Thêm kết quả...

TƯƠNG LAI CỦA BAO BÌ: CÔNG NGHỆ & THIẾT KẾ

Dựa trên những gì chúng ta đã biết, trên cơ sở những gì đang diễn ra hiện nay, không khó để nhìn thấy tương lai của bao bì, những gì trong tương lai sẽ như thế nào? Bằng cách phân tích những công nghệ mới nổi, xu hướng bao bì toàn cầu và những dự báo về thị trường, chúng ta có thể có được một cái nhìn khá rõ ràng về tiềm năng của ngành công nghiệp bao bì đến năm 2028 và những năm sau đó.

Prima.vn xin chia sẻ với bạn đọc những thông tin về tương lai của ngành bao bì. Chúng ta sẽ xem xét mọi thứ từ tính bền vững, thiết kế (bao bì thông minh), sản xuất (tự động hóa máy móc) đến vận hành (AI và công nghệ blockchain) và những giải pháp cho ngành bao bì. Nổi bật trong tương lai là 6 xu hướng 
1. Định hình lại bao bì
2. Tăng cường nỗ lực Bền vững
3. Sự gia tăng của thương mại điện tử
4. Giải pháp bao bì hộp và carton sóng
5. Thay đổi trong Sản xuất & Vận hành
6. Tự động hóa giao hàng tận nhà

Thiết kế cho bao bì

Trong mười năm tới, các nhà cung cấp dịch vụ chứ không phải người bán sản phẩm, sẽ lên ngôi. Do đó, người tiêu dùng trong tương lai sẽ có thể tận hưởng trải nghiệm mua sắm trọn gói.

Ví dụ, thay vì mua một số mặt hàng làm đẹp & tóc có thương hiệu thông thường, dịch vụ mới sẽ cung cấp trải nghiệm chăm sóc cá nhân toàn diện, vượt ra ngoài thương hiệu và thu hút khách hàng về mặt tinh thần, tình cảm và cảm quan.

Với những tiến bộ công nghệ mới, sẽ có sự chuyển hướng từ sản xuất hàng loạt chuyển qua bao bì nhãn hàng sáng tạo riêng và chuyên biệt hơn để phục vụ các sản phẩm và dịch vụ cụ thể.

  1. Định hình lại bao bì

Mặc dù tất cả chúng ta đều biết rằng, hộp, túi, chai lọ, bao bì carton là những loại bao bì cổ điển, những loại bao bì truyền thống đã lớn lên cùng chúng ta,nhưng tương lai có thể sẽ được định hình lại.

Với nhu cầu ngày càng tăng của người tiêu dùng kéo theo đó là nhu cầu về sự tiện lợi ngày càng tăng. Sự thuận tiện đòi hỏi phải nâng cấp sáng tạo và tiến bộ công nghệ mở ra những cơ hội mới cho các doanh nghiệp. Hãy cùng khám phá một số thay đổi mà chúng ta có thể thấy trong ngành bao bì.

Bao bì dễ tan

Bao bì ăn được là một giải pháp thay thế sáng tạo và thú vị, giúp giảm bớt sự phụ thuộc vào nhiên liệu hóa thạch và có khả năng giảm đáng kể lượng khí thải carbon, đây chính là điều mà người tiêu dùng đang tìm kiếm.

Sử dụng nguyên liệu thô chiết xuất từ tảo, chất làm ngọt tự nhiên, thuốc nhuộm tự nhiên từ vỏ của trái cây và rau quả cho thấy tiềm năng để cung cấp cho ngành công nghiệp thực phẩm nhiều lựa chọn về màu sắc, kiểu dáng….. Hơn nữa, nó mang lại trải nghiệm thú vị cho khách hàng vượt ra ngoài giới hạn của bao bì.

Scoby'- loại bao bì ăn được, có thể trồng như rau - ELLE Decoration Vietnam

Bao bì ăn được đã được khám phá và tiếp tục tạo được uy tín và thị trường, với bong bóng nước ăn được ra mắt thị trường vào năm 2013. Theo Design Boom, công ty khởi nghiệp bao bì bền vững, có trụ sở tại London muốn chuyển việc chỉ bán bong bóng nước của họ từ các cửa hàng hoặc máy bán hàng tự động, sang thách thức rác thải nhựa trên quy mô toàn cầu, họ đã thử nghiệm bong bóng nước tại các sự kiện thể thao lớn vào năm 2018.

Người ta ước tính rằng ngành công nghiệp bao bì ăn được đang tăng trưởng với tốc độ CAGR (Compounded Annual Growth rate) là 6,81% từ năm 2017 đến năm 2023. Cách thay đổi này để chống lại bao bì plastic, có thể trở thành một chuẩn mực sớm hơn chúng ta nghĩ!

Giảm thiểu chất thải không chỉ giới hạn ở ngành thực phẩm và đồ uống mà còn ở các mặt hàng gia dụng.

Chúng ta đã thấy sự xuất hiện rất lớn của các loại bao bì có thể hòa tan trong nước cho nước rửa chén và bột giặt. Điều này ngày càng trở nên bình thường  và là một phần của xu hướng chủ đạo trong thời gian sắp tới. Hơn nữa, bao bì làm từ tinh bột ngô dường như đang trở nên phổ biến hơn trong ngành bán lẻ cũng như ngành thực phẩm và đồ uống.

Các mặt hàng như túi, hộp đựng mang đi và dao kéo, được làm từ tinh bột ngô đang được chú ý trong nhiều ngành công nghiệp, đặc biệt là trong lĩnh vực thức ăn nhanh. Từ góc độ khách hàng, đây có vẻ là một lựa chọn hấp dẫn do sự phát triển của người tiêu dùng có ý thức về môi trường.

Tiết kiệm không gian

Việc lưu trữ và vận chuyển một lượng lớn bao bì cũng được coi là ít thân thiện với môi trường do phát thải khí Carbon và rác. Máy bay, tàu thủy và xe tải chuyển hàng đến các kho hàng lớn để lưu trữ, phân phối bán lẻ. Và cuối cùng sẽ bị chôn vùi trong bãi rác nếu quá hạn sử dụng.

Đặc biệt là trong ngành công nghiệp đóng gói thực phẩm và đồ uống, rất nhiều rác thải. Cần phải có những loại bao bì tiết kiệm không gian để giảm khối lượng vận chuyển, lưu kho và chất thải.

Vậy, bao bì tiết kiệm không gian có ý nghĩa như thế nào đối với ngành thiết kế bao bì?

