Thêm kết quả...

Vì sao phải kéo dài tuổi thọ máy bơm công nghiệp?

Lắp đặt một máy bơm công nghiệp mới sẽ trở nên cực kỳ phức tạp về mặt kỹ thuật và rất tốn kém. Máy bơm công nghiệp thường là một phần cần thiết không thể thiếu trong quá trình sản xuất của nhiều công ty, nhưng điều gì tránh được để kéo dài tuổi thọ cho máy bơm thì đa phần họ chọn tránh cho đến khi việc sửa chữa đại tu hay thay thế thực sự cần thiết và được chứng minh là có hiệu quả về chi phí trong thời gian dài.

Do đó, việc bảo trì bảo dưỡng thường xuyên là hợp lý và cũng giảm chi phí vận hành cho các công ty để kéo dài tuổi thọ của máy bơm công nghiệp từ đó có cách tiếp cận chủ động đối với các bộ phận hỏng hóc và bảo trì chúng ngay.

Ưu điểm tài chính khi tuổi thọ máy bơm công nghiệp dài:

Máy bơm công nghiệp được sử dụng ở mọi nơi – trong khai thác, trong sản xuất bột giấy và giấy, nông nghiệp, công nghiệp cơ khí, nhà máy sản xuất, hệ thống nước sạch và nước thải đô thị, công nghiệp hóa chất, công nghiệp hóa dầu thậm chí còn dùng trong chế biến thực phẩm. Hệ thống máy bơm công nghiệp chỉ có thể hoạt động đến công suất cực đại (BEP – điểm hiệu quả tốt nhất) khi chúng được sử dụng đúng mục đích và sau đó được theo dõi, bảo dưỡng tử tế. Kéo dài vòng đời của máy bơm công nghiệp đơn giản chỉ là vấn đề làm những gì cần thiết để đạt được lợi tức đầu tư đúng đắn.

Năng lượng dùng cho máy bơm công nghiệp có thể chiếm 25-50% tổng năng lượng tiêu thụ trong hoạt động kinh doanh. Nhưng 30-50% năng lượng tiêu thụ của chúng có thể được tiết kiệm bằng cách đơn giản là thường xuyên kiểm tra và thay thế linh kiện khi cần thiết.

Bảo trì, bảo dưỡng đúng cách ở một trung tâm có độ tin cậy cao cũng giúp kéo dài tuổi thọ máy bơm bằng cách giảm thiểu công việc cho trục chuyển động, hệ thống thủy lực và các bộ phận riêng lẻ.

Cắt bỏ chi phí lắp đặt và mua mới

Kéo dài tuổi thọ máy bơm công nghiệp bằng cách thường xuyên xem xét, kiểm tra, thay thế linh kiện -> như vậy máy bơm sẽ ít hỏng hóc hơn. Điều này có nghĩa là doanh nghiệp đang được hưởng lợi từ việc không tiêu tốn nhiều tiền cho việc lắp đặt máy bơm mới. Ngoài ra, lắp máy bơm mới cũng có nghĩa là chi phí tăng đáng kể dùng trong việc phân tích, đo lường và quản trị.

Một số mẹo để vận hành máy bơm đúng cách, an toàn và kéo dài tuổi thọ:

Đừng bao giờ trì hoãn thời gian bảo trì bảo dưỡng máy bơm khi đến lịch trình cho dù mọi thứ đang diễn ra tốt đẹp hay vì bất kỳ một lý do nào khác. Một trục trặc hoặc hỏng hóc nhỏ sẽ tạo ra những vấn đề lớn hơn, gây tốn kém hơn.

Người quản lý sản xuất và nhân viên kỹ thuật phải có kiến thức hiểu biết toàn diện về máy bơm để sửa chữa, thiết lập năng lượng, vật liệu và vận hành hiệu quả nhất.

Thực hiện một bản phân tích chi phí duy trì vòng đời chuyên nghiệp.

Lắp đặt hệ thống lọc và làm mát dầu tốt nhất. Dầu sạch hoạt động ở nhiệt độ thấp sẽ kéo dài tuổi thọ, cũng như đốt cháy lượng dầu ít hơn (đối với máy bơm dùng dầu).

Kiểm tra thường xuyên yếu tố về rò rỉ, tắc nghẽn, vết nứt, sự cố hỗ trợ đường ống và lỗi van (đặc biệt là van giảm áp).

Đối với loại máy bơm ly tâm – đảm bảo vòng bi được chọn cẩn thận để đảm bảo tuổi thọ và hiệu suất tối ưu. Phương pháp xử lý nhiệt tiên tiến cũng sẽ kéo dài tuổi thọ và giảm hao mòn.

Vòng bi tiếp xúc góc hiệu suất cao có thể tăng tốc độ bơm và cho phép thời gian chạy lâu hơn trong khi kéo dài tuổi thọ và thấy rõ hiệu quả.

Điều cực kỳ quan trọng nữa là phải kiểm tra ổ trục theo lịch trình thường xuyên để tránh hao mòn, các vấn đề bôi trơn, nhiễm bẩn và tải quá mức.

Đảm bảo bánh công tác được chế tạo từ vật liệu cường độ cao để chịu được các tần suất va đập mạnh có thể gây ra.

Bằng cách kéo dài tuổi thọ máy bơm nước công nghiệp, các hoạt động công nghiệp có thể hợp lý hóa quy trình làm việc của họ và tập trung vào sản xuất tối đa hóa sản lượng sản phẩm.

Nguồn: maybomnuochcm.vn

2021-11-16 / by / in
NHỮNG LƯU Ý QUAN TRỌNG KHI SỬ DỤNG MÁY BƠM NƯỚC CÔNG NGHIỆP

Máy bơm nước công nghiệp được sử dụng rất nhiều nhiều trong đời sống và trong các ngành công nghiệp & nông nghiệp. Sau đây là những điều bạn cần phải chú ý đến để giúp máy bơm công nghiệp của bạn có nguồn nước mạnh và liên tục, không bị ngắt quãng và giúp tăng tuổi thọ của bơm nước công nghiệp.

– Muốn có nguồn nước mạnh thì đầu vào & ra của máy bơm công nghiệp phải phù hợp
– Đối với việc máy bơm ở giếng dùng bơm nước ly tâm để bơm cần phải mồi nước trước khi dùng trong. Trong trường hợp không có nước máy có khả năng hú lên dẫn đến hư phốt chận và làm cháy động cơ kéo máy bơm.

Máy bơm nước công nghiệp

– Hiện trạng hỏng hóc: Sự cố thường gặp nhất là bơm công nghiệp không lên nước . Sự hỏng này là do đường ống trong nhà bị xì, hỏng van một chiều, hỏng phao tự động (trong bồn nước), hỏng phốt chận, cánh quạt & hỏng bạc đạn. Cần sữa chữa ngay để phòng tránh cháy động cơ bơm nước.
– Lắp thêm lưới lọc: Lắp ở ngõ vào để lọc đất cát tránh trường hợp đất cát làm kẹt cánh bơm. Nếu như cảm thấy nước bơm lên rất yếu cần phải mồi nước trước khi khởi động & lắp thêm van một chiều như mẫu bơm giếng sâu. Lúc không có nước, phốt chận có khả năng bị hư do quá nhiệt & làm nước chảy ngược vào máy gây nên cháy máy.
– Lắp thêm một bồn nước: mẫu khoảng 400 lít hay hơn (tùy yêu cầu sử dung loại bồn lớn nhỏ) đặt trên cao để ổn định áp lực nước trong nhà & phòng khi cúp nước xảy ra.
– Lắp thêm một ổn áp riêng: Nó chỉ xài máy bơm nếu vận hành của điện áp không đủ (thấp hơn 160v). Phòng nguy hiểm do tình trạng điện yếu kéo dài có thể dẫn đến hú máy, nổ tụ và kết quả là cháy máy. Vì thế, khi nghe tiếng bơm hú phải cắt điện ngay, cần lắp một cầu dao riêng cho máy bơm nước để kịp thời xử lý khi có sự cố.

Nguồn: bomcongnghiepmaster.vn

2021-11-16 / by / in
Ngành Công nghiệp Hóa Chất Việt Nam là Ngành mũi nhọn trong các Ngành Công

Thực tế trong nền kinh tế hiện đại, tất cả các ngành kinh tế đều sử dụng sản phẩm của ngành công nghiệp hóa chất
Ngày 23/12/2009 Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 2179/QĐ-TTg phê duyệt Đề án thí điểm thành lập Tập
đoàn Công nghiệp Hóa chất Việt Nam. Nhân dịp này, phóng viên Tạp chí Tổ chức nhà nước đã có cuộc phỏng vấn
ông Đỗ Duy Phi, Tổng giám đốc Công ty mẹ – Tập đoàn Hoá chất Việt Nam.

