệp về quản trị, chuyển đổi xanh, công nghệ mới, thiết kế, xây dựng thương hiệu…

Đặc biệt, thực hiện các chương trình xúc tiến thương mại trong và ngoài nước tạo cơ hội cho doanh nghiệp Việt giao lưu, quảng bá hình ảnh; truyền tải kịp thời thông tin về ngành, kinh tế – xã hội trong nước và thế giới đến Hội viên. Đặc biệt, VITAS luôn phát huy vai trò là cầu nối hiệu quả giữa cơ quan quản lý Nhà nước với khối doanh nghiệp dệt may, phản ánh những vướng mắc về cơ chế chính sách, làm tốt vai trò là thành viên Hội đồng tiền lương quốc gia, Hội đồng tư vấn cải cách thủ tục hành chính của Thủ tướng.

“Mục tiêu xuyên suốt năm 2024 của ngành may mặc phụ liệu Việt Nam là tiếp tục đa dạng hóa thị trường xuất khẩu, phát triển bền vững đi đôi với thích ứng mục tiêu đòi hỏi của thị trường toàn cầu về xanh hoá, giảm rác thải nhà kính, đầu tư sâu vào hệ thống nồi hơi đốt bằng điện, giảm dần nồi hơi đốt bằng nhiên liệu hóa thạch. Trong đó, đầu tư vào quản trị số, kiểm soát thích ứng với ngành công nghiệp dệt may toàn cầu, thực hiện công nghệ hoá, tự động hoá ở một số dây chuyền sản xuất thích ứng giao hàng nhanh, mã hàng nhỏ và chất lượng cao và tập trung giải pháp phát triển công nghiệp thời trang…”, Chủ tịch VITAS cho hay.

Người đứng đầu Hiệp hội Dệt may Việt Nam cũng cho biết thêm, hiện nay là cơ hội số 1 cho dệt may thâm nhập vào thị trường toàn cầu nhờ các FTA nhưng có 3 yếu tố cần tuân thủ. Đó là doanh nghiệp cần thích ứng nhanh luật chơi toàn cầu của các nhãn hàng, chủ động nền công nghiệp thời trang. Cùng với đó, doanh nghiệp phải chủ động, xây dựng chuỗi chặt chẽ với nhà sx sợi, nhuộm, tạo chuỗi trong chiến lược phát triển, tiến tới làm chủ cuộc chơi về thương hiệu toàn cầu.

 

Nguồn: Báo Tin tức – TTXVN

2023-11-27 / by / in
Cấu tạo động cơ điện của xe đạp điện không chổi than và các bộ phận chính

Động cơ xe đạp điện hiện nay đa số là sử dụng động cơ ba pha chạy điện một chiều không chổi than. Có một số tài liệu gọi là động cơ điện tử giao tiếp (ECM), một số tài liệu gọi là động cơ Brushless không chổi than (BLDC). Trong bài viết này YP.VN sẽ trình bầy cấu tạo của động cơ xe đạp điện để bạn đọc cùng tham khảo bởi những ưu điểm và các ứng dụng tuyệt vời của nó.

Cấu tạo động cơ xe đạp điện không chổi than.

Loại động cơ điện kiểu moay ơ bánh này gồm các linh kiện là trục quay động cơ, stato động cơ, nắp động cơ, ổ bi cấu thành. Đây là loại động cơ xe đạp điện không có bánh răng, không có chổi than và nó thuộc dòng động cơ xoay ngoài. Như vậy các loại xe điện phổ biến hiện nay đều dùng động cơ xoay ngoài như xe đạp điện nijia, xe đạp điện m133, xe điện xmen, xe điện vespa và nhiều dòng xe điện khác

Động cơ xoay ngoài thường có tốc độ thấp nhưng cấu tạo lại rất đơn giản không cần hệ thống bánh răng giảm tốc và rất ít hỏng hóc. Do có cấu tạo đơn giản dễ dàng bảo dưỡng và sửa chữa trong quá trình sử dụng, cho nên động cơ BLDC được ứng dụng rộng rãi không chỉ cho xe đạp điện mà còn cho nhiều các loại máy móc khác. Ở phần dưới đây chúng tôi sẽ trình bầy cấu tạo của các bộ phận chính trọng động cơ xe đạp điện và xe máy điện hiện nay.

