Thêm kết quả...

Tắc đường sang Trung Quốc, cua Cà Mau giảm giá tới 70%

Những ngày qua, giá cua Cà Mau liên tục sụt giảm mạnh.

Giá cua thịt (từ 400gr) dao động từ 220.000-240.000 đồng/kg; cua gạch có giá từ 300.000-400.000 đồng/kg, tùy loại. Mức giá giảm trung bình khoảng 100.000 đồng/kg so với 10 ngày trước.

So với những năm trước, giá cua đã giảm tới 4-6 lần. Thông thường, ở thời điểm giáp Tết, giá cua biển Cà Mau luôn cao ngất ngưởng vì nhu cầu mua cua thương phẩm làm quà biếu, tặng người thân tăng mạnh. Đỉnh điểm, giá cua Cà Mau có thể lên tới 1 triệu đồng/kg cua loại 1, 800.000 đồng/kg cua loại 2.

Theo nhiều thương lái ở Cà Mau, sở dĩ giá cua xuống thấp những ngày gần đây là do việc xuất bán cua qua thị trường Trung Quốc gặp khó. Trung Quốc đóng một số cửa khẩu khiến nhiều vựa cua không dám thu mua cua.

Giá cua Cà Mau hôm nay - Cua Cà Mau bao nhiêu tiền 1kg

Trước tình hình này, nhiều hộ nuôi cua ở Cà Mau mong việc thông thương sớm trở lại bình thường để tất cả các nông sản của người dân được tiêu thụ dễ dàng và gia tăng lợi nhuận cho nhà nông.

Theo Bộ Công Thương cho biết đến ngày 25/12, lượng xe ùn ứ cửa khẩu tại tỉnh Lạng Sơn là 4.204 xe, Quảng Ninh khoảng 1.555 xe, trong đó 80% là hàng nông sản. Điều này gây thiệt hại kinh tế cho doanh nghiệp và người dân.

Nguồn: vnexpress

2021-12-28 / by / in
Doanh nghiệp cho nhân viên vay tiền mua nhà cuối năm

Bên cạnh việc duy trì thưởng Tết và lương tháng 13 cho nhân viên, có doanh nghiệp còn trích ngân sách cho nhân viên vay tiền mua nhà dịp cuối năm.

Chia sẻ với Zing, ông Phan Minh Thông – Chủ tịch HĐQT Phúc Sinh Group – cho biết vừa cho 2 nhân viên vay tiền mua nhà trong bữa tiệc tất niên công ty vừa qua. Mỗi nhân viên được vay 1 tỷ đồng trong vòng 10 năm không tính lãi suất. Trong đó, từ năm thứ 6 trở đi, nhân viên bắt đầu trả tiền, cấn trừ trực tiếp từ lương hàng tháng.

“Chúng tôi tính toán 1 tỷ đồng là đủ để các bạn đặt cọc cho một căn chung cư ở TP.HCM. Đây sẽ là món quà ý nghĩa sau một năm các bạn nỗ lực cùng công ty”, ông Phan Minh Thông chia sẻ.

Mức thưởng Tết tăng cùng lợi nhuận công ty

Thực tế, năm 2017, Phúc Sinh đã cho 7 nhân viên quản lý vay tiền mua nhà. Đây là những người làm việc lâu năm và đạt hiệu quả công việc cao.

“Khi công ty kinh doanh tốt, tôi muốn chia sẻ niềm vui này cùng các bạn nhân viên. Sau lần đầu tiên triển khai chương trình năm 2017, các năm 2018-2020 chúng tôi gặp nhiều khó khăn, do đó phải đến năm nay, khi lợi nhuận tăng gấp 3 lần năm ngoái, tôi mới quyết định tiếp tục chương trình này”, ông Phan Minh Thông nói thêm.

4 loại hồ sơ cần nhớ nằm lòng khi vay tiền mua nhà

Song song với đãi ngộ này, nhân viên tại Phúc Sinh năm nay cũng được chia thưởng Tết cao hơn các năm trước, và đặc biệt được công ty hỗ trợ đóng thuế cho khoản tiền thưởng.

Tương tự, với Công ty TNHH 3D Hub Global, bà Lý Thanh Phong, giám đốc, cho biết tổng ngân sách thưởng Tết năm nay dự kiến khoảng 2 tỷ đồng, tăng so với mọi năm nhờ các đơn hàng xuất khẩu vẫn ổn định, với giá trị mỗi đơn hàng ngày một lớn hơn.

“Chúng tôi thưởng theo bậc lương và chức vụ của nhân viên. Đối với nhân viên dưới một năm, công ty thưởng theo số tháng họ làm với mức trung bình 1 triệu đồng/tháng làm việc, tức nếu làm 10 tháng thì nhận được 10 triệu đồng. Như vậy, ai cũng được nhận thưởng Tết”, bà Lý Thanh Phong cho biết.

Còn tại Công ty May 10, dù đại dịch kéo dài, mức thu nhập bình quân của người lao động trong năm qua vẫn tăng 8,5% so với năm ngoái. Tổng giám đốc Thân Đức Việt cho hay đã có kế hoạch thưởng Tết cho khoảng 13.000 nhân công, tính cả đơn vị liên doanh, liên kết, bình quân 1,5 tháng lương mỗi người.

“Chính sách lương thưởng cho nhân viên luôn nằm trong kế hoạch phát triển của công ty, dù mấy năm nay dịch bệnh nhưng không thể vì thế mà bỏ quên việc ‘tri ân’ với những người đồng hành. Họ là nhân tố sống còn.

Nhất là trong lúc hoảng loạn vì dịch bệnh thế này thì thưởng Tết sẽ là cái lộc, là nguồn động viên quý giá”, ông Lưu Văn Thái, Giám đốc Công ty thực phẩm Tâm Minh nói với Zing.

Xoay xở thưởng Tết để giữ chân người lao động

Mặc dù vậy, đối diện với kết quả kinh doanh không mấy khả quan suốt năm qua, nhiều doanh nghiệp vẫn đang cân nhắc, chưa thể quyết định mức thưởng Tết cho người lao động.

Một mặt, tình hình tài chính của doanh nghiệp không cho phép. Nhưng mặt khác, họ lo ngại không thể giữ chân người lao động sau Tết này, trong bối cảnh nhiều người mong muốn về quê sinh sống và làm việc do e ngại dịch bệnh bùng phát.

Doanh nghiep cho nhan vien vay tien mua nha-Hinh-2

Chia sẻ với Zing, bà Thanh Tâm, CEO ATZ Life, cho biết vẫn đang cân đối ngân sách, chưa có con số thưởng Tết cụ thể. Dù vậy, bà khẳng định doanh nghiệp sẽ trích một phần quỹ dự phòng để thưởng Tết cho nhân viên, song song với các món quà hiện vật là các sản phẩm chăm sóc sức khỏe của công ty.

“Trong suốt 20 năm kinh doanh, tôi luôn chủ trương thưởng tháng 13 cho người lao động, vừa tạo niềm vui, động lực và cũng là để giúp nhân viên và gia đình có một cái tết trọn vẹn hơn”, bà Thanh Tâm nhấn mạnh.

Tương tự, ông Nguyễn Thanh Tuấn – Giám đốc VAM Furniture – cũng cho biết việc thưởng Tết năm nay buộc phải tiết giảm do hoạt động kinh doanh bị ảnh hưởng bởi Covid-19. “Chúng tôi chỉ hướng tới 2 mục tiêu chính là giúp công nhân viên có thêm nguồn thu nhập để chi tiêu dịp Tết, đồng thời giữ chân, thu hút họ tiếp tục quay trở lại làm việc sau này”, ông nói.

Đó là lý do bên cạnh mức thưởng bình quân tương đương một tháng thu nhập năm, công ty này cũng tặng quà cho những người lao động có hoàn cảnh khó khăn và mua vé xe cho người lao động quay lại làm việc sau Tết.

Với Công ty TNHH TMDV XNK Phát Linh TAB, bà Võ Thị Thùy Trang, giám đốc, cũng nhấn mạnh dù khó khăn vẫn phải duy trì thưởng Tết như mọi năm, vừa để cảm ơn đội ngũ nhân viên đã đồng hành cùng doanh nghiệp, vừa nhằm giữ chân họ, vì sợ sau Tết nhiều người không quay lại làm việc nữa.