Sau đây là nội dung cuộc phỏng vấn:

PV: Với cương vị là Tổng giám đốc Công ty mẹ – Tập đoàn Hoá chất Việt Nam, xin ông cho biết những thành tựu
quan trọng đánh dấu sự hình thành và phát triển của ngành hoá chất Việt Nam trong hơn 40 năm qua?
Ông Đỗ Duy Phi: Ngành hoá chất nước ta ra đời từ trong cuộc kháng chiến chống Pháp, nhưng thực sự được hình
thành và phát triển qua hai giai đoạn chính, từ năm 1960 – 1975 và từ năm 1975 đến nay.
Giai đoạn từ năm 1960 – 1975: công nghiệp hoá chất chủ yếu phát triển ở miền Bắc với 15 nhà máy làm cả 2 nhiệm
vụ sản xuất tư liệu sản xuất như phân lân, xút, axít và sản xuất hàng hoá tiêu dùng như săm lốp xe đạp, pin, xà
phòng, ắc quy…

Giai đoạn từ năm 1975 đến nay được chia thành 2 thời kỳ: từ năm 1975 – 1986, là thời kỳ duy trì và phục hồi sản
xuất. Trong thời kỳ này đã tiếp quản thêm một số cơ sở hoá chất của chính quyền cũ, hầu hết là những công ty có
quy mô nhỏ, chủ yếu gia công chế biến hàng tiêu dùng như bột giặt, sơn, săm lốp xe đạp, pin, ắc quy… Thời gian này
ở miền Bắc nhiều nhà máy được cải tạo, mở rộng hoặc xây dựng mới và đưa vào sản xuất như nhà máy Supe phốt
phát Lâm Thao, nhà máy phân lân Văn Điển, nhà máy phân lân nung chảy Ninh Bình, nhà máy phân đạm Hà Bắc. Từ
năm 1986 đến nay, là thời kỳ phát triển. Sau Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VI ngành hóa chất đã có một bước tiến
quan trọng trong công tác quản lý, trọng tâm là sự chuyển đổi từ cơ chế quản lý quan liêu, bao cấp sang cơ chế thị
trường định hướng xã hội chủ nghĩa có sự điều tiết của Nhà nước. Đây là giai đoạn tạo ra những tiền đề rất quan
trọng để vươn lên trong thời gian tiếp theo của ngành hoá chất Việt Nam.

Ngày 20/12/1995 Tổng Công ty Hoá chất Việt Nam (gọi tắt là Vinachem) được thành lập theo mô hình Tổng công ty
91 trên cơ sở kế thừa toàn bộ cơ sở vật chất, kỹ thuật, lao động của Tổng cục Hóa chất với 46 đơn vị thành viên.
Ngoài ra Tổng Công ty còn có 4 Công ty liên doanh có vốn đầu tư nước ngoài.

Từ năm 1995-2009, Vinachem có 227 dự án đầu tư được thực hiện và đang phấn đấu triển khai hoàn thành một số
dự án trọng điểm như: Dự án sản xuất DAP tại Hải Phòng, Dự án DAP số 2 tại Lào Cai, Dự án nhà máy tuyển Apatít
Bắc Nhạc Sơn, Dự án sản xuất phân đạm từ than cám tại Ninh Bình, Dự án mở rộng Nhà máy phân đạm Hà Bắc, Dự
án thăm dò, khai thác và chế biến muối mỏ kali tại Lào, Dự án đầu tư thăm dò tiến tới đầu tư khai thác tuyển quặng
bôxít tại Bảo Lộc – Lâm Đồng, Dự án lốp ôtô radial Công ty Cao su Đà Nẵng và Công ty Công nghiệp Cao su miền
Nam, Dự án khí công nghiệp, Dự án tổ hợp hoá dầu Long Sơn, các dự án hoá dược… đã và đang được triển khai tích cực.

Năm 2006 Tổng Công ty chuyển sang hoạt động theo mô hình đa ngành nghề và đa sở hữu (công ty mẹ – công ty
con), từ đây quy mô vốn sở hữu của Vinachem đã tăng lên đáng kể. Năm 2006, tổng vốn chủ sở hữu của Vinachem
là 4.342 tỷ đồng, cuối năm 2008 là 6.136 tỷ đồng và đến cuối năm 2009 vốn chủ sở hữu đã đạt 8.000 tỷ đồng; các chỉ
tiêu kinh tế chủ yếu đều vượt so với kế hoạch đề ra, duy trì được tốc độ tăng trưởng.

Song hành với kết quả trong sản xuất, kinh doanh, đầu tư xây dựng, Tổng Công ty Hóa chất Việt Nam cũng là một
trong những đơn vị có nhiều thành tích trong việc sắp xếp, đổi mới doanh nghiệp nhà nước. Từ thành công trong việc
thí điểm cổ phần hóa 3 xí nghiệp năm 1999, đến năm 2009, ngoài công ty mẹ, Vinachem có 10 công ty con mà Tổng
Công ty giữ 100% vốn điều lệ, 16 công ty cổ phần trên 50% vốn điều lệ, 12 công ty liên kết và 4 công ty liên doanh
với nước ngoài, một Trường cao đẳng và một Viện nghiên cứu.

Tổng Công ty cũng đã thường xuyên củng cố, hoàn thiện tổ chức bộ máy lãnh đạo quản lý, không ngừng nâng cao
hiệu lực và hiệu quả quản lý, đảm bảo sự lãnh đạo tập trung, thống nhất của Đảng bộ, Hội đồng quản trị, Ban Giám
đốc, đồng thời phát huy quyền chủ động sáng tạo của các tổ chức đoàn thể như Công đoàn, Đoàn thanh niên, Hội
cựu chiến binh…
Ghi nhận và đánh giá cao những thành tích xuất sắc của các thế hệ cán bộ, công nhân viên Tổng Công ty Hóa chất
Việt Nam trong gần nửa thế kỷ qua, Đảng và Nhà nước đã tặng thưởng Tổng Công ty nhiều phần thưởng cao quý,
trong đó có Huân chương Lao động hạng Nhất (năm 1985), Huân chương Độc lập hạng Nhất (năm 1999); Huân
chương Hồ Chí Minh (năm 2004 và năm 2009).

Ngày 23/12/2009, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 2179/QĐ-TTg phê duyệt Đề án thí điểm thành lập Tập
đoàn Công nghiệp Hoá chất Việt Nam và Quyết định số 2180/QĐ-TTg, thành lập Công ty mẹ – Tập đoàn Hoá chất
Việt Nam.

PV: Vì sao phải chuyển đổi tổ chức hoạt động từ mô hình tổng công ty sang mô hình tập đoàn kinh tế; việc chuyển
đổi mô hình sẽ đem lại lợi thế gì đối với sự phát triển của ngành hoá chất Việt Nam, thưa ông?
Ông Đỗ Duy Phi: Xuất phát từ vai trò, vị trị quan trọng của ngành công nghiệp hoá chất trong nền kinh tế quốc dân,
mô hình tổ chức hiện tại và mục tiêu chiến lược của Tổng Công ty thì việc thành lập Tập đoàn Hoá chất Việt Nam
trên cơ sở sắp xếp, tổ chức lại Tổng Công ty Hóa chất Việt Nam là phù hợp với chủ trương, đường lối của Đảng và
bối cảnh nền kinh tế trong nước và thế giới hiện nay. Nhà nước đã ban hành Luật hoá chất; Thủ tướng Chính phủ đã
cho phép xây dựng Đề án hình thành Tập đoàn Hoá chất Việt Nam từ năm 2008 và mới đây Thủ tướng Chính phủ đã
ban hành Quyết định số 2179/QĐ-TTg ngày 23/12/2009 về việc phê duyệt Đề án thí điểm thành lập Tập đoàn Công
nghiệp Hoá chất Việt Nam. Với mô hình tổ chức của tập đoàn kinh tế, Tập đoàn Hóa chất Việt Nam sẽ giữ vai trò chủ
đạo trong ngành sản xuất phân bón, cao su kỹ thuật, hoá dược, hoá dầu…; xác định rõ hơn về vốn và lợi ích kinh tế
giữa công ty mẹ với các công ty con và công ty liên kết; tăng cường năng lực kinh doanh, tính tự chịu trách nhiệm;
nâng cao hiệu quả kinh tế của Tập đoàn và các công ty con; tạo cho Tập đoàn có đủ tiềm lực về vốn để đầu tư vào
các công ty con, công ty liên kết và các ngành kinh tế khác; nghiên cứu chiến lược thị trường, áp dụng công nghệ