Bao bì hình vuông hoặc hình chữ nhật cho các mục đích xếp và lưu trữ. Đây không phải là thay đổi thiết kế thú vị nhất, chúng ta đã có bao bì đồ uống hình vuông hoặc hình chữ nhật trong một thời gian dài. Tuy nhiên, khái niệm này đã được khá nhiều người chú ý. Nước đóng hộp đã trở nên rất hợp thời trong các nền tảng truyền thông xã hội kể từ khi ra mắt vào năm 2009. Khái niệm này đã bắt đầu trở thành một chuẩn mực trong ngành công nghiệp đồ uống và nước giải khát.

Đồ uống đóng hộp cũng gắn liền với sự bền vững vì việc sử dụng nhựa để sản xuất đồ uống đóng hộp đã giảm đáng kể, nhường lại cho giấy và nhôm

Bao bì thông minh

Còn được gọi là bao bì thông minh và chủ động, bao bì thông minh đang chứng kiến sự phát triển vượt bậc trong ngành bao bì ngày nay. Theo Grand View Research, doanh thu từ bao bì thông minh đạt 10,8 tỷ USD vào năm 2015 và dự kiến sẽ đạt 26,7 tỷ USD vào năm 2024.

Từ góc độ người tiêu dùng, bao bì thông minh mang lại nhiều giá trị gia tăng lợi ích, bao gồm trải nghiệm mở hộp nâng cao, hình ảnh bắt mắt, bảo quản và bảo vệ sản phẩm, xác thực nguồn gốc, tăng tính bảo mật và kết nối với nhà cung cấp. Đối với các thương hiệu và công ty sản xuất, một thế giới truyền thông mới đang mở ra. Với nhiều tiện ích theo dõi hành vi của người tiêu dùng cuối hơn, loại bao bì này mang đến trải nghiệm phù hợp hơn với thị trường mục tiêu, cho phép các doanh nghiệp đáp ứng nhu cầu của người tiêu dùng hiệu quả hơn.

Mặc dù bao bì thông minh không mang lại hình dạng mới cho các sản phẩm cổ điển của chúng ta, nhưng nó định hình lại mục đích và khả năng của bao bì, cho phép ngành đóng gói khám phá những điều chưa biết.

Chúng ta có thể thấy việc triển khai hai công nghệ chính, cho bao bì thông minh: in điện tử và công nghệ nano.

In điện tử

In điện tử thường được biết dưới dạng giao tiếp trường gần (NFC – near-field communication) và nhận dạng tần số vô tuyến (RFID – radio-frequency identification), đèn thông minh LED/OLED với nguồn điện nhỏ gọn, màn hình cảm biến và bộ lưu trữ dữ liệu cung cấp cho người tiêu dùng một mức độ tương tác chưa từng thấy trước đây.

Vật liệu tiên tiến và thiết bị in điện tử với đèn LED/OLED thông minh sẽ mang đến một cấp độ mới về tương tác sản phẩm, thông tin giải trí, hỗ trợ bán hàng kỹ thuật số và kết nối trực tuyến.

Nói một cách dễ hiểu – màn hình kích hoạt cảm biến là một phần của thiết kế bao bì và là một phần quan trọng trong trải nghiệm của khách hàng. Gần đây, Karl Knauer và INURU GmbH đã hợp tác để tạo ra một nhãn Coca-Cola được chiếu sáng bằng cách sử dụng in OLED, nhận được Giải thưởng Thiết kế của Đức cho công trình sáng tạo của họ.

Đến năm 2028, công nghệ thực tế (ảo) tăng cường sẽ có cách đóng gói thêm các yếu tố thị giác, xúc giác và thính giác để nâng cao đáng kể chất lượng của quá trình tạo mẫu và sản xuất cho các nhà sản xuất và trải nghiệm cho khách hàng.

Công nghệ nano

Thị trường của lớp tráng phủ nano đang chứng kiến mức tăng trưởng đáng kể nhất với tốc độ CAGR gần 25%, với lớp phủ nano chống dấu vân tay đứng đầu danh sách cho một số ngành, bao gồm cả bao bì. Công nghệ nano cũng sẽ được sử dụng trong việc giảm thiểu chất thải bao bì và tạo tính bền vững, với vật liệu tổng hợp nano sinh học có tiềm năng lớn để thay thế cho các loại nhựa không phân hủy sinh học được sản xuất từ dầu mỏ.

Ví dụ: với thao tác quẹt thẻ hoặc quét thiết bị thông minh, bao bì sẽ cung cấp các tính năng:

  • Theo dõi nâng cao
  • Bảo vệ chống trộm cắp
  • Thêm nhiều dữ liêu hơn thông tin được in trên nhãn
  • Hình ảnh động (ví dụ hướng dẫn sử dụng sản phẩm)
  • Kết nối trực tuyến
  • Tương tác với các sản phẩm tích hợp
  • Giám sát tích cực
  • ……

Trong vài năm tới, vật liệu nano với các đặc tính bảo vệ sẽ được sử dụng trong bao bì hợp vệ sinh và kháng khuẩn, đặc biệt cho các sản phẩm y tế, dược phẩm và thực phẩm. Cùng với những cải tiến, như việc sử dụng các chip trong bao bì, chúng ta chỉ mới nhìn thấy phần nổi của tảng băng chìm, trong ứng dụng rộng lớn của công nghệ nano và chúng ta có thể mong đợi một làn sóng mới sẽ đến trong tương lai.

Thực tế tăng cường

Với sự xuất hiện của thực tế (ảo) tăng cường (AR – Augmented Reality), đến lúc chúng ta phai bắt đầu xem công nghệ tương tác sẽ đóng vai trò như thế nào của thiết kế bao bì trong tương lai. Trong thập kỷ tới, người tiêu dùng sẽ có thể sử dụng thử các sản phẩm, kiểm tra các tùy chọn bao bì và tương tác với việc sử dụng sản phẩm, khi các công ty xây dựng nhận diện thương hiệu và cung cấp các hình thức giải trí mới thông qua bao bì và sản phẩm.

Một công ty đang bắt đầu ghi dấu ấn trong việc sử dụng công nghệ AR này là Zappar. Zappar đã đẩy mạnh một số chiến dịch thực tế tăng cường. Thông qua việc tạo ra sự bình thường hóa khái niệm bao bì mới này, ngành thiết kế bao bì sẽ học được nhiều thay đổi mới trong tương lai gần.