Tương tự, bà Bùi Hồng Hạnh, Giám đốc Công ty Chocolate Legendary Việt Nam, cho bhay mức thưởng Tết năm nay dự kiến bằng hoặc nhỉnh hơn năm ngoái, và bằng khoảng 50-60% các năm trước dịch.

“Đây là nỗ lực rất lớn của ban lãnh đạo công ty để chăm lo đời sống công nhân viên, cũng như mong muốn có sự gắn kết lâu dài với người lao động. May mắn thời điểm cuối năm đơn hàng về nhiều, nhà máy quá tải nên các bạn được tăng ca khá nhiều, tăng phần nào thu nhập”, bà Hạnh chia sẻ.

Nguồn: zing.vn

2021-12-28 / by / in ,
Đổi tiền lẻ Tết 2022 ngập chợ mạng: Coi chừng dính “bẫy“

Cũng như mọi năm, thị trường đổi tiền lẻ, tiền mới trước Tết Nguyên đán Nhâm Dần đang rất sôi động.

Dịch vụ đổi tiền lẻ ngập chợ mạng
Còn khoảng hơn một tháng nữa mới đến Tết Nguyên đán Nhâm Dần 2022 nhưng thị trường đổi tiền lẻ, tiền mới lì xì Tết đã khá sôi động trên chợ mạng.
Chỉ gần gõ từ khoá “đổi tiền lẻ tết”, “đổi tiền lẻ tết 2022″…trên Facebook là xuất hiện một loạt bài đăng nhận đổi tiền lẻ với đủ các loại mệnh giá.
Không chỉ trên Facebook, khi gõ từ khóa “đổi tiền lẻ” trên các công cụ tìm kiếm, hàng chục website cung cấp dịch vụ này sẽ hiện ra.
Tài khoản Facebook Giáng My Hoàng nhận đổi tiền lẻ mới các loại từ 1.000, 2.000, 5.000 đồng đến 10.000, 20.000, 50.000 đồng. Người này nhận đổi số lượng không giới hạn và đảm bảo tiền mới nguyên thếp, nguyên cọc, nguyên bao và nguyên seri.
Đổi tiền lẻ Tết 2021 Tân Sửu
Phí đổi tiền lẻ, tiền mới đang ở mức khá cao. Một tài khoản Lily Phan nhận đổi tiền lẻ 1.000 đồng với mức phí hơn 100.000 đồng (với 1 triệu đồng); 1 triệu tiền 10.000 mức phí là 80.000 đồng, 1 triệu tiền 20.000 và 50.000 mức phí là 90.000 đồng.
Trong khi đó, một số cửa hàng cho biết, mức phí đổi tiền lẻ sẽ thấp khi khối lượng đổi từ vài trăm triệu đồng trở lên, hoặc trở thành đại lý đổi tiền mới.
Tuy nhiên, với tờ tiền cotton mệnh giá 500 đồng thì mức giá đổi lại rất cao. Do quan niệm màu đỏ là màu của may mắn nên với 100 tờ 500 đồng, tổng số tiền phải trả là 300.000 đồng (phí 250%). Mức phí được cho là đã giảm so với những năm trước.
Cẩn thận dính “bẫy” khi đổi tiền qua mạng
Trước nhu cầu đổi tiền mới dịp cuối năm của nguời dân tăng cao, một số người kinh doanh dịch vụ đổi tiền hưởng phần trăm chêch lệch. Thậm chí, một số đối tượng còn đi lừa đảo dựa vào chiêu thức đổi tiền dịp tết.
Vì thế, người dân đổi tiền lẻ thời điểm này có thể đối mặt với nhiều rủi ro như bị đổi thiếu tiền, sử dụng tiền bất hợp pháp, không rõ nguồn gốc hay thậm chí là tiền giả.
Nguồn: kienthuc.net
2021-12-28 / by / in
Chia sẻ kinh nghiệm chọn quần áo bảo hộ lao động bền đẹp giá rẻ
Quần áo bảo hộ lao động là loại trang phục không thể thiếu đối với những ngành nghề mang tính đặc thù. Mặc quần áo bảo hộ lao động không chỉ thể hiện tính chuyên nghiệp mà còn giúp mọi người bảo vệ sức khỏe tốt hơn.

1. Kinh nghiệm chọn quần áo bảo hộ lao động bền đẹp, giá rẻ

1.1 Chọn trang phục phù hợp với ngành nghề

Quần áo bảo hộ lao động

Để chọn được mẫu quần áo bảo hộ lao động có thể mang lại đầy đủ các yếu tố cần có đối với quần áo bảo hộ. Mọi người cần lựa chọn theo tính chất công việc, đặc trưng nghề nghiệp của mình. Bởi vì mỗi một ngành nghề sẽ có những đặc thù riêng.

Ví dụ như ngành điện lực, quần áo bảo hộ lao động dành cho nghề này phải có khả năng chống tĩnh điện và đảm bảo người thợ tránh được nguy cơ rủi ro có thể xảy ra trong quá trình làm việc. Hay quần áo bảo hộ lao động của ngành xây dựng phải đảm bảo được tính năng chống bụi, chống nắng và giảm thiểu sự ma sát khi tiếp xúc với những vật liệu xây dựng thô cứng,..

Chính vì vậy, khi chọn mua quần áo bảo hộ lao động bạn phải căn cứ vào đặc thù công việc của mình để chọn được loại quần áo phù hợp.

1.2 Chọn quần áo bảo hộ lao động theo chất liệu

Chất liệu vải dùng để may quần áo bảo hộ lao động đóng vai trò quan trọng nhất trong việc bảo vệ sức khỏe, bảo vệ tính mạng cho người sử dụng. Do đó, khi chọn mua trang phục bảo hộ, bạn cần xem xét cẩn thận về chất liệu vải được dùng để may quần áo. Đúng chất liệu thì quần áo bảo hộ lao động mới có thể đảm nhiệm đúng chức năng nhiệm vụ của nó.

Ví dụ, bạn mua quần áo bảo hộ lao động cho ngành xây dựng nhưng chất vải được sử dụng lại là vải lụa hay vải voan thì rất chi là buồn cười. Loại trang phục này sẽ không thể bảo hộ người lao động được đúng như tên gọi của nó.

1.3 Chọn quần áo bảo hộ lao động theo màu sắc

Quần áo bảo hộ lao động

Màu sắc cũng là yếu tố ảnh hưởng không nhỏ đối với tính hiệu quả của quần áo bảo hộ lao động. Điển hình như quần áo bảo hộ lao động dành cho thợ điện, công nhân môi trường,….bắt buộc phải có màu sắc nổi bật để khi mặc lên nó có thể giúp cho người lao động trông nổi bật hơn.

Màu sắc nổi bật như một tín hiệu cảnh báo sự nguy hiểm khiến cho người nhìn thấy phải thận trọng và chú ý hơn khi di chuyển. Giúp bảo vệ người lao động khỏi các mối nguy hiểm xung quanh.

1.4 Căn cứ vào giá cả để chọn trang phục phù hợp

Để tiết kiệm chi phí và mua được sản phẩm “đáng đồng tiền bát gạo”, không bị “bóp giá” so với giá trị thật của nó. Trước khi mua một bộ quần áo bảo hộ lao động bất kỳ bạn cần tham khảo giá cả thị trường trước khi mua.

Tuy nhiên, bạn cũng không nên ham rẻ mua các sản phẩm bị làm giả làm nhái hoặc làm kém chất lượng. Những trang phục này sẽ không thể thực hiện tốt nhiệm vụ bảo hộ lao động. Bên cạnh đó nó còn không đảm bảo được độ bền đẹp của sản phẩm. Khiến cho loại trang phục bạn mua tuy có rẻ hơn thị trường một chút nhưng lại nhanh chóng biến thành giẻ lau và mất tác dụng chỉ sau vài tháng.

Nguồn: aobaoho.vn

2021-12-28 / by / in
Các đặc điểm của nghề Luật sư

Luật sư là một nghề nghiệp đặc biệt, được xuất phát từ nguyên tắc quyền bình đẳng của công dân trước pháp luật, nhà nước pháp quyền, dân chủ trong xét xử, tư pháp độc lập và thi hành pháp luật. Do đó Luật sư không chỉ là người có trình độ pháp lý đơn thuần, mà còn phải có đạo đức phù hợp và có kỹ năng nghề nghiệp. Bài viết này nghiên cứu, phân tích để chỉ ra những đặc trưng cơ bản của nghề Luật sư.