tiên tiến… làm cho Tập đoàn trở thành nhân tố chủ yếu thúc đẩy các công ty con, công ty liên kết phát triển. Đồng
thời, góp phần bảo đảm điều tiết vĩ mô của Nhà nước; tham gia tích cực vào việc bảo đảm an sinh xã hội, an ninh
lương thực quốc gia và an ninh quốc phòng.
PV: Xin ông cho biết định hướng chiến lược và mục tiêu phát triển của Tập đoàn từ nay đến năm 2020?
Ông Đỗ Duy Phi: Để xứng đáng với vị trí và vai trò của mình trong nền kinh tế quốc dân, từ nay đến năm 2020, Tập
đoàn sẽ xây dựng và phát triển theo những định hướng lớn sau đây:
– Một là, xây dựng và phát triển Tập đoàn với cơ cấu sản phẩm tương đối hoàn chỉnh, giữ vai trò nòng cốt trong việc
phát triển ngành công nghiệp hoá chất, đi đầu trong sản xuất phân bón hoá học, hóa chất cơ bản phục vụ các ngành
công nghiệp khác, các sản phẩm cao su, điện hóa, hóa dầu, hóa dược, chất tẩy rửa, hóa mỹ phẩm… phục vụ sản
xuất nông nghiệp và tiêu dùng đáp ứng cơ bản nhu cầu trong nước và tăng cường xuất khẩu. Khai thác triệt để thế
mạnh tài nguyên thiên nhiên tiến tới chủ động nguyên liệu đầu vào, hạn chế nhập khẩu.
– Hai là, tăng cường khả năng tích tụ vốn, nhập khẩu công nghệ hiện đại nhằm tạo ra sản phẩm có chất lượng cao
với giá cả cạnh tranh, nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh, bảo đảm môi trường sinh thái. Tiếp tục xây dựng và
phát triển nguồn nhân lực có trình độ cao đáp ứng nhu cầu phát triển ngành, thúc đẩy nhanh chóng quá trình hội
nhập với ngành công nghiệp hoá chất khu vực và thế giới.
– Ba là, thực hiện đa dạng hoá hình thức đầu tư, đa sở hữu nhằm thu hút đầu tư (kể cả đầu tư nước ngoài), nhất là
đối với các công trình có nhu cầu vốn lớn, đòi hỏi công nghệ cao.
– Bốn là, phát triển công nghiệp hoá chất gắn với cơ cấu lại ngành công nghiệp, phân bố lao động và có tác động tích
cực đến công nghiệp hoá, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn.
– Năm là, thực hiện tốt việc quản lý phần vốn nhà nước tại các công ty cổ phần. Tăng cường công tác quản lý người
đại diện phần vốn nhà nước tại các doanh nghiệp khác.
– Sáu là, Tập đoàn phấn đấu đạt tốc độ tăng trưởng từ 16-17%/năm vào năm 2015 và cao hơn trong giai đoạn đến
năm 2020, góp phần tăng tỷ trọng công nghiệp hoá chất trong công nghiệp cả nước từ 13-14%.
PV: Ông có thể cho biết rõ hơn về phương hướng và giải pháp phát triển nguồn nhân lực nhằm hoàn thành mục tiêu
phát triển của Tập đoàn trong thời gian tới?
Ông Đỗ Duy Phi: Hiện Tập đoàn đã xây dựng đề án đào tạo và phát triển nguồn nhân lực, theo đó chiến lược đào
tạo và phát triển nguồn nhân lực của Tập đoàn giai đoạn từ nay đến năm 2015, tầm nhìn năm 2020 phải đạt các mục
tiêu cơ bản sau:
– Thứ nhất, đào tạo đạt chuẩn cho đội ngũ cán bộ của Công ty mẹ – Tập đoàn Hoá chất Việt Nam trong năm 2010.
– Thứ hai, đào tạo đội ngũ cán bộ kế cận có khả năng đáp ứng yêu cầu phát triển của Tập đoàn đến năm 2015, cótính đến năm 2020.

– Thứ ba, đào tạo nguồn nhân lực phục vụ phát triển ngành hoá chất Việt Nam.
Từ chiến lược phát triển của Tập đoàn Hoá chất Việt Nam, Tập đoàn xác định 3 nhóm giải pháp phát triển nguồn
nhân lực. Cụ thể là:
– Nhóm giải pháp 1: quy hoạch và bồi dưỡng đội ngũ cán bộ quản lý các cấp trong Tập đoàn (cấp Tập đoàn, cấp ban,
nhóm đại diện vốn của Tập đoàn) đảm bảo đủ khả năng hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao.
– Nhóm giải pháp 2: phát triển đội ngũ chuyên gia đầu ngành hoá chất nhằm phát triển sản phẩm mới, nghiên cứu và
chuyển giao công nghệ, thẩm định các dự án trọng điểm…
– Nhóm giải pháp 3: hợp tác với các cơ sở đào tạo trong và ngoài nước để đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao
đáp ứng cho mục tiêu phát triển chiến lược của Tập đoàn trong thời gian tới. Trước mắt, Hội đồng quản trị Tập đoàn
sẽ tập trung đầu tư, nghiên cứu, xây dựng đề án thành lập Trường đại học Hoá chất Việt Nam trên cơ sở tổ chức lại
Viện Hoá học Công nghiệp Việt Nam và trường cao đẳng Công nghiệp Hoá chất theo Quyết định của Thủ tướng
Chính phủ.

Theo: kimvanphuc.com

2021-11-15 / by / in
Các lưu ý khi mua van điện từ. Mua van điện từ ở đâu?

1. Van điện từ là gì? Mua van điện từ ở đâu?
Van điện từ là gì? Van điện từ là một thiết bị cơ điện được sử dụng để kiểm soát dòng chảy chất lỏng hoặc khí. Van điện từ  hay còn gọi là solenid valve được điều khiển bởi dòng điện 220V, 110V, 24V hoặc 12 V được điều hành thông qua một cuộn dây.

Cấu tạo van điện từ:
-Thân van: được chế tạo từ đồng hoặc inox
-Lưu chất: Có thể là chất lỏng hoặc khí tùy vào mục đích sử dụng
-Ỗng dẫn đầu ra của thiết bị
-Lớp vỏ bên ngoài để bảo vệ cuộn hít
-Cuộn dây tạo ra từ trường tác động lên pít tong
-Dây kết nối với nguồn điện từ bên ngoài
-Trục van
-Lò xo
-Khe hở dành cho lưu chất đi qua

2. Các lưu ý khi mua van điện từ
Mua van điện từ ở đâu?  tại bất cứ của hàng, công ty nào quý khách hàng cần lưu ý các điểm sau:
-Xem rõ kích thước, đường kính van phù hợp.
-Chất liệu làm van bằng đồng, inox hay nhựa.
-Dải áp suất van làm việc.
-Nguồn điện làm việc của van.
-Xem thông số cuộn điện coil dạng gì, vật liệu.
-Lựa chọn loại van thường đóng hoặc thường mở tùy mục đích sử dụng.
-Mua loại van sử dụng trong môi trường nào: khí, nước, gas…

3. Tại sao nên mua van điện từ?
Van điện từ được ứng dụng rộng rãi trong nhiều các lĩnh vực khác nhau trong công nghiệp, trong đời sống dân dụng, nông nghiệp giúp đóng mở nguồn lưu chất nhanh chóng gần như tức.
-Thiết kế van điện từ nhỏ gọn, độ bền cao.
-Vật liệu chế tạo đa dạng có thể làm việc trong nhiều môi trường khác nhau: nước, khí, khí nén.
-Điện áp sử dụng phổ biến là loại 220V ưa chuộng tại Việt Nam, loại 12V, 24V sử dụng an toàn.
-Lắp đặt ren và bắt bích phù hợp nhiều đường ống.

4. Mua van điện từ ở đâu? Mua van điện từ tại Hà nội?
Hãy chọn nhà thầu chuyên cung cấp các sản phẩm van công nghiệp, van điện từ cho các công trình, dự án lớn. Khi mua van điện nên có chế độ sau:
-Hàng nhập khẩu chính hãng trên dây truyền hiện.
-Đầy đủ chứng từ kiểm định C0-CQ
-Được đổi mới sản phẩm 1 tuần khi phát hiện lỗi nhà sản xuất
-Chế độ bảo hành 12 tháng uy tín, tin cậy tại Hà nội và Hồ Chí minh
-Chiết khấu cao cho các đại lý và nhà thầu khi mua số lượng lớn
-Được tư vấn lắp đặt, chọn mua dòng van phù hợp do đội ngũ kỹ thuật viên kinh nghiệm tư vấn 24/24h
-Giao hàng miễn phí ku vực Hà nội và hỗ trợ vận chuyển giao hàng TQ

Nguồn: cialisallusa

 

2021-11-15 / by / in
Tuổi nghỉ hưu, lương hưu của người lao động năm 2022 thay đổi như thế nào?

Theo Luật Bảo hiểm xã hội năm 2014 và Luật Lao động năm 2019, từ ngày 1/1/2022, hàng loạt quy định về tuổi nghỉ hưu, cách tính lương hưu, chế độ bảo hiểm sẽ có thay đổi so với năm 2021.

Tuổi hưu tăng thêm từ 3-4 tháng

Theo lộ trình đã quy định tại Điều 169 Bộ luật Lao động năm 2019, tuổi nghỉ hưu của người lao động làm việc trong điều kiện bình thường sẽ được tăng dần như sau: Tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường được điều chỉnh theo lộ trình cho đến khi đủ 62 tuổi đối với lao động nam vào năm 2028 và đủ 60 tuổi đối với lao động nữ vào năm 2035.