AR sẽ không chỉ nâng cao mức độ tương tác với sản phẩm mà còn cung cấp rất nhiều dữ liệu về người tiêu dùng, giúp mang lại nhiều kết quả và lợi ích, có thể đo lường được cho khách hàng và nhà sản xuất. Điều này sẽ giúp cung cấp trải nghiệm được cá nhân hóa hơn cho mỗi người tiêu dùng cuối và làm cho các nỗ lực tiếp thị và ra mắt sản phẩm trong tương lai phù hợp và có mục tiêu rõ ràng hơn.

Về cơ bản, AR sẽ cung cấp đầy đủ hơn về những điều mà khách hàng muốn!

2. Tăng cường hiệu quả tính bền vững

Tính bền vững trong các khía cạnh ngoài bao bì và sản phẩm, đã là một xu hướng rõ ràng trong hầu hết các ngành công nghiệp. Người tiêu dùng đang hướng tới trải nghiệm mua sắm thân thiện với môi trường hơn, và điều này cũng trở nên bình thường hơn trong thời gian tới.

Trong khi các lựa chọn thân thiện với môi trường hiện ít hiệu quả hơn về chi phí, thì chi tiêu của người tiêu dùng cho các sản phẩm thân thiện với môi trường đang tăng lên. Theo Survey Monke. Cứ 3 người tiêu dùng thì có 1 người ủng hộ các lựa chọn thân thiện với môi trường và 35% người được hỏi sẽ mua sản phẩm tốt hơn cho môi trường so với các sản phẩm khác có thể rẻ hơn một chút. (https://www.surveymonkey.com/curiosity/more-consumers-are-opening-their-wallets-for-eco-friendly-products/?program=7013A000000)

Với việc ngày càng nhiều công ty thực hiện bao bì bảo vệ môi trường, cùng với những người tiêu dùng hiểu biết, những người có trách nhiệm cao với môi trường, tính bền vững đã trở thành một trọng tâm cốt lõi đối với ngành công nghiệp bao bì.

Các xu hướng hiện nay bao gồm giảm thiểu chất thải, sử dụng hiệu quả không gian hộp, giảm lượng khí thải carbon và tái chế. Lĩnh vực bao bì có thể phân hủy sẽ tăng lên.

Thị trường bao bì nhựa có thể phân hủy được dự kiến sẽ có tốc độ tăng trưởng kép hàng năm (CAGR) là 6,4% vào năm 2028. Nói một cách đơn giản hơn – đầu tư vào bao bì bền vững cho thấy những lợi ích đầy hứa hẹn cho các thương hiệu trên toàn thế giới.

Tính bền vững đã là một chủ đề được thảo luận nhiều trong thế giới kinh doanh và tiêu dùng trong vài năm qua. Có thể nói rằng vì điều này, bao bì bền vững có thể là tiêu chuẩn mới thay thế hoàn toàn bao bì nhựa trong tương lai.

3. Sự gia tăng của thương mại điện tử

COVID-19 đã làm thay đổi cuộc sống hàng ngày một cách đột ngột. Mất đi trải nghiệm, sự kiện và dịch vụ tại cửa hàng của mọi người. Thương mại điện tử đã trở thành hình thức chủ yếu của người tiêu dùng ngày nay. Không có trải nghiệm tại cửa hàng hoặc cơ hội cho ngành dịch vụ khách hàng trong thời kỳ ngừng hoạt động, thương mại điện tử đã trở thành hình thức mua sắm chính ngày nay.

Mặc dù thương mại điện tử đã được công nhận là ưu tiên cao của các doanh nghiệp, nhưng mức độ phụ thuộc vào mua sắm trực tuyến đã làm tăng tầm quan trọng của thương mại điện tử.

Đại dịch đã là một thời kinh hoàng cho tất cả mọi người trên toàn thế giới. Tuy nhiên, các doanh nghiệp kinh doanh trực tuyến đã thu hút được rất nhiều sự chú ý. Do đại dịch và sự phụ thuộc quá nhiều vào các phương tiện trực tuyến để tìm kiếm cơ hội việc làm cũng như cơ hội mua sắm, thương mại điện tử có thể đã chiếm vị trí đầu tiên. Với những gã khổng lồ như Amazon hiện đang dẫn đầu thị trường và thế giới thương mại điện tử, vẫn còn nhiều chỗ cho sự tiến bộ.

Trải nghiệm mua sắm thương mại điện tử ngày càng trở nên phù hợp hơn với khách hàng, cho phép các thương hiệu tăng hiệu quả tiếp cận thị trường mục tiêu của họ, thông qua nhiều cách, trong đó có bao bì. Các nhà sản xuất và cung cấp dịch vụ đã chuẩn hóa quảng cáo, nhắm vào mục tiêu cụ thể thông qua các thuật toán và hành vi trực tuyến của khách hàng. Trải nghiệm của khách hàng được tùy chỉnh cao thông qua thương mại điện tử.

Điều này mang lại rất nhiều cơ hội cho ngành công nghiệp bao bì để chuyên môn hóa và tùy chỉnh các sản phẩm của họ ở mức độ cao hơn, đặc biệt là với sự gia tăng của bao bì thông minh và các xu hướng đã đề cập ở trên.

4. Giải pháp cho bao bì carton sóng

Từ các khảo sát và đánh giá về thị trường. Tương lai cho tất cả loại bao bì dạng gấp và carton sóng đang rất tốt. Được định giá 155 tỷ đô la vào năm 2017, thị trường toàn cầu dự kiến sẽ tăng gấp đôi vào năm 2025, mở rộng với tốc độ CAGR là 4,6% từ năm 2017 đến năm 2025. Sự tăng trưởng mạnh mẽ này, có thể do thu nhập khả dụng tăng và những người tiêu dùng hiểu biết sẽ kỳ vọng hơn vào chất lượng nhất của bao bì hộp.

Cùng với nhu cầu về những nỗ lực bền vững, gia tăng nhiều hơn các ứng dụng đối với vật liệu sóng và giá cả hạ xuống, sẽ mang lại một sự bùng nổ lớn cho các dạng bao bì hộp và carton.

Vật liệu kim loại (tôn, thiếc…) rất bền, tiết kiệm chi phí và có thể tái chế, nhưng nó không hoàn hảo. Hiện tại, chúng ta đang thấy việc sử dụng thùng nhựa tái chế (RPC – Reusable Plastic Containers ) để vận chuyển hàng hóa dễ hư hỏng. (https://www.paconsulting.com/insights/why-reinventing-corrugated-cardboard-demands-thinking-outside-the-box/). Tìm cách tận dụng cơ hội này, các công ty như Aeroclay, Biome3D và UFP Technologies đang phát triển và cải tiến các vật liệu phân hủy sinh học, làm cho sản phẩm bao bì hộp thích ứng hơn với tương lai bền vững.