Đặc điểm của nghề Luật sư được nghiên cứu với nhiều cách tiếp cận khác nhau và đôi khi thiếu rõ ràng. Trong “Giáo trình Luật sư và nghề Luật sư” của Học viện Tư pháp, các đặc điểm của nghề Luật sư không được nghiên cứu một cách tập trung mà được diễn giải rộng ra ở các lĩnh vực khác nhau liên quan tới hành nghề, chức năng xã hội, đối tượng khách thể nghề nghiệp, quản lý với nghề nghiệp Luật sư, đặc thù của nghề Luật sư[1].

Theo Luật sư, Tiến sĩ Phan Trung Hoài, “hoạt động Luật sư” có những thuộc tính thể hiện bản chất của loại hoạt động này như: (1) tuân thủ pháp luật; (2) dân chủ; (3) độc lập; (4) phụ thuộc vào nhu cầu của xã hội; và (5) phụ thuộc uy tín nghề nghiệp của cá nhân[2]. Những cách tiếp cận này cho chúng ta thấy rất rõ vai trò, vị trí của nghề Luật sư trong xã hội, cũng như những khó khăn thách thức mà Luật sư cần vượt qua trong hoạt động nghề nghiệp của mình, nhưng chưa hoàn toàn làm rõ được nghề Luật sư khác gì với những nghề còn lại trong xã hội, đặc biệt với những nghề luật khác.

Nghề luật nói chung là một nghề nhiều thách thức nhất trên thế giới bởi vào mọi thời điểm, người hành nghề đều phải trải qua quá trình khắc nghiệt của tư duy, toan tính và lý lẽ mà chưa kể tới khi họ đóng vai trò thiết kế chính sách, tư vấn pháp lý, xét xử hay đại diện cho khách hàng thông thường trước tòa án[3]. Vì vậy, trước hết Luật sư mang những đặc điểm chung của nghề luật. Lý do chính của sự tồn tại nghề luật là sự đòi hỏi của xã hội đối với sự ra đời, tồn tại và phát triển của pháp luật để điều tiết các quan hệ phát sinh trong chính nó và phòng ngừa hay chống lại sự vi phạm sự điều tiết đó. Chỉ khi có sự xuất hiện của một thiết chế nhằm phân xử những sự vi phạm đó, nghề luật mới ra đời. Thiết chế đó là tòa án – nơi những người chuyên lo việc xét xử tiến hành công việc của mình. Khi chưa có tòa án, trong các bộ lạc, thôn, bản…, những vi phạm quy tắc chung của cộng đồng đã được phán xử bởi những nhân vật mà cộng đồng chấp nhận theo tập quán, chẳng hạn như thủ lĩnh bộ lạc, già làng, trưởng bản… Tuy nhiên, những hoạt động phân xử đó không thể được xem như một nghề nghiệp. Tiếp theo sự ra đời của thiết chế tòa án, một loạt nghề nghiệp liên quan theo đó mà xuất hiện hoặc tồn tại và có sự mở rộng nhất định. Do đó nghề luật nói chung là một nghề nghiệp gắn liền với việc đòi hỏi tuân thủ pháp luật, chứ không phải là gắn cả với việc làm ra luật như quan niệm của Học viện Tư pháp[4]. Đặc điểm gắn với việc đòi hỏi tuân thủ pháp luật của nghề luật khác với quan niệm của Phan Trung Hoài cho rằng nghề Luật sư nói riêng và nghề luật nói chung phải tuân thủ pháp luật. Tuân thủ pháp luật là một đòi hỏi chung mang tính khách quan đối với toàn bộ đời sống xã hội. Bất kể ai, dù hành nghề hay không hành nghề luật, hoặc dù hành nghề nào đi chăng nữa thì đều phải tuân thủ pháp luật. Nghề luật là nghề bảo đảm việc tuân thủ pháp luật bằng cách thức tổng quát là cưỡng chế hay khuyên răn hoặc ngăn cản. Đôi khi ngăn cản cả việc bất tuân thủ pháp luật của chính bản thân những người hành nghề luật. Chẳng hạn: quan hệ giữa viện kiểm sát nhân dân với tòa án nhân dân, giữa tòa án cấp trên với tòa án cấp dưới, giữa Luật sư với thẩm phán thể hiện rất rõ sự ngăn cản việc bất tuân thủ pháp luật của chính bản thân những người hành nghề luật. Bộ luật Hình sự năm 2015 (được sửa đổi, bổ sung năm 2017) của Việt Nam có một chương riêng quy định các tội xâm phạm hoạt động tư pháp (từ Điều 367 đến Điều 391) với nhiều tội danh liên quan tới cấm hay ngăn cản các hành vi trong một số hoạt động nghề luật.

Luật sư là một nghề nghiệp đặc biệt không chỉ liên quan tới vấn đề pháp lý đơn thuần, mà còn liên quan tới việc bảo đảm cho tổ chức đời sống chính trị của một quốc gia xuất phát từ nguyên tắc quyền bình đẳng của công dân trước pháp luật, nhà nước pháp quyền, dân chủ trong xét xử, tư pháp độc lập và thi hành pháp luật. Do đó Luật sư không chỉ là người có trình độ pháp lý đơn thuần, mà còn phải có đạo đức phù hợp và có kỹ năng nghề nghiệp. Tuy nhiên không phải vì thế mà có thể cho rằng hoạt động nghề nghiệp của Luật sư mang bản chất dân chủ mặc dù sự ra đời của nền dân chủ luôn luôn là cơ sở quan trọng cho việc thúc đẩy nghề nghiệp Luật sư. Trong nền pháp lý phát sinh ra nghề Luật sư từ thủa ban đầu, không có quan niệm dân chủ như ngày nay và thực tế có sự bất bình đẳng giới và bất bình đẳng sâu sắc giữa các tầng lớp trong xã hội. Như đã biết, nghề Luật sư xuất hiện đầu tiên ở Hy Lạp cổ đại. Lúc đó về chính trị, ở Hy Lạp cổ đại, người ta có xu hướng cho phép thường dân tham gia vào đời sống quốc gia làm xuất hiện tầng lớp công dân tự do, thế nhưng vẫn giữ nguyên chế độ nô lệ[5].

Tất cả các vấn đề dân chủ, nhà nước pháp quyền, bình đẳng hay độc lập xét xử nếu có thì luôn luôn trở thành những nguyên tắc hay những chế định quan trọng của pháp luật. Do đó khi nói tới đặc điểm “gắn với việc đòi hỏi tuân thủ pháp luật” của nghề luật nói chung và nghề Luật sư nói riêng là đã nói tới việc bảo đảm thi hành các nguyên tắc hay các chế định đó. Nhược bằng các nguyên tắc hay các chế định đó không có hay chỉ có mang tính hình thức trong pháp luật thì cũng không thể nói nghề Luật sư biến mất nếu như Luật sư vẫn được hoạt động dù mang tính hình thức. Dưới các chế độ độc tài trước kia, Luật sư vẫn được phép hoạt động, có thể đơn giản như là một thủ tục tại tòa án. Chẳng hạn các phiên tòa xét xử các đảng viên đảng cộng sản dưới chế độ Đức quốc xã.

Nguyễn Văn Tuân cho rằng nghề Luật sư có các đặc thù như: (1) nghề Luật sư đòi hỏi những người hành nghề Luật sư phải có trình độ chuyên môn và có tính chuyên nghiệp cao; (2) Luật sư hành nghề độc lập và tự chịu trách nhiệm cá nhân trước khách hàng về hoạt động nghề nghiệp của mình; (3) Luật sư là một nghề không chỉ đòi hỏi về chuyên môn cao, mà còn đòi hỏi người hành nghề phải có tư cách đạo đức tốt[6]. Đây là những phân tích rất sâu và hữu ích không chỉ cho việc nghiên cứu lý luận, mà còn cho hoạt động thực tiễn hành nghề Luật sư. Tuy nhiên đây là các phân tích về Luật sư hơn là phân tích về nghề Luật sư.