Như vậy, tính từ năm 2022, tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường là đủ 60 tuổi 6 tháng đối với lao động nam và đủ 55 tuổi 8 tháng đối với lao động nữ.

Tiếp tục với lộ trình này, các năm sau đó, cứ mỗi năm tăng thêm 3 tháng đối với lao động nam và 4 tháng đối với lao động nữ, cho tới mốc nam đủ 62 tuổi và nữ đủ 60 tuổi nghỉ hưu.

Ngoài ra, pháp luật lao động cũng nêu rõ trường hợp người lao động bị suy giảm khả năng lao động hoặc làm nghề, công việc có yếu tố nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn, người lao động còn có thể nghỉ hưu ở tuổi thấp hơn từ 5-10 tuổi so với độ tuổi nghỉ hưu nói trên.

Lương hưu nam lấy chuẩn 20 năm đóng bảo hiểm

Theo Luật BHXH năm 2014, lộ trình điều chỉnh cách tính số năm đóng BHXH để tính lương hưu được tăng dần từ năm 2018. Theo đó, từ 1/1/2018, mức lương hưu hằng tháng của người lao động đủ điều được tính bằng 45% mức bình quân tiền lương tháng đóng BHXH và tương ứng với số năm đóng BHXH như sau:

Lao động nam nghỉ hưu vào năm 2018 là 16 năm, năm 2019 là 17 năm, năm 2020 là 18 năm, năm 2021 là 19 năm, từ năm 2022 trở đi là 20 năm. Sau đó cứ thêm mỗi năm công tác, người lao động được tính thêm 2% và mức tối đa bằng 75%.

Như vậy, từ năm 2022, số năm tối thiểu đóng BHXH của lao động nam là 20 năm với mức hưởng là 45%. Sau đó, cứ thêm mỗi năm tính thêm 2% cho tới tỷ lệ tối đa là 75%. Do đó, lao động nam muốn hưởng tỷ lệ tối đa 75% thì phải đóng BHXH từ đủ 35 năm trở lên.

Với lao động nữ, cách tính tỷ lệ này năm 2022 không có sự thay đổi so với năm 2021. Mức hưởng lương hưu năm 2022 của lao động nữ vẫn được tính như năm 2021.

Với việc áp dụng các chính sách hỗ trợ, mức đóng BHXH sẽ có sự thay đổi trong năm 2022. Cụ thể:

Tuổi nghỉ hưu, lương hưu của người lao động năm 2022 thay đổi như thế nào? - 1

Tuổi nghỉ hưu, lương hưu của người lao động năm 2022 thay đổi như thế nào? - 2

Chế độ lương hưu “chào đón” lao động nước ngoài

Liên quan tới chế độ hưu trí của lao động là công dân nước ngoài, Khoản 2 Điều 17 Nghị định 143/2018/NĐ-CP quy định quy định chi tiết Luật bảo hiểm xã hội và Luật an toàn, vệ sinh lao động về bảo hiểm xã hội bắt buộc đối với người lao động là công dân nước ngoài làm việc tại Việt Nam: “Các chế độ quy định tại Điều 9 và Điều 10 của Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 1/1/2022”.

Cụ thể, chế độ hưu trí và chế độ tử tuất đối với người lao động nước ngoài sẽ được áp dụng từ ngày 01/01/2022.

Theo đó, Khoản 1 Điều 9 Nghị định 143/2018/NĐ-CP cũng nêu rõ, người lao động nước ngoài được giải quyết hưởng lương hưu hàng tháng nếu đáp ứng đủ các điều kiện sau như lao động trong nước: Đủ tuổi hưu quy định với lao động nam và nữ, tối thiểu đóng BHXH đủ 20 năm.

Về mức hưởng lương hưu của người lao động nước ngoài được tính tương tự đối với người lao động là công dân Việt Nam.

Luật cũng nêu rõ, nếu không có nhu cầu hưởng lương hưu, người lao động nước ngoài cũng có thể yêu cầu rút BHXH một lần trong một số trường hợp cụ thể, như: Đủ tuổi hưởng lương hưu nhưng chưa đóng đủ 20 năm BHXH; Đang mắc một trong các bệnh như ung thư, bại liệt, xơ gan cổ chướng, phong, lao nặng, nhiễm HIV đã chuyển sang AIDS và những bệnh khác theo quy định; Đủ điều kiện hưởng lương hưu nhưng không tiếp tục cư trú tại Việt Nam; Khi chấm dứt hợp đồng hoặc giấy phép lao động, chứng chỉ hành nghề, giấy phép hành nghề hết hiệu lực mà không được gia hạn.

Nguồn: dantri.com.vn

2021-11-15 / by / in
Để phát triển ngành công nghiệp hóa chất bền vững

Công nghiệp hóa chất có vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế, bởi nó có mặt trong hầu hết các sản phẩm, từ những vật dụng thông thường đến các sản phẩm công nghệ cao. Từ lâu, các hoạt động liên quan đến hóa chất luôn tiềm ẩn nguy cơ đe dọa đến sức khỏe, tính mạng con người, an ninh xã hội và môi trường. Chính vì vậy công tác quản lý hóa chất nguy hiểm là việc làm hết sức cần thiết trong các hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp.

Hiện nay trên địa bàn tỉnh có gần 50 doanh nghiệp có các hoạt động liên quan đến hoá chất (bao gồm các ngành sản xuất giấy, nhựa, phân bón, dệt may, cơ khí; các sản phẩm chất tẩy rửa và các hoá chất thải độc hại…). Trong đó có 3 doanh nghiệp sản xuất hoá chất và sử dụng hoá chất với quy mô lớn là các công ty: Giấy Bãi Bằng, Supe phốt phát và hoá chất Lâm Thao và Công ty cổ phần hoá chất Việt Trì. Còn lại là các doanh nghiệp hoạt động thương mại dịch vụ hoá chất và nguyên liệu hoá chất vào sản xuất. Các hoá chất được sử dụng đa phần là các loại hoá chất cơ bản như: Xút, Axit sunphuric, Axit clohydric… với tổng lượng sử dụng hàng năm vào khoảng trên 200.000 tấn.

Qua đánh giá của cơ quan chức năng cho thấy, về cơ bản các doanh nghiệp trên đã cơ bản chấp hành tốt các quy định của Nhà nước về quy định khai báo, đăng ký sử dụng hoá chất nguy hiểm và chấp hành nghiêm chỉnh các quy định về an toàn hoá chất; đã quan tâm đến công tác an toàn trong hoạt động hóa chất nguy hiểm, xử lý nước thải công nghiệp, hạn chế ô nhiễm môi trường sinh thái; có ý thức, trách nhiệm trong việc nâng cao biện pháp quản lý, đầu tư đổi mới công nghệ; chú trọng tới công tác huấn luyện, thực hiện nghiêm các quy trình, quy phạm, kỹ thuật trong sản xuất, sử dụng hóa chất nguy hiểm nhằm giảm thiểu ô nhiễm môi trường và cải thiện điều kiện làm việc, nâng cao sức khỏe cho người lao động. Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn một số doanh nghiệp chưa chấp hành nghiêm các quy định trong sản xuất, mua bán, vận chuyển, sử dụng các hóa chất nguy hiểm, chưa thực hiện nghiêm túc chế độ báo cáo, khai báo, hoạt động hóa chất nguy hiểm theo quy định. Việc quản lý các hoạt động sản xuất, sử dụng, kinh doanh dịch vụ các  loại hoá chất nguy hiểm còn lỏng lẻo. Nhiều doanh nghiệp có các hoạt động liên quan đến hoá chất vẫn chưa có kho chứa theo tiêu chuẩn quy định, chưa trang bị đủ những phương tiện phòng hộ cá nhân và có những biện pháp xử lý tình huống khi có sự cố xảy ra; một số công nhân đều chưa được tập huấn, huấn luyện về an toàn hoá chất; các kho chứa, thùng chứa hoá chất không đảm bảo tiêu chuẩn theo quy định, không có các biển báo cấm có liên quan tới an toàn hoá chất. Nguyên nhân, là do các doanh nghiệp còn thiếu thông tin, tài liệu liên quan đến hoạt động hóa chất. Nhiều doanh nghiệp chưa nắm bắt được các quy định của pháp luật và chức năng, nhiệm vụ của cơ quan quản lý Nhà nước, nên việc thực hiện chế độ báo cáo, khai báo hóa chất còn hạn chế.

Hóa chất công nghiệp là gì? Nên mua hóa chất công nghiệp ở đâu?