5. Những thay đổi trong Sản xuất & Vận hành in 3D

Công nghệ sản xuất vật liệu và chất phụ gia cho in 3D, đã chiếm vị trí khá quan trọng trong vài năm qua, với khả năng tạo ra các hình dạng và thiết kế phức tạp theo yêu cầu, điều này sẽ không thể đạt được thông qua các phương pháp sản xuất truyền thống, vốn đòi hỏi sử dụng quá nhiều tài nguyên… Trong tương lai, in 3D hứa hẹn sẽ nâng tầm sản xuất in, thông qua việc cung cấp bao bì theo đơn đặt hàng.

Đối với các nguyên mẫu bao bì, in 3D sẽ cung cấp một lựa chọn tối ưu hơn rất nhiều so với các phương pháp hiện tại, mang lại sự linh hoạt, hiệu quả và giảm chi phí. Kêt hợp chặt chẽ giữa thiết kế và sản xuất

In 3D cũng sẽ mang lại một con đường bền vững hơn cho ngành bao bì. Cho phép ngành công nghiệp bao bì sản xuất với giá thành thấp hơn nhiều. Thông qua việc tích hợp các cơ sở sản xuất và kho hàng, chi phí vận chuyển cũng như lượng khí thải CO2 sẽ giảm đáng kể.

Nguồn: prima.vn

2021-11-24 / by / in
Các nước châu Đại dương cam kết loại bỏ bao bì nhựa trước năm 2025

Hơn 60 tổ chức ở các nước thuộc châu Đại dương gồm Australia, New Zealand và các quần đảo Thái Bình Dương đã ký kết một hiệp ước loại bỏ rác thải bao bì nhựa.

Theo chương trình đối tác hành động về nhựa ANZPAC, các công ty trên khắp châu Đại dương đã cam kết loại bỏ bao bì nhựa không cần thiết, cũng như đảm bảo 100% bao bì đều có thể tái chế, tái sử dụng hoặc có thể phân hủy được. Trong số các công ty tham gia ký kết hiệp ước có những thương hiệu lớn như Coles, Woolworths và 2 “gã khổng lồ” Nestle và Coca-Cola.

Chú thích ảnh

Bà Brooke Donnelly, Giám đốc điều hành của Tổ chức Hiệp ước Bao bì Australia (APCO), cho biết hơn 800.000 tấn rác thải nhựa đã được đưa đến các bãi rác hoặc thải loại ra môi trường ở nước này mỗi năm. Để có thể giải quyết rác thải nhựa một cách hiệu quả, các nước cần tìm ra giải pháp không theo lối mòn hoặc bị ràng buộc bởi biên giới các nước.

Bà Donnelly nhấn mạnh thông qua mô hình Hiệp ước nhựa, các nước trong châu Đại dương sẽ cùng nhau hoàn thiện chuỗi cung ứng nhựa trên khắp châu lục, hợp tác với các đối tác trên toàn cầu thông qua mạng lưới Hiệp ước nhựa, phát triển các giải pháp mang lại sự thay đổi thực sự đối với vấn đề nhựa cho toàn khu vực.
Nguồn: baotintuc.vn
2021-11-23 / by / in
Cơ hội cho sản phẩm bao bì trong mùa Covid-19

Chủ tịch Mỹ Lan Group – Nguyễn Thanh Mỹ cho biết trong khi mảng phân bón không có doanh thu, thì sản phẩm bao bì nhu cầu thị trường cao nên doanh nghiệp tìm cách gia tăng sản xuất.

Trong talk Nguy – Cơ số 14 mùa 2 ông Nguyễn Thanh Mỹ đề cập đến nhiều giải pháp cụ thể giúp doanh nghiệp sống chung với đại dịch, trong đó những vướng mắc, bất cập khi doanh nghiệp thực hiện “3 tại chỗ”; kinh nghiệm thương trường trong lĩnh vực nông nghiệp sau khi ông từ Canada về nước khởi nghiệp.

Khó khăn khi thực hiện “3 tại chỗ”

Theo ông Mỹ, khó khăn lớn với doanh nghiệp giai đoạn vừa qua là cách chống dịch của cơ quan ban ngành địa phương chưa phù hợp với doanh nghiệp. Đơn cử, theo văn bản chỉ đạo của UBND tỉnh Trà Vinh về tổ chức tái hoạt động của doanh nghiệp, mọi doanh nghiệp phải thực hiện xét nghiệm RT-PCR cho tất cả nhân viên mỗi tuần một lần. Doanh nghiệp của ông Mỹ có 350 người, đã hợp đồng với Bệnh viện Đa khoa Trà Vinh để hàng tuần làm xét nghiệm.

Mỗi lần như vậy, tốn 4 tiếng đồng hồ. Mỗi tuần, doanh nghiệp mất nửa ngày để xét nghiệm và không được vận hành. Nếu doanh thu của doanh nghiệp khoảng 2 tỷ đồng mỗi ngày, mỗi tháng xét nghiệm như vậy, doanh thu mất 4 tỷ cộng thêm chi phí xét nghiệm là 240 triệu một tháng.

Theo ông Mỹ, có những doanh nghiệp có gần 5.000 lao động. Theo chính sách mới, họ chỉ được vận hành 50%, tức là có khoảng 2.215 người lao động. Để xét nghiệm hàng tuần phải tốn 24 tiếng đồng hồ, tương đương 3 ca làm việc và tốn kém nhiều chi phí.

“Ở Trà Vinh có vài doanh nghiệp lên tới 10.000 lao động, 7.000 lao động mà cả tỉnh chỉ có 2 trung tâm làm được xét nghiệm RT-PCR. Vậy nếu những doanh nghiệp này vận hành ‘3 tại chỗ’, không có cách nào để xét nghiệm được”, ông Mỹ khẳng định.

Theo Chủ tịch HĐQT Mỹ Lan Group, những doanh nghiệp muốn thực hiện “3 tại chỗ” cần có đủ hạ tầng cơ sở thực hiện. Doanh nghiệp ông được phát triển trên diện tích 30ha, với nhiều nhà xưởng xây dựng khang trang, 2 nhà ăn sang trọng. Một khu 10ha cũng được dành để nuôi trồng, nuôi heo rừng, nuôi gà, nuôi cá, trồng rau củ, trái cây…

Khó khăn lớn nhất khi thực hiện “3 tại chỗ” là phải cân bằng giữa kỷ luật và sáng tạo. Để làm được điều đó, doanh nghiệp phải “thường xuyên có những hoạt động khích lệ sự sáng tạo cho nhân viên, đồng thời phải làm sao để mọi người luôn giữ kỷ luật. Không ở gần hàng rào, không tiếp xúc với người ngoài để không có F0 vô trong công ty mình”, vị tiến sĩ cho biết.