Nghề Luật sư có những đặc điểm sau trong sự đối sánh với các nghề nghiệp khác:

Thứ nhất, nghề Luật sư là một nghề nghiệp được thực hiện bởi các Luật sư – những người được đào tạo đặc biệt để có trình độ pháp lý, kỹ năng pháp lý và đạo đức nghề luật thích hợp. Đặc điểm này nói tới chủ thể của hoạt động Luật sư (như trên đã nói bao gồm: tranh tụng, tư vấn, đại diện…). Chính bởi tính chất đặc biệt về chuyên môn của loại hoạt động này và sự tác động lớn của nó tới cá nhân cụ thể và cộng đồng, nên đòi hỏi phải có một loại chủ thể đặc biệt. Thông thường nghề luật sư lựa chọn những người đã có trình độ pháp lý cao và có đạo đức thích hợp để đào tạo nghề. Hầu hết các nước đi theo khuynh hướng này chứ không lựa chọn những người bình thường để đào tạo luật sư. Trong khi đó hầu hết các nghề nghiệp khác đào tạo những người bình thường để có trình độ, kỹ năng và đạo đức phù hợp, trừ những yêu cầu nghề nghiệp đặc biệt về sức khỏe (như quân đội, thợ mỏ, hàng hải…), về năng khiếu (như kiến trúc, nghệ thuật…). Bác sĩ y khoa không bắt đầu từ những người đã có trình độ y học nhất định. Hiện nay, hầu hết các nước trên thế giới, người ta đào tạo bác sĩ y khoa từ những người bình thường tốt nghiệp trung học phổ thông. Đối với nghề kiến trúc sư cũng vậy, nhưng bắt đầu từ người có năng khiếu nhất định về hội họa, tốt nghiệp trung học phổ thông… Đặc điểm này của nghề Luật sư dẫn tới sự khác biệt lớn trong quy chế vào nghề của Luật sư so với quy chế vào nghề của thương nhân và những người cung cấp dịch vụ khác mà đòi hỏi pháp luật phải chú ý.

Thứ hai, nghề Luật sư là một nghề nghiệp tự do. “Luật sư độc lập trong hành nghề và tự chịu trách nhiệm về hoạt động nghề nghiệp của mình”[7]. Đặc điểm này của nghề Luật sư hình thành do chính tính chất hoạt động “không thể dựa dẫm” của Luật sư liên quan tới từng hoàn cảnh cụ thể quy định (vụ việc cụ thể, hoàn cảnh tư vấn cụ thể…). Đặc điểm này tác động rất lớn tới việc tổ chức hành nghề luật sư. Vì vậy, việc quản lý nhà nước đối với luật sư cũng có những tính chất riêng biệt so với việc quản lý nhà nước đối với các lĩnh vực thương mại hoặc dịch vụ khác. Rất nhiều ý kiến hiện nay cho thấy: số lượng luật sư được cấp thẻ hành nghề thì đông, nhưng số lượng luật sư hành nghề và kiếm sống được bằng nghề luật sư một cách thực chất đúng với nghĩa là hành nghề luật sư thì không nhiều, có thể chỉ chiếm khoảng 1/3 trong tổng số các luật sư được cấp thẻ hành nghề. Số luật sư này cung cấp dịch vụ chuyên nghiệp toàn thời gian không nhiều. Số lượng luật sư làm theo kiểu “thời vụ” hoặc một phần thời gian cho thấy việc ràng buộc luật sư vào một tổ chức nhất định không phải là một khâu quản lý có tính chất bắt buộc.

Thứ ba, nghề nghiệp luật sư là một nghề cung cấp dịch vụ có đối khoản được lượng hóa rất tương đối. Dịch vụ mà luật sư cung cấp có các chức năng: (1) chức năng chỉ dẫn; và (2) chức năng phản biện. Đây là các chức năng chủ yếu của luật sư đem lại nguồn thu nhập chủ yếu cho Luật sư, tức là Luật sư khi bán ra dịch vụ pháp lý và luôn thu lại một đối khoản thể hiện đúng tính chất luật sư là một nghề nghiệp, trừ những hoạt động có tính chất đóng góp cho xã hội gần giống như trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp, ví dụ như trợ giúp pháp lý, phổ biến, tuyên truyền pháp luật không lấy tiền. Bởi Luật sư là những người am hiểu tường tận về pháp luật và cả những đường lối cũng như cách thức xử lý các vi phạm pháp luật, cho nên luật sư cung cấp các dịch vụ tư vấn pháp lý nhằm chỉ dẫn cho khách hàng hành xử đúng pháp luật trong các hoạt động sống của mình và góp phần phản biện để áp dụng đúng pháp luật cho những vụ việc tranh chấp cụ thể được đưa ra các cơ quan tài phán. Tuy nhiên, sự bù đắp công sức do luật sư bỏ ra và sự sáng tạo do luật sư đem lại luôn là vấn đề gây tranh luận. Sự bù đắp ở đây chỉ có tính tương đối trên những cơ sở thiếu chắc chắn, nhất là đối với những gì mà luật sư sáng tạo ra trong việc hiểu pháp luật và tìm kiếm giải pháp cho tranh chấp cụ thể đó, góp phần phát triển án lệ.

Thứ tư, nghề nghiệp Luật sư là một nghề “bán kinh doanh”. Luật sư, Tiến sĩ Phan Trung Hoài viết: “Chức năng xã hội của Luật sư được thể hiện thông qua khả năng đáp ứng nhu cầu pháp lý của người dân một cách minh bạch và tạo ra cho người dân nhận biết chân thực và công bằng các nhu cầu chính đáng ấy”, và với chức năng này thì “Phẩm chất của Luật sư trong điều kiện hiện nay được đánh giá không chỉ là người tuân thủ pháp luật, có kỹ năng và kỷ luật, trình độ tinh thông nghề nghiệp, tận tâm với khách hàng, mà còn phải là người có tấm lòng yêu thương đối với xã hội, có lối sống lành mạnh, lòng đầy tự tin vào chính nghĩa, tin vào công bằng xã hội”[8]. Vì vậy, Luật sư không chỉ đơn thuần cung cấp dịch vụ để lấy tiền như những nghề nghề nghiệp khác, mà còn là những người đóng góp trực tiếp cho việc bảo đảm tuân thủ pháp luật. Hoạt động kinh doanh đơn thuần thông qua việc mua bán, trao đổi hàng hóa, dịch vụ mà giá cả của nó do quan hệ cung cầu quyết định đóng góp cho sự phát triển kinh tế – xã hội. Còn trong nghề Luật sư, mỗi hoạt động cung cấp dịch vụ đơn lẻ đều đóng góp trực tiếp cho sự tuân thủ pháp luật và bình ổn của xã hội.

Các đặc điểm của nghề Luật sư thể hiện trong pháp luật một số nước

Như trên nói, nghề Luật sư có các đặc điểm khác biệt so với hầu hết các ngành nghề khác, do dó dẫn đến Luật sư phải chịu một quy chế pháp lý khá ngặt nghèo về tiêu chuẩn vào nghề, về chuẩn mực trong hành nghề và về kỷ luật cũng như chấm dứt hành nghề.

Luật Nhất thể Nghề luật của New South (Australia) năm 2014 (Legal Profession Uniform Law (NSW) (2014 No 16a) nói rằng: Mục đích của các quy định về tiêu chuẩn vào nghề Luật sư nhằm bảo đảm nghề nghiệp pháp lý được tiến hành chỉ bởi những người có phẩm chất riêng để tiến hành nghề nghiệp đó vì lợi ích của việc thi hành công lý, và bảo vệ khách hàng của thực hành nghề luật bởi bảo đảm rằng những người tiến hành nghề nghiệp pháp lý được phép làm như vậy (Điều 9). Đạo luật này tại ngay Điều 10 quy định cấm bất kỳ tổ chức hay cá nhân nào thực hành nghề luật mà không đủ tiêu chuẩn. Chế tài vi phạm điều cấm này là một khoản phạt tiền lên tới 250 đơn vị phạt (penalty units) theo đạo luật về chống tội phạm của New South Wales hoặc 02 năm tù hoặc cả hai hình phạt đó. Đạo luật này còn quy định một tổ chức hoặc cá nhân không được phép thu tiền mà vi phạm quy định cấm nói trên, nhất thiết phải trả lại khoản tiền đó (Điều 10).