Nhằm giúp các doanh nghiệp thực hiện đúng các quy định của pháp luật trong hoạt động kinh doanh hóa chất nguy hiểm, những năm qua, Sở Công thương Phú Thọ- cơ quan chuyên ngành quản lý hóa chất nguy hiểm đã có nhiều hoạt động thiết thực như: Tổ chức tập huấn về quản lý hóa chất nguy hiểm cho các doanh nghiệp hoạt động sản xuất kinh doanh có liên quan đến hóa chất nguy hiểm trên địa bàn, đồng thời hướng dẫn các doanh nghiệp thực hiện khai báo quản lý hóa chất theo quy định của Bộ Công thương; xây dựng phiếu an toàn hóa chất; lập hồ sơ đánh giá hóa chất mới; xây dựng kế hoạch ngăn ngừa, khắc phục sự cố hóa chất; xây dựng khoảng cách an toàn của cơ sở sản xuất, kho chứa hóa chất… Bên cạnh việc tuyên truyền phổ biến kiến thức pháp luật về việc sử dụng hóa chất cho các doanh nghiệp, ngành cũng đã tiến hành nhiều đợt kiểm tra công tác an toàn công nghiệp và hoạt động quản lý, sử dụng hóa chất nguy hiểm tại một số doanh nghiệp trọng điểm, đồng thời yêu cầu các doanh nghiệp có hoạt động hóa chất trên địa bàn báo cáo định kỳ về tình hình sản xuất, sử dụng, mua bán hóa chất nguy hiểm.

Với mục tiêu phát triển công nghiệp hóa chất bền vững, tạo điều kiện thuận lợi cho sản xuất kinh doanh và sử dụng hóa chất an toàn, hiệu quả, góp phần bảo vệ sức khỏe con người, bảo vệ môi trường, tới đây Sở Công thương  sẽ tiếp tục phối hợp với các cơ quan chức năng và cùng các doanh nghiệp, tập trung thực hiện nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật về hóa chất; tiếp tục tổ chức thanh, kiểm tra toàn diện các doanh nghiệp có hoạt động hóa chất trên địa bàn, xử lý nghiêm các vi phạm theo quy định; tập trung đôn đốc, hướng dẫn các doanh nghiệp triển khai xây dựng kế hoạch ngăn ngừa, khắc phục sự cố do hóa chất gây ra.

Nguồn: baophutho.vn

2021-11-15 / by / in
Quy trình sản xuất đồ nhựa

Ở Việt Nam đồ dùng bằng nhựa được rất ưa chuộng và phổ biến, sản phẩm bằng nhựa có giá thành rẻ, chất lượng tương đối tốt. Bởi thế, hầu hết các công ty sản xuất bao bì đều chiếm lĩnh được thị trường và có thể dễ dàng nhận thấy, thị phần bao bì nhựa ngày càng mở rộng hơn.

Ở khuôn khổ bài viết này, hãy cùng tìm hiểu quy trình để sản xuất được các sản phẩm nhựa  – nền tảng của các sản phẩm đóng gói tiêu dùng hiện tại nhé!

Hạt nhựa nguyên sinh

Quy trình sản xuất hạt nhựa nguyên sinh là một quy trình phức tạp, được tạo ra từ dầu mỏ với những quy tắc phân tách hóa học đặc biệt, sử dụng máy móc chuyên dụng. Hạt nhựa nguyên sinh bao gồm các loại như PA, PP, ABS, PET, PS, POM,…có chất lượng cực tốt. Từ đây, nhà sản xuất bắt đầu sản xuất ra các sản phẩm nhựa đáp ứng tiêu chuẩn trong nước và quốc tế.

 

công ty sản xuất bao bì

Sản phẩm hộp nhựa dùng để chứa đựng thực phẩm

Pha màu

Đáp ứng yêu cầu của các công ty sản xuất bao bì hoặc từ phía khách hàng, mà công đoạn pha màu được tạo dựng để biến các hạt nhựa tinh khiết lúc ban đầu thành muôn vàn màu sắc sống động khác nhau. Các sản phẩm nhựa sẽ có đa dạng màu và tạo thành sự phong phú, bắt mắt khi đưa ra thị trường.

Kéo sợi nhựa

Từ quy trình sản xuất hạt nhựa nguyên sinh, trải qua công đoạn pha màu, tiếp theo, nhà sản xuất sẽ kéo sợi nhựa theo kích cỡ và đường kính khác nhau – tùy mục đích sử dụng. Tạo ra những sợi nhựa dẻo dai, dễ dàng phù hợp với việc sản xuất bao bì, hộp đựng, đồ gia dụng,…

Trộn các chất phụ gia

Với những loại sản phẩm nhựa khác nhau thì sẽ được trộn phụ gia khác nhau. Các chất phụ gia thường là phụ gia liên kết, phụ gia dai, phụ gia cứng, phụ gia đặc biệt tùy tiêu chí,…Các sản phẩm nhựa sẽ đạt độ bền, chịu được va đập, cọ sát hoặc đạt độ cứng nhờ các chất phụ gia này.

 

công ty sản xuất bao bì

Hộp nhựa đựng giầy

Ép khuôn nhựa

Các công ty sản xuất bao bì hoặc sản xuất đồ nhựa gia dụng có những yêu cầu riêng về hình dáng, kích thước, kiểu mẫu của sản phẩm. Cho nên, nhựa đã được trộn phụ gia sẽ được cho vào khuôn ép với độ chính xác cao, công nghệ hiện đại để làm nên thành phẩm vừa ý khách hàng.

Cắt gọn bavia

Công đoạn này phải do các công nhân có tay nghề cao xử lý. Bavia có thể gây xước tay hoặc làm hỏng các chi tiết khi chứa đựng sản phẩm. Bởi vậy, cắt gọn bavia để sản phẩm trở nên đảm bảo mỹ quan và an toàn khi sử dụng.

Thành phẩm

Sau tất cả các công đoạn kể trên, chúng ta sẽ có được sản phẩm nhựa như mong muốn được cung cấp tới các công ty sản xuất, cơ sở kinh doanh chế biến hoặc thị trường bán lẻ.

Nguồn: dachoaan.com

2021-11-12 / by / in
NHỮNG SẢN PHẨM CÓ THỂ TẠO RA TỪ CÔNG NGHỆ ÉP PHUN NHỰA

Ép phun nhựa hiện đã trở thành phương pháp chủ yếu để tạo ra đa dạng các sản phẩm ngành nhựa 

Công nghệ ép phun nhựa ra đời không chỉ tạo ra khối lượng sản phẩm nhựa vô cùng lớn, mà còn đa dạng chủng loại, màu sắc để đáp ứng nhu cầu sử dụng ngày càng cao của con người.

Công nghệ ép phun nhựa là gì?

Công nghệ ép phun nhựa là quá trình để sản xuất ra các sản phẩm nhựa bằng cách làm nóng chảy nhựa và bơm vào khuôn ép để tạo hình sản phẩm. Sau đó, các khuôn được làm nguội để giải phóng các bộ phận nhựa đã hoàn thành.

Ép phun nhựa rất linh hoạt và có thể tạo ra các sản phẩm nhựa từ đơn giản đến phức tạp, với số lượng lớn phục vụ cho nhiều ứng dụng khác nhau.

Một số sản phẩm nhựa được sản xuất bằng công nghệ ép phun nhựa

Đa dạng các sản phẩm nhựa được tạo ra bởi công nghệ ép phun

Ép phun nhựa là công nghệ sản xuất nhựa hiện đại, được ứng dụng và tạo ra hàng ngàn, hàng triệu các sản phẩm nhựa dùng trong đời sống hay sản xuất chi tiết lắp đặt công nghiệp. Dưới đây là một số sản phẩm nhựa thường gặp nhất:

  • Chai nhựa: là sản phẩm phổ biến được sản xuất để sử dụng hàng tỷ đơn vị mỗi năm, với nhiều hình dạng, kích cỡ và màu sắc. Thông thường, các chai nhựa được sử dụng để đựng nước và đồ uống được sản xuất bằng công nghệ ép phun được làm từ nhựa PET bởi vừa nhẹ lại bền khi sử dụng
  • Đồ gia dụng: Đồ gia dụng nhựa xuất hiện ngay ở bên cạnh chúng ta, từ những hộp đựng, đến tủ bàn, đồ dùng nhà bếp,…
  • Vỏ đồ điện tử – các thiết bị như tivi, máy tính, điều khiển từ xa, các linh kiện điện tử tiêu dùng khác,… cũng được chế tạo phổ biến bằng công nghệ ép phun nhựa
  • Đồ chơi nhựa: Nhựa với đặc tính nhẹ và bền, với nhiều kích cỡ và màu sắc khác nhau vì thế là lựa chọn tuyệt vời để sản xuất các sản phẩm đồ chơi nhựa.
  • Thiết kế cho thị trường nông nghiệp đang chuyển dịch từ vật liệu kim loại sang nhựa như một giải pháp để giảm thiểu chi phí. Sản phẩm nhựa có khả năng chống lại các tác động trong quá trình sử dụng: chịu được độ ẩm cao, bền ở nhiệt độ cao và thấp, không bị ăn mòn,…
  • Linh kiện nhựa thiết bị y tế: Trong lĩnh vực chăm sóc sức khỏe, có hàng nghìn sản phẩm được tạo ra từ quá trình ép phun. Các sản phẩm nhựa đa dụng được sử dụng trong y tế phần lớn là đồ dùng một lần, dùng để vô trùng, ngăn ngừa sự lây lan của vi trùng hoặc bệnh tật.
  • Linh kiện ô tô: Một chiếc ô tô hiện nay bao gồm rất nhiều các chi tiết được sản xuất bằng công nghệ ép phun nhựa. Chúng ta phục vụ cho ngành công nghiệp ô tô những chi tiết như bảng điều khiển, loa, ghế ngồi,…

Các ứng dụng của sản phẩm ép phun nhựa bao gồm các sản phẩm tiêu dùng, thương mại và công nghiệp. Công nghệ ép phun nhựa cung cấp tính linh hoạt để tạo ra các thiết kế có chi tiết từ đơn giản đến phức tạp ở bất kỳ kích thước nào.