Cách doanh nghiệp đứng vững trong đại dịch

Theo ông Nguyễn Thanh Mỹ, năm 2020, trước những biến động chung của thị trường do Covid-19, doanh nghiệp ông vẫn vận hành tốt, doanh thu tăng. Đầu năm 2021, doanh thu của công ty ổn định, nhưng bắt đầu từ tháng 5 thì vấn đề bắt đầu phát sinh.

Công ty có 3 dòng sản phẩm chủ đạo là máy in phun và mực in công nghiệp; dòng bao bì đa lớp, cản khí cao để gói thực phẩm tươi; và phân bón thông minh. Khoảng 4 tháng nay, doanh nghiệp gặp khó nhất là mảng phân bón. Dù vẫn duy trì sản xuất song doanh nghiệp cũng đối mặt với tình trạng khan hiếm linh kiện sản xuất cho dòng máy in phun, nguyên liệu sản xuất bao bì… trong khi nhu cầu thị trường vẫn cao.

Công nhân Mỹ Lan Group trong phân khu đóng gói sản phẩm. Ảnh: Mỹ Lan Group

Đứng trước những khó khăn, doanh nghiệp của ông Mỹ thường xuyên phải cân chỉnh lại kế hoạch sản xuất. Những mặt hàng, những dòng sản phẩm bán chạy thì đẩy mạnh tập trung. Những mảng sản phẩm cho nông nghiệp, thủy sản có thể chuyển người qua những bộ phận khác để phụ sản xuất.

Ông Mỹ vẫn đánh giá Covid-19 cũng là cơ hội cho nhiều lĩnh vực mới. Đơn cử như sự bùng nổ của thương mại điện tử sẽ gia tăng nhu cầu giao hàng tới nhà. Các đơn vị kinh doanh thực phẩm cần những bao bì cải tiến để tăng thời gian bảo quản từ 3 tới 5 lần. Những bao bì đóng gói cũng cần phải có khả năng bảo quản thực phẩm lâu hơn, phải được in những mã vạch định danh để người ta có thể truy xuất nguồn gốc hay theo dõi được logistics như thế nào. Đây đều là những mảng có tiềm năng phát triển rất mạnh. Trước đây, doanh nghiệp của ông Mỹ chỉ xuất khẩu, ít bán trong nước. Nhiều doanh nghiệp của Việt Nam đã phải mua mặt hàng này từ nước ngoài đem về. “Đây là cơ hội để doanh nghiệp sáng tạo ra những công nghệ, sản phẩm mới để sau khi hết dịch đưa ra thị trường nội địa”, ông nói.

Trong talk show, những kinh nghiệm khởi nghiệp trong lĩnh vực nông nghiệp cũng được vị Việt kiều chia sẻ. Theo ông, nếu người kinh doanh nông nghiệp coi nông dân là khách hàng thì sẽ sớm phá sản. Có nhiều chuyên gia về nông nghiệp không hiểu người nông dân thực tế chỉ là người chủ miếng đất, còn người làm cho nông dân mới thật là nhà nông.

Để giải quyết những vấn đề khó khăn trong ngành, ông Mỹ cho rằng phải xây dựng một hệ sinh thái, bao gồm nhiều thiết bị, công nghệ đi cùng để cung cấp một giải pháp tổng thể, toàn diện. Ví dụ, doanh nghiệp ông sản xuất ra thiết bị theo dõi chất lượng nước hay quan trắc độ mặn nước nuôi tôm là phải tạo ra một hệ sinh thái, thậm chí trao tặng miễn phí cho nông dân. Các doanh nghiệp cũng phải bao tiêu đầu ra và giá thu mua phải cao hơn thị trường, làm một chuỗi giá trị từ đầu tới cuối.

“Mình phải làm việc cùng những người nông dân và đưa sản phẩm của họ tới khách hàng. Nói đúng hơn phải làm với họ, sống với họ, giúp họ thì mới phát triển được. Còn nếu mình chỉ đem công nghệ tới rồi để họ tự sử dụng, để họ tự mua và dùng thì sẽ không đi tới đâu”, ông Mỹ khẳng định.

Trong quá trình xây dựng doanh nghiệp, vị doanh nhân cho rằng cần thiết phải xây dựng cả phần cứng và phần mềm – văn hóa doanh nghiệp. Doanh nghiệp phải tạo dựng được một môi trường văn minh, giúp cho nhân viên thay đổi những thói quen chưa tốt thành tốt để cùng phát triển.

Nguồn: vnexpress.net

2021-11-23 / by / in
Doanh nghiệp bao bì chuẩn bị đón cơ hội tăng trưởng sau đại dịch

Ngành sản xuất bao bì Việt Nam cần đổi mới hơn nữa, đặc biệt là về công nghệ để đáp ứng yêu cầu của thị trường, đủ sức tham gia “chặng đua” chuỗi cung ứng toàn cầu