Đạo luật về nghề luật (The Jamaica Legal Profession Act) ngày 03/01/1972 của Jamaica quy định một người được phép hành nghề luật khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:

(1) Có chứng chỉ về năng lực;

(2) Đủ 21 tuổi;

(3) Không phải là công dân nước ngoài; và

(4) Có đạo đức tốt (Điều 6, khoản 1).

Điều 8, khoản 1 của đạo luật này của Jamaica quy định chế tài rất nghiêm khắc đối với người không được vào nghề mà tiến hành hoạt động nghề nghiệp như một luật sư như sau: phạt năm trăm nghìn đô la cho lần thứ nhất vi phạm và một triệu đô la cho lần thứ hai và các lần tiếp theo vi phạm hoặc một năm tù hoặc cả hai hình phạt tiền và tù. Đạo luật này cũng sử dụng chế tài như vậy đối với những hành vi tạo dựng hay sử dụng tên hoặc danh nghĩa hoặc bộ điệu ngụ ý mình có đủ phẩm chất hay được thừa nhận là một luật sư (Điều 8, khoản 2). Những công việc của những người vi phạm như vậy dù thực hiện dưới danh nghĩa hay đại diện cho một luật sư thực sự thì đều không được nhận phí (Điều 8, khoản 3 và 4).

Đạo luật về nghề luật (Legal Profession Act) năm 1966 (được sửa đổi năm 2009) của Singapore quy định người có đủ năng lực chỉ được vào nghề để trở thành luật sư tranh tụng (advocate) và luật sư tư vấn (solicitor) khi đáp ứng các tiêu điều kiện sau:

+ Đủ 21 tuổi;

+ Có đức tính tốt;

+ Đã trải qua một quá trình huấn luyện đạt kết quả khả quan;

+ Đã tham dự và hoàn thành khóa học do nhà chức trách có thẩm quyền chỉ định;

+ Đã qua kỳ thi do nhà chức trách có thẩm quyền tổ chức (Điều 13).

Đặc tính quan trọng nhất hệ thống pháp luật Đức là tất cả các nghề luật được cùng giáo dục nghề nghiệp như nhau (the same professional education). Lars Gerold giới thiệu: Từ thế kỷ thứ 19, luật được nghiên cứu tại trường đại học, và hai năm tiếp theo, thực tập sinh pháp luật (judicial traineeship) được huấn luyện và chi trả bởi nhà nước để học tập và huấn luyện làm tất cả các vị trí như thẩm phán, công tố, quản lý hành chính và luật sư hay cố vấn pháp lý, rồi sau đó những thực tập sinh đáp ứng được các tiêu chuẩn gia nhập các Luật sư đoàn không cần phải qua kiểm tra[9].

Luật sư có thể thực hiện nhiều chức năng hay nhiệm vụ khác nhau với các vai trò khác. Luật sư có thể là đại diện cho khách hàng (như làm đại diện cho thân chủ trong những vụ việc dân sự, trong vụ án hình sự hay trong thương lượng…) hoặc là một bên thứ ba trung gian (như làm người hòa giải, tham vấn…), là một nhân viên của một hệ thống pháp lý nào đấy (như làm người đánh giá các vấn đề pháp lý của một tổ chức nào đấy hay tư vấn pháp lý cho công ty hay tổ chức…) hoặc là một người của công chúng có trách nhiệm đặc biệt trong việc tác động tới công lý (như làm người phổ biến, tuyên truyền pháp lý hay đại diện cho nhà nước đưa ra các giải pháp lý trong những trường hợp đặc biệt…). Vì vậy, trước hết, có vai trò là người ảnh hưởng tới sự bình ổn của cộng đồng, và sau đó là tính chất đặc biệt của các hoạt động, đối với nghề luật sư, pháp luật cần thiết phải can thiệp để ấn định những tiêu chuẩn đặc biệt về nghề nghiệp.

Một số khảo sát ở trên về pháp luật của các nước quy định về tiêu chuẩn vào nghề của luật sư có những điểm tương đồng. Các tiêu chuẩn đều hướng tới đòi hỏi người vào nghề luật sư phải đạt đến một độ tuổi nhất định mà thường là độ tuổi có năng lực hành vi dân sự đầy đủ (có thể là 18 hay 21 tuổi tùy theo pháp luật của từng nước quy định), có năng lực về chuyên môn nhất định và có đạo đức tốt. Tuy nhiên, để trở thành luật sư thực sự được hành nghề, những người đáp ứng đủ các tiêu chuẩn nói trên phải xin và được nhà chức trách có thẩm quyền cấp chứng chỉ hành nghề. Các tiêu chuẩn phản ánh nội dung cần phải có. Việc được cấp chứng chỉ hành nghề phản ánh hình thức phải đạt được. Các vấn đề này giống như người xin kinh doanh ở những ngành nghề kinh doanh có điều kiện.

Hiện nay việc tổ chức hành nghề Luật sư ở các nước trên thế giới có một vài sự khác biệt. Ở Đức, Luật sư có ba hình thức tổ chức hành nghề chủ yếu: hành nghề độc lập (solo practice); công ty hợp danh (partnership); và liên kết (co-operation). Luật sư hành nghề độc lập có thể chia sẻ văn phòng cùng với hai hoặc ba đồng nghiệp, phân bổ thu nhập từ khách hàng theo sự đóng góp và hoạt động trên căn bản mỗi người tiến hành hoạt động riêng, tự chịu rủi ro và vì lợi ích riêng. Còn liên kết là sự nhóm hợp lại của một số Luật sư hành nghề độc lập trong một tổ chức không rõ ràng về mặt pháp lý trên căn bản mỗi người hoạt động riêng rẽ và tự chịu trách nhiệm về các rủi ro và có các lợi ích riêng. Hình thức này thông thường được các Luật sư có chuyên môn ở các lĩnh vực khác nhau liên kết lại với nhau để có thể chào hàng cho khách hàng trong việc cung cấp các dịch vụ pháp lý trong tất cả các lĩnh vực pháp luật[10].

Ở Đức, theo số liệu thống kê đến năm 2008, hầu hết các luật sư (khoảng 88%) hành nghề trong các văn phòng Luật sư nhỏ có dưới 09 nhân viên; 9,1% làm việc trong các công ty luật cỡ trung bình có từ 10 đến 19 nhân viên và chỉ khoảng 2,9% luật sư làm việc trong các công ty luật lớn có từ 20 nhân viên trở lên[11]. Các thông tin này cho thấy phân loại các tổ chức hành nghề luật theo quy mô hay kích cỡ không mấy phụ thuộc vào doanh thu mà thường dựa vào số lượng Luật sư hành nghề tại tổ chức đó.

Việc hiểu sâu sắc và đầy đủ các đặc điểm của nghề luật sư có ý nghĩa rất lớn trong việc xây dựng và hoàn thiện pháp luật về Luật sư từ quy chế vào nghề, tổ chức hành nghề, quản lý Luật sư và sau khi chấm dứt hành nghề Luật sư.

Nguồn: lsvn.vn

2021-12-27 / by / in
Thưởng Tết năm 2022: Thưởng bằng hiện vật có sai quy định?

Thưởng Tết cuối năm là khoản tiền mà người lao động mong chờ nhất.

Khoản 1 Điều 104 Bộ luật Lao động năm 2019 quy định về thưởng như sau: Thưởng là số tiền hoặc tài sản hoặc bằng các hình thức khác mà người sử dụng lao động thưởng cho người lao động căn cứ vào kết quả sản xuất, kinh doanh, mức độ hoàn thành công việc của người lao động.

Vì thế, doanh nghiệp không có nghĩa vụ bắt buộc phải thưởng cho người lao động. Thay vào đó, tùy vào tình hình kinh doanh, mức độ hoàn thành công việc… mà doanh nghiệp có xem xét thưởng cuối năm nhiều hay ít, hoặc không thưởng.

Thưởng Tết 2022 thế nào? | VTV.VN

Thưởng Tết có thể bằng hiện vật

Ngoài thưởng Tết 2022 bằng tiền mặt, doanh nghiệp có thể thưởng cho nhân viên bằng hiện vật.