 

2021-11-12 / by / in
THỰC TRẠNG CỦA CÁC DOANH NGHIỆP SẢN XUẤT SẢN PHẨM CAO SU – NHỰA NGÀNH CÔNG NGHIỆP HỖ TRỢ

Thuộc ngành công nghiệp hỗ trợ, các sản phẩm nhựa và cao su của Việt Nam cũng đang dần phải được tiêu chuẩn hóa nhằm phù hợp với xu hướng hội nhập và đáp ứng những chuẩn mực quốc tế mà Việt Nam cam kết thực hiện. Hiện nay, sự phát triển của ngành nhựa – cao su có nhiều thay đổi và tính cạnh tranh ngày càng cao trong việc sản xuất các sản phẩm nói chung và sản phẩm cao su – nhựa ngành công nghiệp hỗ trợ nói riêng. Theo đó, mục tiêu cần được hướng đến là nâng cao khả năng cung ứng sản phẩm công nghiệp hỗ trợ cho các doanh nghiệp công nghệ cao đồng thời nâng cao chất lượng sản phẩm nhựa cao su truyền thống.

 

Giai đoạn từ 2016 – 2020, trên cả nước có hơn 3.000 doanh nghiệp sản xuất và kinh doanh trong lĩnh vực cao su – nhựa. Trong đó, 70% Doanh nghiệp thuộc TP.Hồ Chí Minh với hơn 120 hội viên của Hội Cao su – Nhựa TP. Hồ Chí Minh đang sản xuất 30% lốp xe hơi, 50% lốp xe hai bánh, 70% cao su kỹ thuật,… Năm 2020, tỷ trọng đóng góp của ngành vào khoảng 15,75%, giảm 1,25% so với năm 2013

Các sản phẩm cao su – nhựa ngành công nghiệp hỗ trợ chủ yếu được tiêu thụ thị trường trong nước, với khoảng 92% doanh thu. Nhìn chung năng lực cung ứng và sản xuất của các doanh nghiệp sản xuất nhựa – cao su còn thấp: đáp ứng được 85-90% nhu cầu của ngành sản xuất, lắp ráp xe máy; 20% nhu cầu của ngành sản xuất, lắp ráp ô tô; 40% nhu cầu của ngành điện tử gia dụng; 15% nhu cầu của ngành điện tử tin học, viễn thông và 5% nhu cầu của ngành công nghiệp công nghệ cao.

Một số sản phẩm cao su cơ bản được các doanh nghiệp trong công nghiệp hỗ trợ cao su sản xuất như: Cao su gác chân, giảm chấn, cao su đệm…. Trong khi đó, đa phần những sản phẩm cao su cao cấp như dây đai truyền lực, phớt, ống cao su thủy lực… đều được nhập khẩu hoặc do các doanh nghiệp FDI cung cấp.

Có thể thấy chính sự manh mún trong phát triển ngành chưa tạo ra một chuỗi cung ứng khiến cho các doanh nghiệp sản xuất các sản phẩm cao su – nhựa ngành công nghiệp hỗ trợ phát triển chưa hiệu quả, các doanh nghiệp sản xuất đơn lẻ, không kết hợp tạo ra cụm sản phẩm, đồng thời chưa có sự đầu tư lớn về công nghệ sản xuất hiện đại, do đó, năng lực để làm các đơn hàng số lượng lớn và chất lượng cao còn rất hạn chế. Không chỉ vậy, một trong những thách thức lớn nhất của ngành chính là việc chịu sức ép cạnh tranh trực tiếp từ các sản phẩm nước ngoài, khi phần lớn các công ty này đều sản xuất theo chuỗi cung ứng toàn cầu, áp dụng cải tiến công nghệ hiện đại, thân thiện với môi trường. Do đó, để tăng sức cạnh tranh thị phần trong nước cũng như hướng đến xuất khẩu, các doanh nghiệp trong nước cần phải khắc phục các hạn chế trên.

Nguồn: tuonglai.vn

2021-11-12 / by / in
Công nghiệp hoá chất và định hướng phát triển

Công nghiệp hóa chất là ngành chủ chốt trong sản xuất các hóa chất công nghiệp. Đây là tâm điểm cho nền công nghiệp hiện đại, vì bất kì ngành nghề nào đều cần đến.

Công nghiệp hóa chất điển hình trong việc chuyển đổi các vật liệu thô như dầu, khí thiên nhiên, nước, kim loại và hóa chất thành hơn 7000 sản phẩm hóa chất khác nhau.

Ngành công nghiệp hóa chất và công nghiệp nhẹ có liên quan mật tiết với nhau, công nghiệp hóa chất hỗ trợ rất nhiều ngành công nghiệp khác nhau.

Đặc điểm của ngành công nghiệp hóa chất là tính đa đạng về sản phẩm phục vụ cho tất cả các ngành kinh tế kỹ thuật. Từ đó ngành công nghiệp này có thể khai thác mọi thế mạnh tài nguyên của đất nước từ khoáng sản, dầu khí tới sản phẩm, phụ phẩm và thậm chí cả phế thải của công nghiệp, nông nghiệp.

Thực trạng ngành hóa chất công nghiệp nước ta hiện nay

Các ngành học công nghiệp hóa chất được quan tâm và yêu cầu sinh viên rất cao, những người học ngành hóa chất không chỉ có sức kiên trì vượt trội mà còn có năng lực.

Việc sử dụng hóa chất trong các ngành công nghiệp, các khâu sản xuất, các xí nghiệp, nhà xưởng, xí nghiệp may, sản xuất lương thực thực phẩm đã dần quen thuộc đối với người dân Việt…

Ngành công nghiệp hóa chất phổ biến, đạt nhiều thành tự và đã trở thành ngành kinh tế trọng điểm của Việt Nam.

Chợ Kim Biên tại thành phố Hồ Chí Minh là ví dụ điển hình, nơi đây cung cấp, kinh doanh tất cả các loại hóa chất, cho tất cả ngành nghề.

Ngoài ra còn có nhiều doanh nghiệp sản xuất quy mô lớn hơn.

Lịch sử phát triển của công nghiệp hóa chất

Hóa chất đầu tiên được sản xuất là Axit Sunfuric, được phát minh và sản xuất số lượng lớn. Năm 1736, nhà dược sĩ Joshua Ward đã phát triển một quy trình sản xuất có liên quan đến nồng độ muối, cho phép oxy hóa lưu huỳnh và kết hợp với nước. Đây là lần đầu tiên có quy trình sản xuất axit sulfuric trên quy mô lớn. John Roebuck và Samuel Garbett là những người đầu tiên thành lập một nhà máy quy mô lớn ở Prestonpans, Scotland vào năm 1749, tại đó sử dụng các buồng ngưng tụ bằng chì để sản xuất axit sulfuric.

Tại Việt Nam, công nghiệp hóa chất cũng ra đời rất sớm như các ngành công nghiệp nặng, công nghiệp nhẹ khác.

Về ngành công nghiệp hoá chất, Việt Nam được xây dựng trên quy mô lớn bắt đầu từ năm 1954. Trải qua hơn một thập kỷ cùng với sự phát triển nhanh chóng, ngành công nhiệp Việt Nam đã trở thành một ngành kinh tế về kỹ thuật độc lập.

Ngành Công Nghiệp Hóa Chất Là Gì - Xu Thế Thị Trường Hiện Nay

Từ năm 1980 – 1985, báo cáo ngành hóa chất việt nam là một trong những ngành thể hiện rõ tính chủ đạo của nền công nghiệp quốc doanh. Các doanh nghiệp của nhà nước đảm bảo được 70% tổng giá trị sản lượng toàn ngành. Năm 1985, nó chiếm tỉ trọng cao trong toàn bộ ngành công nghiệp của Việt Nam.

Bắt đầu từ thời kỳ đổi mới 1986, nền công nghiệp hoá chất nước ta đã phát triển ổn định. Tốc độ tăng trưởng cao nhất vào thời kỳ 1991 – 1995, đạt mức ở 20%/năm. Những năm cuối thế kỷ XX, ngành công nghiệp hoá chất nước ta cũng tăng trưởng ở tất cả các thành phần kinh tế.