Dự báo thị trường bao bì sẽ khởi sắc hơn nhờ nhiều nước phát triển đã mở cửa nền kinh tế trở lại sau khi triển khai tiêm vaccine COVID-19 trên diện rộng. Theo đó, ngành công nghiệp bao bì đóng gói sẽ mang đến nhiều cơ hội và lợi ích cho các doanh nghiệp trong nước, cũng như nước ngoài đầu tư trong lĩnh vực này.
Theo Hiệp hội Giấy và Bột giấy Việt Nam, sự phát triển của ngành hàng thực phẩm là yếu tố chính tác động đến ngành bao bì tại Việt Nam. Tốc độ tăng trưởng hằng năm của ngành bao bì đang đạt ở mức cao, từ 15 – 20%/năm.
Khi quá trình đô thị hóa diễn ra nhanh, nhu cầu tiêu dùng của người dân ngày một tăng, nhiều chuỗi siêu thị nổi tiếng trong khu vực như Lotte, Aeon… cũng đã xuất hiện tại Việt Nam.
Ngoài ra, ngành thương mại điện tử mấy năm trở lại đây cũng phát triển như vũ bão. Tất cả những yếu tố trên cộng hưởng lại khiến nhà đầu tư chú trọng vào xưởng sản xuất bao bì ở Việt Nam. Nhiều công ty nước ngoài đã quyết định chọn Việt Nam làm thị trường mở rộng phát triển ngành sản xuất bao bì.
Cùng quan điểm, Công ty cổ phần MP Pack, thành viên của Tập đoàn Tân Thành Đồng – doanh nghiệp có nhiều kinh nghiệm trong ngành sản xuất bao bì tại Việt Nam cho rằng, doanh nghiệp nước ngoài nhận ra tiềm năng và cơ hội trong lĩnh vực bao bì nên đã đầu tư mạnh mẽ vào thị trường Việt Nam.
Cụ thể như Tetra Park, một trong những doanh nghiệp sản xuất bao bì lớn nhất thế giới đã xây dựng nhà máy tại tỉnh Bình Dương với công suất lên tới 20 tỷ hộp giấy/năm.
Với chi phí lao động tương đối thấp, nhu cầu trong nước tăng cao trong khi chỉ có ít công ty nội địa đủ khả năng đầu tư công nghệ tiên tiến để phát triển sản xuất bao bì vì chi phí đầu tư khá cao, các công ty nước ngoài với ưu thế vượt trội có nhiều cơ hội đầu tư dài hạn tại Việt Nam trong lĩnh vực bao bì.
Dưới góc nhìn của Công ty TNHH Chứng khoán Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (VCBS), do tiềm năng tăng trưởng lớn, nhưng mức độ tập trung ngành lại phân tán, chưa có doanh nghiệp có quy mô lớn về thị phần dẫn đến các doanh nghiệp đầu tư nước ngoài liên tục thâu tóm doanh nghiệp trong nước nhờ nguồn lực tài chính mạnh.
Có thể kể các đến các thương vụ thâu tóm doanh nghiệp bao bì nội địa của Tập đoàn SCG (Thái Lan). Đại gia Thái Lan này đã không “tiếc tiền” khi chi hàng nghìn tỷ đồng để sở hữu những công ty bao bì lớn của Việt Nam như: Công ty Giấy Kraft Vina (nhà sản xuất bao bì lớn nhất tại Việt Nam), Công ty Bao bì AP, Công ty Sản xuất Bao bì Alcamax, Công ty Packamex, Công ty Công nghiệp Tân Á, Công ty Sản xuất nhựa Duy Tân, Công ty Bao bì Biên Hòa, Công ty Bao bì nhựa Tín Thành…
VCBS cho biết, các doanh nghiệp Thái Lan và Nhật Bản là hai quốc gia đầu tư nhiều vào thị trường bao bì Việt Nam.
Bên các doanh nghiệp Việt bị thâu tóm, với những điều kiện thuận lợi của ngành, nhiều doanh nghiệp bao bì nội địa khác cũng đang nắm bắt cơ hội tăng trưởng bằng việc mở thêm nhà máy và nâng cao chất lượng sản phẩm.
Điển hình như Công ty cổ phần Đông Hải Bến Tre (mã chứng khoán: DHC) đã mạnh tay đầu tư vào các dự án mới.  Theo đó, công ty có kế hoạch đầu tư 75 tỷ đồng vào máy móc thiết bị và xây dựng cơ bản cho nhà máy giấy Giao Long và đầu tư 2,3 tỷ đồng cho nhà máy bao bì. Nhà máy Giao Long PM2 đã đi vào hoạt động ổn định, giúp tăng sản lượng giấy của công ty.
Công ty cũng dự kiến đầu tư Công ty cổ phần Bao Bì Đông Hải với tổng vốn đầu tư khoảng 250 tỷ đồng. Dự kiến năm 2024 công ty bao bì này sẽ đi vào hoạt động chính thức sau 2,5 năm xây dựng từ quý III/2021.

Doanh nghiệp ngành bao bì, giấy: Mạnh dạn áp dụng sản xuất sạch hơn - Báo Bình Dương Online
Theo số liệu cập nhật mới nhất, trong nửa đầu năm 2021, Công ty cổ phần Đông Hải Bến Tre đạt doanh thu thuần hơn 2.097 tỷ đồng; lợi nhuận sau thuế đạt trên 301 tỷ đồng, lần lượt tăng 59% và 78% so với cùng kỳ năm 2020.
Trước diễn biến tích cực của thị trường bao bì, Công ty cổ phần Thuận Đức (mã chứng khoán: TDP) cũng có kế hoạch mở rộng sản xuất kinh doanh. Mới đây, Hội đồng quản trị doanh nghiệp đã ban hành nghị quyết về việc đầu tư mở rộng nhà máy sản xuất túi siêu thị xuất khẩu.
Theo đó, công ty sẽ có thêm một nhà máy sản xuất vải PP không dệt, 4 nhà máy in ống đồng điện tử loại 9 màu tự động và các thiết bị phụ trợ cần thiết để sản xuất bao bì PP. Tổng vốn đầu tư của dự án này là hơn 150 tỷ đồng. Công ty sẽ mở rộng thêm 3 – 5 nhà máy phục vụ hoạt động xuất khẩu, hướng đến mục tiêu đạt doanh thu 7.000 tỷ đồng vào năm 2025.
Theo Báo cáo tài chính quý II/2021 vừa được công bố, Công ty cổ phần Thuận Đức có doanh thu thuần đạt 717 tỷ đồng, gấp 2,4 lần cùng kỳ năm ngoái; lãi sau thuế đạt 28 tỷ đồng, cũng tăng hơn 2 lần so với quý II/2020.
Phía doanh nghiệp cho biết trong quý II/2021, thị trường kinh doanh nội địa ổn định tăng trưởng doanh thu cao, doanh số bán hàng bao bì nội địa thức ăn chăn nuôi và nông sản tăng trưởng cùng với bán hạt nhựa; thị trường xuất khẩu túi siêu thị shopping bag có sự hồi phục khá tích cực so với cùng kỳ với mức tăng trưởng 50%.
Luỹ kế 6 tháng đầu năm 2021, doanh thu thuần của Công ty cổ phần Thuận Đức đạt 1.184 tỷ đồng; lợi nhuận sau thuế đạt hơn 58 tỷ đồng, lần lượt tăng 97% và 107% so với cùng kỳ năm 2020.
Cũng là một doanh nghiệp của Việt Nam, Công ty cổ phần An Phát Xanh (mã chứng khoán: AAA) đang triển khai kế hoạch mở rộng công suất sản xuất bao bì, đặc biệt là bao bì tự hủy sinh học.
Công ty cho biết sẽ đẩy mạnh thị trường xuất khẩu; trong đó, chú trọng các thị trường lớn như châu Âu, Australia, Nhật Bản, Mỹ. Đồng thời, doanh nghiệp tiếp tục phát triển các sản phẩm nhựa thân thiện môi trường tại thị trường nội địa.
Lũy kế nửa đầu năm 2021, doanh thu của công ty đạt 5.548 tỷ đồng; lợi nhuận sau thuế 182 tỷ đồng, lần lượt tăng 64% và 33% so với cùng kỳ năm 2020.
Doanh nghiệp cho biết, doanh thu bao bì tăng nhờ giá hạt nhựa tăng và có sự đóng góp không nhỏ từ mảng bao bì công nghiệp. Tốc độ tăng trưởng lợi nhuận sau thuế 6 tháng đầu năm nay (không bao gồm mảng bất động sản công nghiệp) đạt khoảng 45% so với cùng kỳ năm ngoái.
Như vậy có thể thấy, cơ hội cho doanh nghiệp ngành bao bì là rất rộng mở. Theo quan điểm của Công ty TNHH Đầu tư Ứng dụng sản xuất Bao bì Việt, sự tăng trưởng của ngành thực phẩm, mỹ phẩm, dược phẩm tiếp tục là cơ hội lớn cho ngành bao bì phát triển.