Theo quy định thưởng Tết tại Điều 104 Bộ luật Lao động năm 2019, doanh nghiệp có thể thưởng cho người lao động bằng tài sản hoặc các hình thức khác ngoài tiền. Ví dụ, thưởng vé du lịch, vé tàu xe để về quê; hoặc các hiện vật có giá trị như: đồ gia dụng, xe máy, ôtô…

Ngoài khoản tiền thưởng Tết, người lao động cũng mong chờ, tò mò khoản tiền lương tháng thứ 13 năm 2022 ra sao? Thực tế, không có văn bản pháp luật nào quy định doanh nghiệp phải trả tiền lương tháng thứ 13. Tuy nhiên, trong các hợp đồng lao động, hai bên người sử dụng lao động và người lao động có ký kết nội dung thưởng tiền tháng 13 thì bạn sẽ được nhận khoản tiền này.

Khoản tiền lương tháng thứ 13 được tính theo mức bình quân tiền lương trong năm, hoặc theo mức lương tháng thứ 12 của người lao động.

Ngoài ra, một tin vui cho người lao động trong Tết Nhâm Dần 2022 là được nhận khoản tiền thăm hỏi trị giá 300.000 đồng từ quỹ tài chính của công đoàn.

Cụ thể, theo Kế hoạch 146/KH-TLĐ nêu rõ, Tết 2022, người lao động có đóng bảo hiểm xã hội (BHXH) tại doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp ngoài công lập có đóng kinh phí công đoàn; cán bộ, công chức, viên chức có hoàn cảnh khó khăn được chăm lo, thăm hỏi từ nguồn tài chính công đoàn với mức 300 nghìn đồng/người.

Theo đó, hai đối tượng được hưởng tiền thăm hỏi gồm, người lao động có đóng BHXH tại doanh nghiệp, đơn vị sự nghiệp ngoài công lập có đóng kinh phí công đoàn. Cán bộ, công chức, viên chức có hoàn cảnh khó khăn.

Nguồn: dantri.com.vn

2021-12-27 / by / in ,
Thưởng Tết 2022: Nhân viên ngân hàng trên 100 triệu đồng

Theo chuyên gia, lợi nhuận của các ngân hàng năm nay tăng khoảng 10%. Do vậy, mức thưởng nhân viên vẫn ở mức cao, Tết Dương lịch từ 1-3 tháng lương, Tết Nguyên đán ở mức cao hơn, từ 2-6 tháng lương.

Những ngày cuối năm, tại các diễn đàn việc làm, vấn đề thưởng Tết đang là chủ đề “nóng” với hàng ngàn chia sẻ mỗi ngày. Đặc biệt, sau khi một ngân hàng thương mại thông báo mức thưởng Tết Dương lịch là một tháng lương thực lãnh, tương đương gần 30 triệu đồng.

Theo chị Trần Thị Thúy (nhân viên ngân hàng tại quận Tân Bình, TPHCM), mức thưởng Tết 30 triệu đồng là “quá bình thường”. Ngân hàng nơi chị Thúy làm việc chưa công bố mức thưởng Tết nhưng dự kiến cũng không thấp hơn 30 triệu đồng.

“Dịch Covid-19 khiến nhiều ngành nghề chịu ảnh hưởng khá nặng nề nhưng tôi nghĩ ngành ngân hàng chịu tác động không lớn. Giao dịch trong thời gian giãn cách có giảm nhưng những ngày sau đó đều tăng đột biến. Chúng tôi vẫn phải làm việc miệt mài từ sáng tới khuya, làm thêm cả dịp cuối tuần”, chị Thúy chia sẻ.

Năm 2021, mức thưởng Tết của chị Thúy trên 100 triệu đồng. Dựa vào tình hình kinh doanh hiện tại, chị dự kiến mức thưởng Tết vẫn duy trì ở mức 6-7 tháng lương. Hiện, các nhân viên ngân hàng có mức lương, trợ cấp từ 15-45 triệu đồng/tháng.

Thưởng Tết 2021: Rất khó để có mức thưởng cao

“Chưa có thông báo chính thức nhưng các sếp cũng chia sẻ trong các cuộc họp rằng mức lương sẽ không thấp hơn năm ngoái. Không riêng thưởng Tết, trợ cấp những tháng gần đây cũng tăng. Tôi nghĩ sẽ ở mức 150 triệu đồng”, cô gái kinh nghiệm 12 năm làm ngành ngân hàng tâm sự.

Không riêng chị Thúy, nhiều ngân viên ngân hàng cũng tự tin mức thưởng năm nay sẽ tăng mạnh. Tuy vậy, mức thưởng còn phụ thuộc vào đánh giá, xếp hạng của từng nhân viên và từng ngân hàng.

“3 năm nay thưởng, phụ cấp Tết đều trên 100 triệu đồng nên năm nay chắc cũng vậy. Năm nay công việc mình vẫn rất nhiều. Càng gần Tết thì càng phải tăng ca nhiều, có những đêm ngủ lại ở cơ quan luôn mới làm hết công việc”, Huỳnh Thu Ngân (nhân viên ngân hàng ở Tân Phú) cho hay.

Theo ông Đinh Văn Tiệp – Chuyên gia kinh tế tại TPHCM, lợi nhuận của khối ngân hàng năm nay sẽ tăng khoảng 5-10%. Mức thưởng Tết cũng tùy thuộc vào cơ chế từng ngân hàng nhưng nhìn chung sẽ không thấp hơn năm 2021, trung bình khoảng 6-8 tháng lương.

Ông Đinh Văn Tiệp nhận định: “Những nhân viên quản lý rủi ro, nhân viên kinh doanh, nhân viên tín dụng, chuyên viên phân tích tài chính… sẽ có mức thưởng cao trên 150 triệu đồng. Những nhân viên khác cũng sẽ duy trì ở mức 100 triệu đồng. Tuy vậy, nếu nhân viên bị kỷ luật, không hoàn thành nhiệm vụ sẽ không có thưởng cao”.

Thưởng Tết Canh Tý 2020 có gì mới? - Báo Tây Ninh Online

Trái lại với sự sôi nổi từ các nhân viên ngân hàng, nhân sự tại các ngành may mặc, dịch vụ, thương mại, du lịch… khá buồn khi nghĩ đến thưởng Tết. Không ít người đã bỏ việc trước Tết vì “thưởng cũng như không”.

“Rất ít doanh nghiệp có thưởng Tết Dương lịch. Tết Nguyên đán các doanh nghiệp hiện vẫn đang bàn và chưa thể quyết định. Tình hình này chắc phải qua tháng 1/2022 các doanh nghiệp mới có báo cáo về thưởng Tết”, một lãnh đạo LĐLĐ quận Bình Tân thông tin.

Theo lãnh đạo LĐLĐ quận Bình Tân, các doanh nghiệp trên địa bàn vừa mới quay lại sản xuất nên vẫn còn rất nhiều khó khăn. LĐLĐ cũng đã và đang phối hợp với các công đoàn cơ sở để đảm bảo thưởng Tết cơ bản cho người lao động.

“Họ vừa quay lại sản xuất, chưa ổn định mà mình đặt nặng vấn đề lương thưởng quá cũng kẹt cho doanh nghiệp. Khảo sát thì họ đều nói sẽ có, khoảng 1 tháng lương nhưng cụ thể bao nhiêu thì doanh nghiệp chưa thể tính được lúc này. Dự kiến, năm nay lương, thưởng Tết sẽ thấp hơn năm 2021 nhiều”, đại diện LĐLĐ Bình Tân nói thêm.

Nguồn: dantri.com.vn

2021-12-27 / by / in ,
Điều kiện nghỉ hưu do tinh giản biên chế mà không bị trừ lương

Đối tượng tinh giản biên chế quy định tại Điều 6 NĐ 143 nếu có tuổi thấp hơn tối đa đủ 5 tuổi và thấp hơn tối thiểu đủ 2 tuổi so với tuổi nghỉ hưu quy định tại khoản 2 Điều 169 Luật Lao động.

Đồng thời, đối tượng trên có đủ 20 năm đóng BHXH trở lên, được hưởng chế độ hưu trí theo quy định của pháp luật về BHXH, không bị trừ tỷ lệ lương hưu do việc nghỉ hưu trước tuổi.