Sản phẩm công nghiệp nhựa là thùng phuy 220l, có công dụng chứa đựng các hóa chất công nghiệp, chỉ xài 1 lần.

Các chuyên ngành và sản phẩm chính của công nghiệp hoá chất ở Việt Nam là phân bón, hoá chất bảo vệ thực vật, chất tẩy rửa, hoá chất cơ bản, sản phẩm cao su, nhựa, điện hoá, sơn và chất dẻo.

Ngành hóa chất những năm gần đây trở thành mũi nhọn phản ánh sự phát triển công nghiệp một quốc gia. Phát triển về kinh tế kể từ thập niên 1950 đã khẳng định vai trò ngành hóa chất công nghiệp.

Điều này trở nên rõ ràng, sự cạnh tranh giữa các quốc gia, các ngành công nghiệp và các công ty trên toàn cầu. Lợi thế so sánh các quốc gia đã trở thành một vấn đề không còn chủ yếu dựa trên lợi thế về tài nguyên nữa.

Quá trình này được xuất phát từ lịch sử của ngành công nghiệp hóa chất kể từ thập niên 1850. Sự phát triển của ngành hóa chất công nghiệp kéo theo sự phát triển của nhiều ngành khác. Chính sách mà chính phủ duy trì và cải thiện tốc độ tăng trưởng và mức sống của từng đất nước.

Giai đoạn 1958-1960, phương hướng phát triển của Công nghiệp hoá chất (bao gồm cả sản xuất vật liệu xây dựng) trong thời kỳ này là:

– Sản xuất phân bón, thuốc trừ sâu phục vụ nông nghiệp.

– Phát triển mạnh vật liệu xây dựng đáp ứng nhu cầu xây dựng.

– Đẩy mạnh sản xuất các sản phẩm phục vụ các ngành kinh tế khác (acqui, hơi kỹ nghệ, gạch chịu lửa v.v…)

– Đáp ứng nhu cầu dân sinh.

Trong giai đoạn này, Công nghiệp hoá chất là một trong những ngành công nghiệp có tốc độ tăng trưởng cao nhất.

Về phân bón, từ sản lượng 6.000 tấn phốt phát năm 1955, thì năm 1960 đã đạt 541,4 nghìn tấn, trong đó apatit là 490 nghìn tấn và phốt phát nghiền là 49,7 nghìn tấn ( tăng hơn 90 lần).

Về xi măng, từ 8,4 nghìn tấn năm 1955, sản lượng năm 1960 đã đạt 407,9 nghìn tấn (tăng gần 50 lần)

Đặc biệt, trong thời kỳ này Công nghiệp hoá chất đã bắt đầu đưa ra thị trường hai mặt hàng tiêu dùng mới, đó là săm lốp xe đạp và đồ dùng bằng nhựa.

Nhìn chung, trong toàn bộ thời kỳ khôi phục, cải tạo và phát triển kinh tế kéo dài 6 năm, Công nghiệp hoá chất đã tiến một bước dài theo hướng phục vụ nông nghiệp, xây dựng cơ bản và tiêu dùng.

Trong bước đầu của nền công nghiệp Việt Nam, Công nghiệp hóa chất tại các địa phương có một vai trò rất quan trọng trong việc đáp ứng yêu cầu về mặt hàng tiêu dùng của nhân dân (xà phòng, thuốc đánh răng, sơn)… Thậm chí 45 tấn thuốc trừ sâu đầu tiên sản xuất tại Việt Nam vào năm 1960 cũng là của công nghiệp hoá chất địa phương.

Tổng quan về ngành công nghiệp hóa chất tại Việt Nam hiện nay

Thời kỳ kế hoạch 5 năm lần thứ nhất (1961 – 1965)

Đây là thời kỳ mà những kết quả đạt được của Công nghiệp hoá chất tuy chưa lớn, nhưng đối với một đất nước vừa thoát khỏi những năm dài chiến tranh, một đất nước nghèo nàn và lạc hậu, thì những thành tựu đạt được thật là to lớn và đáng tự hào.

Nhờ có 2 nhà máy phân bón, kể từ năm 1961, lần đầu tiên nước ta đã sản xuất được phân lân chế biến. Sản lượng phân hoá học trong năm 1964 , năm cao nhất của thời kỳ kế hoạch, là 205,26 nghìn tấn, trong đó supe phốt phát là 135,88 nghìn tấn.

Sản lượng apatit nguyên khai cũng tăng nhanh chóng lên đến mức cao nhất vào năm 1964, đạt 864 ngàn tấn, trong đó 7.400 tấn được nghiền làm phân bón.

Trong thời kỳ này Công nghiệp hoá chất cũng bắt đầu sản xuất nhiều thuốc trừ sâu.

Ngành hóa chất cơ bản cũng bắt đầu hình thành với các sản phẩm như axit sunfuric, axit clohyđric, xút lỏng, clo lỏng.

Ngành năng lượng điện hóa đã bắt đầu cung cấp pin và acqui cho quốc phòng, đáp ứng nhu cầu của các ngành kinh tế và tiêu dùng.

Ngành công nghiệp cao su cũng bắt đầu sản xuất được lốp ôtô với sản lượng ban đầu là 22,5 nghìn bộ (năm 1964) và sau đó, đưa lên 29 nghìn bộ (năm 1965) chưa kể một số lượng lớn lốp đắp, phục vụ kịp thời cho chiến đấu và sản xuất. Các mặt hàng tiêu dùng cũng tăng nhanh sản lượng.

Trong lĩnh vực vật liệu xây dựng, sản lượng xi măng tăng đáng kể.

Kết thúc kế hoạch 5 năm lần thứ nhất, mặc dù chịu nhiều tổn thất trong chiến tranh phá hoại của Mỹ, nhưng Công nghiệp hóa chất và vật liệu xây dựng vẫn tiếp tục phát triển, chiếm vị trí quan trọng trong công nghiệp. Cơ cấu ngành cũng có nhiều thay đổi. Lĩnh vực sản xuất tăng nhanh. Chúng ta đã có Công nghiệp hoá chất vô cơ cơ bản và năng lượng hoá học.

Đã hình thành ba khu công nghiệp hoá chất tập trung ở các khu vực : Hà Nội, Vĩnh Phú (Việt Trì – Lâm Thao) và Hải Phòng.

Thời kỳ chống chiến tranh phá hoại bằng không quân của Mỹ (1965 – 1975)

Sản phẩm quan trọng nhất trong thời kỳ này là phân lân. Các sản phẩm trọng yếu khác của ngành đều phục hồi nhanh và vượt xa mức trước chiến tranh.

Trong 20 năm xây dựng và phát triển, từ hòa bình lập lại đến năm 1975, Công nghiệp hoá chất đã có bước phát triển rất to lớn. Về cơ cấu ngành, đã hình thành nhiều thành phần kinh tế – kỹ thuật thiết yếu trong nền kinh tế quốc dân:

  • Công nghiệp sản xuất phân bón, thuốc trừ dịch hại và các hoá chất phục vụ nông nghiệp khác;
  • Công nghiệp mỏ phục vụ ngành hoá chất;
  • Công nghiệp cao su;
  • Công nghiệp hoá chất cơ bản;
  • Công nghiệp pin – acquy;
  • Công nghiệp xà phòng…
  • Các hóa chất cơ bản như xút, clo (cho công nghiệp giấy, công nghiệp thực phẩm và xử lý nước), axit sunfuric ( cho công nghiệp acquy,sản xuất phèn) v.v… cũng hoàn toàn do các cơ sở quốc doanh đảm nhiệm. Tất cả các hoá chất và sản phẩm liên quan đến hoá chất cần thiết cho quốc phòng đều do Tổng cục Hóa chất sản xuất theo kế hoạch đặc biệt nhằm đáp ứng các yêu cầu cụ thể.
  • Ngoài sản xuất, khu vực nghiên cứu thiết kế cũng được hình thành. Trong ngành có hai cơ quan khoa học là Viện Hoá học Công nghiệp (thành lập năm 1955) Và Viện Thiết kế Hoá chất (thành lập năm 1967).Ngành có một trường đào tạo kỹ thuật viên, hai trường đào tạo công nhân kỹ thuật và một trường quản lý kinh tế.

Giai đoạn phát triển 1976-1985 của ngành

Trong kỳ kế hoạch này, nhờ Nhà máy Phân lân Ninh Bình đi vào sản xuất và Nhà máy Supe phốt phát Lâm Thao tiếp tục mở rộng, đưa công suất lên 300 nghìn tấn/năm, nên sản lượng phân lân chế biến năm 1985 đã tăng gấp 1,5 lần so với năm 1980. Sản lượng thuốc trừ sâu cũng tăng gấp 2,2 lần. Các sản phẩm chủ yếu khác như các hóa chất vô cơ cơ bản và nhất là các sản phẩm tiêu dùng thiết yếu của ngành như săm lốp xe đạp, pin, chất tẩy rửa v.v… đều tăng sản lượng và số mặt hàng. Tuy nhiên, các sản phẩm phụ thuộc nhiều vào nguyên liệu nhập khẩu đều bị giảm. Điển hình là săm lốp ôtô, thuốc đánh răng và xà phòng thơm.