Tuy nhiên, ngành sản xuất bao bì Việt Nam cần đổi mới hơn nữa, đặc biệt là về công nghệ để đáp ứng yêu cầu của thị trường, đủ sức tham gia “chặng đua” chuỗi cung ứng toàn cầu./.

Nguồn: bnews.vn

2021-11-23 / by / in
TPHCM: F0 tăng trở lại, doanh nghiệp lo mất Tết

“Nếu bị chậm hoặc đứt gãy các đơn hàng cuối năm, doanh nghiệp sẽ mất nguồn thu nhập quan trọng nhất cho năm nay. Khả năng doanh nghiệp và người lao động mất Tết rất rõ”, giám đốc công ty may chia sẻ.

Gần 2 tháng sau khi TPHCM nới lỏng giãn cách, 230.000 lao động đã quay trở lại làm việc (chiếm 80%). Doanh nghiệp đều kỳ vọng vào các đơn hàng cuối năm để cứu cho một năm doanh thu thấp nhất lịch sử. Tuy vậy, kế hoạch hồi phục sản xuất có khả năng bị gián đoạn do F0 tăng trở lại.

Theo báo cáo, từ ngày 1/10 đến nay, tại các KCX, KCN và khu công nghệ cao ở TPHCM có gần 4.000 ca F0. Mỗi ngày có khoảng 100 F0 và liên tục tăng nhanh trong thời gian gần đây. Để hỗ trợ doanh nghiệp và người lao động, khu công nghệ cao đã thành lập trung tâm cách ly, điều trị Covid-19 tại nội khu, đây cũng là mô hình đầu tiên trong cả nước.

Tại công ty TNHH Pouyuen Việt Nam ở Khu công nghiệp Tân Tạo, quận Bình Tân, gần 50.000 công nhân đã được tiêm 2 mũi vaccine Covid-19. Các công nhân được yêu cầu tuân thủ 5K, được xét nghiệm định kỳ nhưng vẫn có nhiều F0, có ngày lên đến 25 ca.

TPHCM: F0 tăng trở lại, doanh nghiệp lo mất Tết - 2

Để đảm bảo an toàn cho người lao động, UBND quận Bình Tân đã yêu cầu công ty tổ chức trung tâm thu dung, cách ly với quy mô 200 – 300 giường. Tuy vậy, doanh nghiệp khó thực hiện do thiếu nhân lực y tế, cơ sở vật chất, mặt bằng…

Tại công ty may M.P ở TP Thủ Đức, dù các phân xưởng đã được giãn cách, công nhân chia theo nhóm, làm việc theo ca và tuân thủ 5K nhưng F0 vẫn xuất hiện. Có những ngày hàng chục F0 trong công ty được phát hiện sau khi test nhanh dẫn đến dây chuyền sản xuất phải tạm ngưng để khử khuẩn.

“Thực sự rất khó khăn, chúng tôi đã cố gắng hết sức, làm hết sức nhưng không thể thực hiện ‘Zero F0’ được. Phải chấp nhận thay đổi chuỗi sản xuất để thích ứng nhưng tình hình phức tạp hơn chúng tôi nghĩ doanh nghiệp, người lao động có khả năng mất Tết”, ông Đào Duy Huy – giám đốc nhân sự công ty M.P cho hay.

Ông Huy phân tích, 4 tháng giãn cách công ty phải ngưng mọi hoạt động sản xuất nhưng công nhân vẫn được hỗ trợ lương căn bản. Những công nhân ở lại TPHCM được chu cấp thêm tiền phòng trọ, nhu yếu phẩm, thuốc men.

“Ngân sách gần như cạn kiệt, chúng tôi mong các đơn hàng dịp cuối năm để thu lợi nhuận nhằm duy trì công ty, hỗ trợ phúc lợi cho công nhân nhưng tình hình này rất khó. Khả năng doanh nghiệp lâm vào khủng hoảng, nợ nần, phá sản đang hiện rõ. Điều này thực sự nằm ngoài dự kiến, chúng tôi chưa bao giờ mong điều này xảy ra, không phải vì chúng tôi mà vì gia đình hơn 1.000 công nhân, người lao động”, ông Huy chia sẻ.

TPHCM: F0 tăng trở lại, doanh nghiệp lo mất Tết - 3

Ông Huy mong rằng, thời gian tới UBND TPHCM, Ban quản lý các KCX, KCN sẽ có thêm những biện pháp hỗ trợ điều trị F0. Cùng với đó, ông cũng mong các doanh nghiệp được tiếp cận thêm nhiều nguồn vay giá rẻ để thuận lợi hồi phục sản xuất, đổi mới dây chuyền công nghệ.

Theo khảo sát, nhiều doanh nghiệp trong lĩnh vực may mặc, giày da, đồ gỗ… đều có tình trạng F0 tăng trở lại. Các doanh nghiệp đều đang gồng mình để thích ứng sản xuất trong điều kiện bình thường mới nhưng hiệu quả vẫn được bỏ ngỏ.

“Nhiều lao động khi chúng tôi chia sẻ họ cho biết sẵn sàng giảm lương, thưởng, thậm chí không cần thưởng Tết để cùng nhau vượt khó. Về phía doanh nghiệp, được người lao động hỗ trợ chúng tôi rất vui nhưng cũng rất nặng lòng. Họ gắn bó với mình bao nhiêu năm làm sao để họ phải chịu thiệt thòi. Hy vọng TP sẽ sớm khống chế được dịch để doanh nghiệp an tâm sản xuất nhằm đảm bảo hoạt động công ty và chế độ cho người lao động”, đại diện doanh nghiệp may ở quận Thủ Đức thông tin thêm.