Ông Lê Ngọc Tứ (sinh ngày 21/3/1966) có nguyện vọng được nghỉ việc theo chính sách tinh giản biên chế vào năm 2022 để hưởng chế độ nghỉ hưu trước tuổi trong điều kiện làm việc bình thường, ông có đủ năm đóng BHXH bắt buộc. Tại Văn bản số 223/BLĐTBXH-BHXH ngày 28/1/2021 của Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội có nêu: “Cần căn cứ vào thời điểm tinh giản biên chế và tuổi nghỉ hưu của năm đó”. Tinh giản biên chế vào năm 2022 thì tuổi nghỉ hưu năm 2022 đối với nam là 60 tuổi 6 tháng. Tính đến hết tháng 12/2021 ông được 55 tuổi 9 tháng (số năm, tháng nghỉ hưu trước tuổi là 4 năm 9 tháng).
Ông Tứ hỏi: Thời điểm nghỉ việc theo chính sách tinh giản biên chế đối với trường hợp của ông là ngày 1/1/2022 có đúng không?

VGP News :. | Điều kiện hưởng lương hưu tối đa từ năm 2021 | BÁO ĐIỆN TỬ  CHÍNH PHỦ NƯỚC CHXHCN VIỆT NAM

Về vấn đề này, Bảo hiểm xã hội Việt Nam trả lời như sau:

Tại Khoản 2 Điều 1 Nghị định số 143/2020/NĐ-CP ngày 10/12/2020 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung Điều 8 Nghị định số 108/2014/NĐ-CP ngày 20/11/2014 của Chính phủ và các Khoản 6, Khoản 7 Điều 1 Nghị định số 113/2018/NĐ-CP ngày 31/8/2018 của Chính phủ quy định: Đối tượng tinh giản biên chế quy định tại Điều 6 Nghị định này nếu có tuổi thấp hơn tối đa đủ 5 tuổi và thấp hơn tối thiểu đủ 2 tuổi so với tuổi nghỉ hưu quy định tại khoản 2 Điều 169 Bộ luật Lao động và có đủ 20 năm đóng BHXH trở lên, được hưởng chế độ hưu trí theo quy định của pháp luật về BHXH, không bị trừ tỷ lệ lương hưu do việc nghỉ hưu trước tuổi.

Việc xem xét để người lao động nghỉ việc theo chính sách tinh giản biên chế không thuộc thẩm quyền của cơ quan BHXH mà thuộc thẩm quyền của cơ quan quản lý người lao động. Đề nghị ông liên hệ với cơ quan quản lý nơi ông làm việc để được trả lời cụ thể về việc hưởng chính sách tinh giản biên chế theo nguyện vọng của ông.

Về giải quyết chế độ hưu trí đối với ông, cơ quan Bảo hiểm xã hội sẽ căn cứ vào hồ sơ do người sử dụng lao động lập và chuyển đến, trong trường hợp ông đủ điều kiện hưởng theo quy định cơ quan BHXH sẽ xem xét giải quyết đảm bảo kịp thời quyền lợi đối với ông.

Nguồn: dantri.com.vn

2021-12-27 / by / in
Tuân thủ pháp luật, yếu tố sống còn của tổ chức tín dụng
Các nhà băng luôn được bao phủ bởi hệ thống văn bản quy phạm pháp luật ‘trói chặt’ gấp nhiều lần các lĩnh vực khác, bởi hoạt động gắn liền với ‘rất nhiều tiền’, đi kèm đó là trách nhiệm nặng nề về dân sự, hình sự…
Bởi vậy, mối quan tâm chung lớn nhất của các lãnh đạo trong toàn hệ thống ngân hàng là tuân thủ các quy định pháp luật.

Sửa điều lệ đảm bảo tuân thủ quy định

Trao đổi với Ðầu tư Chứng khoán về lý do lùi thời gian tổ chức Ðại hội đồng cổ đông (ÐHCÐ) năm 2019 đã công bố là ngày 28/3/2019 sang thời gian mới là ngày 24/4/2019, một lãnh đạo cấp cao LienVietPostBank cho biết, Ngân hàng đang hoàn thiện việc chỉnh sửa Ðiều lệ nhằm đảm bảo tuân thủ Thông tư 13/2018/TT-NHNN của Ngân hàng Nhà nước (NHNN) quy định về hệ thống kiểm soát nội bộ của ngân hàng thương mại, chi nhánh ngân hàng nước ngoài.

“Bộ phận pháp chế đang rà soát lại để sửa những điểm chưa phù hợp”, vị lãnh đạo LienVietPostBank chia sẻ.

Về vấn đề này, một lãnh đạo cao cấp NHNN cho biết: “Về nguyên tắc, các ngân hàng phải thực hiện theo Thông tư từ ngày 1/1/2019. Nếu phát hiện ra điều lệ không phù hợp sẽ phải sửa. Nhưng sửa điều lệ là thẩm quyền của ÐHCÐ nên phải đưa ra trình trước đại hội”.

Nội dung của Thông tư 13/2018/TT-NHNN quy định rất nhiều lĩnh vực như kiểm soát nội bộ, tuân thủ, quản lý rủi ro, kiểm toán nội bộ… với hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2019; đánh giá mức độ đủ vốn có hiệu lực từ ngày 1/1/2021. Thị trường chung nhận định, tác động của những quy định này sẽ làm thay đổi, định hình, điều chỉnh hoạt động kinh doanh của không ít ngân hàng trong thời gian tới.

Ví dụ khái niệm “HÐQT điều hành” có thể còn tồn tại nhưng mức độ ảnh hưởng sẽ giảm đi rất nhiều và dần nhường chỗ cho khuôn khổ quản trị theo chuẩn mực quốc tế. HÐQT tập trung thực hiện đúng vai trò quản trị và chức năng giám sát cần thiết của mình, trong khi Ban điều hành thực hiện công việc hàng ngày dưới sự giám sát của HÐQT và các ủy ban giúp việc. Mức độ trưởng thành của hệ thống quản trị cũng sẽ được nâng cao hơn.

Thông tư 13 cũng đề cập đến các nguyên tắc quản lý rủi ro chính mà ngân hàng phải đối mặt. Mặc dù quản lý rủi ro tín dụng vẫn là cấu phần cơ bản và lớn nhất của các ngân hàng, những vấn đề liên quan đến quản lý rủi ro thanh khoản và rủi ro hoạt động sẽ được chú trọng nhiều hơn trong tương lai. Do đó, xu hướng đổi mới và nâng cấp hệ thống quản lý tài sản có, tài sản nợ cũng như kiện toàn các công cụ quản trị rủi ro hoạt động là những nội dung các nhà băng buộc phải đẩy mạnh trong thời gian tới.

Thực tế, việc tuân thủ các quy định pháp luật luôn được các tổ chức tín dụng đề cao và nghiêm túc thực hiện, bởi đó là một đòi hỏi quan trọng “sống còn” hàng đầu đối với mỗi cán bộ, nhân viên ngành ngân hàng. Ðặc biệt, theo Thông tư số 52/2018/TT-NHNN của NHNN ban hành ngày 31/12/2018 quy định xếp hạng tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài, kể từ ngày 1/4/2019, việc xếp hạng tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài sẽ có hiệu lực.

“Nội dung Thông tư 52 ghi rõ, việc xếp hạng sẽ đảm bảo phản ánh đầy đủ thực trạng hoạt động, rủi ro của các tổ chức tín dụng, chi nhánh ngân hàng nước ngoài và việc tuân thủ đúng quy định của pháp luật được đánh giá cao”, vị lãnh đạo cao cấp của NHNN nói trên cho biết.

Năm 2018, NHNN ban hành 54 văn bản quy phạm pháp luật

Không chỉ các tổ chức tín dụng, mà chính cơ quan quản lý nhà nước cũng đang nỗ lực tạo hành lang pháp lý vững chắc để các tổ chức tín dụng dễ dàng hơn trong việc tuân thủ quy định pháp luật.

Ông Võ Tấn Long, Phó tổng giám đốc Dịch vụ tư vấn công nghệ thông tin, Công ty Tư vấn PwC Việt Nam chia sẻ, thực tế các cơ quan quản lý, đặc biệt là NHNN đang rất chú trọng tới sự phát triển của các công ty FinTech. Theo đó, NHNN đã thành lập một ủy ban hỗ trợ các công ty FinTech với sự tham gia của nhiều lãnh đạo cao cấp trong ngành. Bản thân NHNN nhận thấy rằng, FinTech là một trong những động lực lớn để mở rộng và phổ cập dịch vụ tài chính tại Việt Nam. Vì vậy, cơ quan này rất tích cực trong việc tìm hướng đi để các công ty FinTech có thể phát triển hơn.