Thời kỳ kế hoạch 5 năm (1991 – 1995)

Mặc dù khu vực ngoài quốc doanh phát triển mạnh, đặc biệt là các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài, nhưng các doanh nghiệp quốc doanh vẫn giữ vai trò chủ đạo, chiếm tỷ trọng 74,4%, trong đó hai Tổng công ty Hóa chất chiếm 43%.

Khu vực công nghiệp địa phương trong sản xuất với số lượng doanh nghiệp còn rất ít, nhưng cũng có một vị trí đáng kể trong ngành. Giá trị sản xuất công nghiệp năm 1995 của các liên doanh đã chiếm 13,6% giá trị toàn ngành.

Giai đoạn năm 1995 -2009

Giai đoạn này, Tổng Công ty Hóa chất Việt Nam đã có những bước phát triển vượt bậc, đã tăng nhanh năng lực sản xuất, kinh doanh, tiếp tục đóng góp lớn cho việc bảo đảm cung ứng nhiều sản phẩm hàng hoá thiết yếu cho nền kinh tế; tạo nguồn thu cho ngân sách; cùng với các Tập đoàn và Tổng Công ty nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong ngành sản xuất phân bón và một số lĩnh vực then chốt của nền kinh tế. Quy mô vốn sở hữu của Tổng Công ty từ 2006 đã tăng lên đáng kể. Năm 2006, tổng vốn chủ sở hữu của Tổng Công ty là 4.342 tỷ đồng, cuối năm 2008 đã đạt 6.818 tỷ đồng, tăng 56,79; các chỉ tiêu kinh tế chủ yếu đều vượt so với kế hoạch đề ra, duy trì được tốc độ tăng trưởng. Tính đến thời điểm 30 tháng 11 năm 2009, ngoài Công ty mẹ, Tổng Công ty có 10 Công ty con mà Tổng Công ty giữ 100% vốn điều lệ, 10 Công ty trên 50% vốn điều lệ, 11 Công ty liên kết và 4 Công ty liên danh với nước ngoài, một Trường cao đẳng và một Viện nghiên cứu, phát triển.

Những năm gần đây, trong bối cảnh toàn cầu hoá, hội nhập ngày càng sâu rộng, phải cạnh tranh ngày càng gay gắt cả trong nước và quốc tế, Tổng Công ty có những phát triển vượt bậc và toàn diện trên các mặt sản xuất, kinh doanh, đầu tư xây dựng cơ bản, lao động sáng tạo, ứng dụng thành tựu KHCN, bảo vệ môi trường, công tác xã hội từ thiện ….

Tổng Công ty đã góp phần đảm bảo an ninh lương thực đất nước, mỗi năm cung cấp cho nông dân 1,4 triệu tấn phân chứa lân gồm supe photphat và phân lân nung chảy; đáp ứng 100% nhu cầu của cả nước; khoảng 1,4 – 1,6 triệu tấn phân NPK các loại và 150 nghìn tấn phân đạm. Ngoài phân bón, các ngành như cao su (săm lốp ôtô, xe đạp, xe máy); chất giặt rửa, các sản phẩm điện hóa (pin, ắcquy), hoá chất cơ bản (xút, axít …) cũng được phát triển. Trong 10 năm 1998-2008, tốc độ tăng trưởng bình quân của Tổng Công ty là 11,13%, chiếm tỷ trọng 10%, giữ vị trí đáng kể trong toàn ngành công nghiệp.

NGÀNH CÔNG NGHIỆP HÓA CHẤT VÀ CÁC NHÀ MÁY SẢN XUẤT HÓA CHẤT CÔNG NGHIỆP -

Ngày 23/12/2009, Thủ tướng Chính Phủ ban hành Quyết định số 2180 TTg thành lập Tập đoàn Hóa chất Việt Nam (VINACHEM) và ngày 20 tháng 1 năm 2010, Tập đoàn Hóa chất Việt Nam đã làm lễ ra mắt tại Hà Nội. Tập đoàn Hóa chất Việt Nam là doanh nghiệp đa sở hữu, trong đó sở hữu nhà nước là chi phối, hoạt động theo mô hình Công ty mẹ – Công ty con, được thành lập theo trên cơ sở xắp xếp, tổ chức lại Tổng công ty Hóa chất Việt Nam.

Năm 2000 giá trị tổng sản lượng của công ty đạt 6.227 tỉ đồng, tăng 19,7% so với năm 1999. (theo Tổng Công ty Hoá chất Việt Nam)

Việt Nam thực hiện công cuộc đổi mới, những cải cách kinh tế đã thúc đẩy sự tăng trưởng kinh tế, phát triển công nghiệp – nông nghiệp. Nhu cầu về nguyên liệuhoá chất cũng ngày càng tăng với tốc độ tăng trưởng sản xuất hoá chất hằng năm là 15%. Sự tăng trưởng kinh tế đó đẫn đến gia tăng lượng chất thải và phát sinh nhiều chủng loại chất thải độc hại.

Tình trạng đó đã tác động đến môi trường. Việt Nam đang trong tình trạng thiệt hại về môi trường ở mức cao (khoảng 10% GDP) và giá trị này đang có khuynh hướng gia tăng (theo TS. Trương Mạnh Tiến). Các dây chuyền sản xuất hoá chất hoặc có sử dụng hoặc thiếu nhiều trang bị an toàn. Công nghệ sản xuất sạch hơn trong sản xuất hoá chất còn chưa được áp dụng rộng rãi.

Nhiều hoá chất độc hại trong dây chuyền chưa được thay thế. Các cơ sở sản xuất còn thiếu hệ thống xử lý chất thải.

Nổi bật là vụ rò rỉ khí mêtan ngày 11/01/1999 ở mỏ than Mạo Khê, Quảng Ninh làm 19 người chết, 12 người bị thương; hay vụ ngạt khí mêtan ngày 06/07/2000 tại công ty thủy sản Cam Ranh, Khánh Hoà làm 4 người chết (theo “hiện trạng môi trường Việt Nam năm 2000”, báo cáo của Bộ KHCN&MT trình Quốc hội khoá X). Vấn đề môi trường ở các nhà máy sản xuất hoá chất thường xuyên được đặt ra. Tại mỗi nhà máy cần có những đánh giá tình trạng môi trường và hiệu quả của những biện pháp kiểm soát môi trường tại cơ sở.

Công nghiệp Việt Nam đặt ra nhu cầu về xử lý – tận dụng chất thải của ngành hoá chất và đây cũng là nhiệm vụ của ngành hoá chất trong quá trình xây dựng nền kinh tế phát triển bền vững.

So với các nước Đông Nam Á khác như Indonexia, Thái Lan, Xingapo thì công nghiệp hoá chất Việt Nam hãy còn nhỏ bé. Cho tới nay, chúng ta chỉ mới khai thác dầu thô, đang xây dựng nhà máy lọc dầu. Có công nghiệp hoá dầu mới phát triển mạnh các ngành sản xuất hoá chất hữu cơ và sản phẩm từ háo chất hữu cơ như sản xuất phân đạm, sợi hoá học, sơ, chất dẻo… Khai thác khoáng sản ở ta cũng chưa phát triển, chỉ ở mức xuất khẩu quặng, chưa có công nghệ chế biến tiên tiến. Ngành sản xuất hoá chất vô cơ chưa đáp ứng nhu cầu trong nước.

Sự ra đời của Tập đoàn Hóa chất Việt Nam là một dấu ấn quan trọng, một bước ngoặt lịch sử, tạo ra thế và lực mới để phát triển Ngành hóa chất Việt Nam trong thập kỷ đầu tiên của thế kỷ 21.

Khác với đóng góp trực tiếp vào nông nghiệp. Công nghiệp hóa chất đóng góp gián tiếp cho hầu hết mọi lĩnh vực của mỗi nền kinh tế. Trong cuộc sống hàng ngày, con người sử dụng rất nhiều sản phẩm công nghiệp và hầu hết trong đó có liên quan đến Công nghiệp hóa chất theo cách này hay cách khác.

Sản xuất hàng tiêu dùng sử dụng khoảng 10% hóa chất trực tiếp, nhưng các ngành khác gián tiếp tham gia vào hàng tiêu dùng cũng sử dụng đáng kể các sản phẩm hóa học.

Các sản phẩm hóa chất thông thường bao gồm bột màu, cao su tổng hợp, polyme, nhựa và chất nổ. Nhựa, muối, axit và phân bón là những sản phẩm được sử dụng rộng rãi và gắn bó cũng như ảnh hưởng trực tiếp đến cuộc sống hàng ngày của con người. Các ngành công nghiệp hàng tiêu dùng, nông nghiệp và các nhà sản xuất đều sử dụng các sản phẩm này.

Nguồn: eiindustrial.com

2021-11-12 / by / in