Các bộ phận chính của động cơ xe điện

  1. Nắp động cơ xe đạp điện

Nắp động cơ xe điện ở hai bên là khác nhau , một bên dùng để kết nối với hệ thống phanh sau, còn một bên có thể lắp líp xe trong những trường hợp cần thiết. Vành ngoài của nắp động cơ được khoan các lỗi để vít ốc, số lỗ trên hai lắp động cơ là như nhau và có thể có 8, 9 lỗ hoặc 10 lỗ trên mỗi nắp tùy loại.

Ở phần trung tâm của mỗi nắp có gắn cơ cấu vòng bi, kích thước của vòng bi của hai nắp động cơ có thể giống hoặc khác nhau. Thông thường động cơ sử dụng hai loại vòng bi phổ biến là 6202, 6203, 6204, việc nắp động cơ sử dụng loại vòng bi nào còn phụ thuộc vào trục của động cơ. Với các dòng xe máy điện mà động cơ có công suất lớn trục động cơ to hơn sẽ cần vòng bi lớn hơn những dòng xe đạp điện.

Như vậy nắp động cơ điện có nhiệm vụ rất quan trọng, ngoài việc bảo vệ phần bên trong động cơ khỏi nước và bùn đất, nó còn có nhiệm vụ quan trọng hơn là kết nối chuyển động tạo ra lực quay cho Roto. Vậy 2 nắp động cơ ở hai bên sẽ quay cùng vành xe trong khi xe chạy, chính cơ cấu các vòng bi lắp trên trục đã làm cho động cơ quay tốt hơn.

2. Stato động cơ xe đạp điện

Stato: là bộ phận không chuyển động khi xe đạp điện làm việc chạy, trục của động cơ xe đạp điện (bao gồm khung sắt từ gắn vào trục, các vòng dây của 3 pha quấn vào lõi sắt, bộ cảm biến Hall gắn trên lõi sắt) sẽ không chuyển động khi động cơ làm việc. Như vậy động cơ xe đạp điện cũng có thể gọi là động cơ cố định trong.

Bộ 3 cảm biến Hall được kết nối với nhau thông qua một mạch điện và được gắn chắc chắn vào Stato, trên mạch có các vị trí để gắn các dây dẫn điện. Bộ gồm 5 dây dẫn điện và truyền tín hiệu, trong đó có 2 dây nguồn dương và âm, 3 dây còn lại có màu tương ứng với 3 dây pha của động cơ.

Bộ 3 dây pha động cơ được quấn nhiều vọng trên các lá thép kỹ thuật, thông thường các pha của động cơ điện xe đạp điện được đấu kiểu hình sao. Các đầu dây của các pha sẽ được đánh dấu bởi các màu khác nhau (Vàng, xanh lá, Xanh dương).

Các lá thép kỹ thuật điện được ghép sát nhau và được kết nới với trục động cơ thông qua một vành sắt, trục động cơ sẽ không chuyển động khi động cơ làm việc. Hai đầu ngọn của trục động cơ có tiện ren, gốc trục động cơ có thể có kích thước khác nhau để cố định vòng bi. Một phía trục động cơ sẽ được khoan rỗng để luồn dây điện 3 pha và các dây tín hiệu của bộ cảm biến.

3. Roto động cơ xe đạp điện

Trục quay (roto): là bộ phận chuyển động khi động cơ xe đạp điện làm việc, vỏ ngoài của động cơ điện xe đạp là trục xoay (lắp động cơ 2 bên, nam châm vĩnh cửu, vành + lốp gắn vào vành) do đó gọi là động cơ trục xoay ngoài.

Số lượng các miếng nam châm gắn vào mặt trong của vành xe phụ thuộc vào chu vi của vành đó. Động cơ xe đạp điện sử dụng nam châm đất hiếm các miếng nam châm được đặt ngược chiều nhau và gắn vào vành xe. Nếu phải thay thế các miếng nam châm này thì các bạn phải lựa chọn cẩn thận, quan trong là kích thước của các miếng nam châm phải phù hợp với thiết kế của động cơ đó.

 

2023-11-24 / by / in