“Cụ thể, hiện nay, NHNN đang xây dựng dự thảo cho quy định về ngân hàng đại lý (agent banking) và định danh khách hàng qua các phương tiện điện tử (e-KYC). Hai quy định này nếu được thông qua sẽ mở ra một sân chơi mới cho các công ty FinTech tham gia trực tiếp cung cấp các dịch vụ tài chính cho đông đảo người dân ở Việt Nam”, ông Long nói.

Cũng theo ông Long, bảo mật và an toàn tài chính là mối quan tâm hàng đầu của các công ty FinTech. Vì vậy, NHNN đang có nhiều nỗ lực trong việc nới dần những chính sách liên quan tới quản lý về an toàn, an ninh thông tin. Qua đó, có sự cân đối giữa việc mở cửa, hỗ trợ các FinTech phát triển, đồng thời kiểm soát những thông tin tài chính trên không gian mạng và không gian số. Các công ty FinTech được yêu cầu có sự hợp tác nhất định với ngân hàng trong lĩnh vực cung cấp dịch vụ tài chính, hỗ trợ việc nâng cao an toàn, bảo mật thông tin cho khách hàng.

Trong khi đó, ngân hàng, với tư cách là một doanh nghiệp, có đầy đủ các quyền tự chủ kinh doanh đã được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2013, Luật Doanh nghiệp, Luật Ðầu tư năm 2014 và Bộ luật Dân sự năm 2015. Tuy nhiên, các nhà băng còn được bao phủ bởi hệ thống văn bản quy phạm pháp luật “trói chặt” gấp nhiều lần các lĩnh vực khác, bởi hoạt động luôn gắn liền với “rất nhiều tiền”, đi kèm đó là trách nhiệm nặng nề về dân sự, hành chính và hình sự.

“Mua bán hàng cấm với giá trị lên tới hàng trăm triệu đồng chỉ bị phạt đến 100 triệu đồng theo quy định tại Nghị định số 185/2013/NÐ-CP. Nhưng chỉ cần mua bán vài USD hay vài chỉ vàng miếng đã có thể bị xử phạt 250 triệu đồng theo quy định tại Nghị định số 94/2015/NÐ-CP”, Luật sư Trương Thanh Ðức, Chủ tịch Công ty Luật BASICO nói.

Cũng theo ông Ðức, ngoài việc phải nắm chắc hàng trăm văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh trực tiếp hoạt động, ngân hàng còn phải nắm bắt và chấp hành (hay ít nhất cũng đòi hỏi khách hàng phải tuân thủ) hàng nghìn văn bản thuộc mọi lĩnh vực khác nhau, từ chăn nuôi, trồng trọt, thực phẩm, thương mại, cho đến xây dựng, công nghệ, y tế, giáo dục, môi trường…

“Trách nhiệm tuân thủ hệ thống pháp luật liên quan gián tiếp đến ngân hàng, trước tiên là của khách hàng, nhưng nếu ngân hàng bỏ ngỏ, thì rủi ro pháp lý có thể xuất hiện bất cứ lúc nào và nguy cơ nợ xấu, mất lãi, mất vốn vay là rất lớn. Ðặc biệt, thực tế nhiều năm qua, cứ xảy ra mất tiền tỷ là kiểu gì cán bộ ngân hàng cũng có nguy cơ trở thành tội phạm”, ông Ðức chia sẻ.

Ðược biết, tính từ năm 2011 đến nay, năm 2014 là năm văn bản quy phạm pháp luật được NHNN ban hành nhiều nhất với 61 văn bản và tiếp theo là năm 2018 vừa qua, khi cơ quan này ban hành 54 văn bản quy phạm pháp luật.

Nguồn: antt.vn

2021-12-27 / by / in
TƯ VẤN PHÁP LÝ THƯỜNG XUYÊN CHO DOANH NGHIỆP LÀ GÌ ?

Trong quá trình hoạt động, Doanh nghiệp sẽ luôn gặp phải các vướng mắc pháp lý mà đội ngũ nhân sự của Doanh nghiệp không đủ khả năng để giải quyết bởi đây là vấn đề mới, vấn đề phức tạp, vấn đề cần được giải quyết bởi nhân sự có chuyên môn, kinh nghiệm … hoặc đơn giản bởi Công ty không có đội ngũ pháp chế. Trên cơ sở đó, chúng tôi thiết lập và cung cấp dịch vụ tư vấn pháp lý thường xuyên cho Doanh nghiệp để đảm bảo Doanh nghiệp luôn được giải quyết các vướng mắc một cách kịp thời, đảm bảo hiệu quả và tránh rủi ro trong quá trình hoạt động sản xuất kinh doanh.

TƯ VẤN PHÁP LÝ THƯỜNG XUYÊN CHO DOANH NGHIỆP LÀ GÌ ?

Tư vấn pháp lý thường xuyên cho Doanh nghiệp là một phương thức cung cấp dịch vụ pháp lý của Luật sư để giải quyết những vấn đề pháp lý phát sinh thường xuyên hoặc đột xuất trong quá trình hoạt động của Doanh nghiệp.

Khi sử dụng dịch vụ tư vấn pháp lý thường xuyên, Khách hàng có thể liên hệ với Luật sư bất kỳ khi nào theo các phương thức thỏa thuận để đưa ra các yêu cầu tư vấn hoặc những các đề nghị phối hợp giải quyết vụ việc.

Việc sử dụng dịch vụ tư vấn pháp lý thường xuyên giúp Doanh nghiệp giải quyết nhanh chóng, chính xác các vấn đề / vụ việc pháp lý gặp phải trong quá trình hoạt động.

TẠI SAO NÊN SỬ DỤNG DỊCH VỤ TƯ VẤN PHÁP LÝ THƯỜNG XUYÊN

Khi Doanh nghiệp của bạn không có phòng, ban pháp chế hoặc đội ngũ nhân sự phụ trách về pháp chế không có khả năng chuyên môn, kinh nghiệm để giải quyết tất cả các vấn đề pháp lý xoay quanh hoạt động của Doanh nghiệp, thì bạn nên sử dụng dịch vụ tư vấn pháp lý thường xuyên. Bởi:

1. Về tính kinh tế:

  • Chỉ phải chi trả cho một Luật sư mà vẫn nhận được khối lượng kiến thức tư vấn chuyên môn của toàn bộ đội ngũ Luật sư và chuyên gia giàu kinh nghiệm đa dạng trên các lĩnh vực;
  • Sử dụng dịch vụ Luật sư nội bộ sẽ tiết kiệm hơn đến 70% chi phí cho một Luật sư toàn thời gian làm việc tại doanh nghiệp với khối lượng công việc tương đương hoặc Luật sư theo vụ việc phát sinh;
  • Tiết kiệm được chi phí quản lý nhân sự và các phúc lợi liên quan đến một nhân sự toàn thời gian tại doanh nghiệp như bảo hiểm xã hội, công đoàn, tiền thưởng, trang phục, chi phí quản lý,…
  • Lợi ích và chi phí mà doanh nghiệp tiết kiệm được khi đã kiểm soát tốt các rủi ro pháp lý là vô cùng to lớn và ảnh hưởng trực tiếp đến sự phát triển bền vững cũng như hình ảnh của doanh nghiệp trước các đối tác, khách hàng.

2. Về tính kịp thời:

Khi sử dụng dịch vụ, một hoặc nhiều Luật sư sẽ được cử đến làm việc thường xuyên với doanh nghiêp, nắm bắt được tình hình kinh doanh của doanh nghiệp nên khi có các vấn đề phát sinh sẽ được giải quyết kịp thời, tiết kiệm thời gian hơn so với Luật sư vụ việc phải tìm hiểu từ đầu về tình hình của doanh nghiệp.

3. Về tính hiệu quả:

Đồng thời, Luật sư tư vấn thường xuyên với sự thấu hiểu về tình hình hoạt động của doanh nghiệp sẽ đưa ra phương án giải quyết được các rắc rối tiềm ẩn trước khi phát sinh thiệt hại cho doanh nghiệp.

Ngoài ra, còn rất nhiều lợi ích khác mà chỉ khi sử dụng dịch vụ, Doanh nghiệp mới có thể trải nghiệm đầy đủ.

Nguồn: vinhquanglaw.com

2021-12-27 / by / in