Nguồn: dantri.com.vn

2021-11-22 / by / in , ,
Anh đưa ra tiêu chuẩn cho nhựa có thể phân hủy sinh học

Theo đó, các công ty sẽ cần chứng minh sản phẩm của họ phân hủy thành sáp vô hại không chứa vi nhựa hoặc nhựa nano.

Hiện nay, hầu hết các sản phẩm nhựa trong rác tồn tại trong môi trường hàng trăm năm. Nhưng một loại nhựa phân hủy sinh học được phát triển gần đây có thể thay đổi điều đó.

Theo The Guardian, một tiêu chuẩn mới của Anh về nhựa phân hủy sinh học đang được đưa ra. Mục đích để tiêu chuẩn hóa, và tránh gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng.

Theo tiêu chuẩn mới, nhựa được cho là có thể phân hủy sinh học sẽ phải vượt qua một bài kiểm tra, để chứng minh rằng nó phân hủy thành một loại sáp vô hại, không chứa vi nhựa hoặc nhựa nano.

Tiêu chuẩn bao bì nhựa ở Anh

Polymateria, một công ty của Anh, đã làm điểm chuẩn cho tiêu chuẩn mới bằng cách tạo ra một công thức có thể biến các vật dụng bằng nhựa như chai, cốc và màng phim thành bùn tại một thời điểm cụ thể trong vòng đời của sản phẩm.

Nialle Dunne, giám đốc điều hành của Polymeteria cho biết: “Chúng tôi muốn vượt qua khu rừng phân loại sinh thái này và có một cái nhìn lạc quan hơn về việc truyền cảm hứng và thúc đẩy người tiêu dùng làm điều đúng đắn. “Bây giờ chúng tôi có cơ sở để chứng minh bất kỳ tuyên bố nào đang được đưa ra và tạo ra một lĩnh vực đáng tin cậy mới xung quanh vấn đề phân hủy sinh học.”

Khi sự phân hủy của sản phẩm bắt đầu, hầu hết các đồ vật sẽ bị phân hủy thành carbon dioxide, nước và bùn trong vòng hai năm, do ánh sáng mặt trời, không khí và nước gây ra.

Dunne cho biết trong các thử nghiệm sử dụng công thức biến đổi sinh học: màng polyetylen bị phân hủy hoàn toàn trong 226 ngày và cốc nhựa trong 336 ngày.

Ngoài ra, các sản phẩm có thể phân hủy sinh học được tạo ra có ghi ngày tái chế. Để cho người tiêu dùng thấy rằng họ có khung thời gian để xử lý chúng một cách có trách nhiệm trong hệ thống tái chế trước khi chúng bắt đầu phân hủy.

Nguồn: nasaco.vn

2021-11-22 / by / in
NGÀNH NHỰA GIẢM NHẬP KHẨU NGUYÊN LIỆU, TĂNG SỨC CẠNH TRANH, TẬN DỤNG ƯU ĐÃI THUẾ QUAN

Xuất khẩu sản phẩm nhựa của Việt Nam hàng năm cũng thu về đến tiền tỷ USD, nhưng ngược lại cũng phải nhập khẩu nguyên liệu tới hàng trăm triệu USD. Cùng với quá trình hội nhập và sự bùng nổ của Cách mạng công nghiệp 4.0, sẽ tạo ra cơ hội lớn cho ngành công nghiệp nhựa Việt Nam đạt mức tăng trưởng cao trong thời gian tới.

Theo Hiệp hội Nhựa Việt Nam (VPA), việc Việt Nam ký kết các Hiệp định thương mại tự do (FTA) đã mang đến nhiều cơ hội cho doanh nghiệp xuất khẩu sản phẩm từ nhựa. Các đối tác đang chuyển dần đơn hàng từ Trung Quốc sang Việt Nam để tận dụng chi phí sản xuất rẻ và thuế xuất khẩu được hưởng nhiều ưu đãi. Đồng thời, nhu cầu nhập khẩu sản phẩm nhựa tại thị trường EU, Nhật Bản vẫn ở mức cao, trong khi đó, khách hàng tại các quốc gia này ngày càng ưa thích sản phẩm nhựa Việt Nam.

Mỗi năm ngành nhựa Việt Nam cần trung bình 2 – 2,5 triệu tấn nguyên vật liệu, nhưng lại đang phải nhập khẩu tới 75 – 80%. Việc phụ thuộc nguyên liệu nhựa nhập khẩu đã và đang làm tăng chi phí đầu vào theo giá nguyên liệu nhập (giá nguyên liệu chiếm từ 60% đến 70% giá thành sản xuất) và tăng rủi ro tỷ giá, giảm sự chủ động, sức cạnh tranh và khó tận dụng được ưu đãi thuế quan bởi những quy định về xuất xứ hàng hóa.

NGÀNH NHỰA GIẢM NHẬP KHẨU NGUYÊN LIỆU, TĂNG SỨC CẠNH TRANH, TẬN DỤNG ƯU ĐÃI THUẾ QUAN

Theo số liệu thống kê từ TCHQ, nhập khẩu nguyên liệu nhựa trong 3 năm gần đây liên tục tăng kể cả về số lượng và kim ngạch, năm sau luôn cao hơn năm trước.

Sang năm 2019 và kết thúc quý 1/2019, nhập khẩu nhóm hàng này đạt 1,47 triệu tấn, trị giá 2,1 tỷ USD, tăng 10,5% về lượng và tăng 1,0% trị giá so với cùng kỳ năm trước. Tính riêng tháng 3/2019, Việt Nam đã nhập 540,9 nghìn tấn, trị giá 783,38 triệu USD, tăng 38,1% về lượng và 39,5% trị giá so với tháng 2/2019.

Trong quý 1/2019, Việt Nam nhập khẩu chủ yếu từ thị trường Hàn Quốc đạt 254,75 nghìn tấn, trị giá 406,89 triệu USD, tăng 12,19% về lượng và 5,46% trị giá so với cùng kỳ, riêng tháng 3/2019 cũng nhập từ thị trường này 89,1 nghìn tấn, trị giá 140,45 triệu USD, tăng 17,52% về lượng và 19,23% trị giá so với tháng 2/2019.

Đứng thứ hai là thị trường Saudi Arabia đạt 246,1 nghìn tấn, tị giá 270,72 triệu USD, tuy nhiên tốc độ nhập từ thị trường này sụt giảm 11,38% về lượng và 21,74% trị giá so với cùng kỳ.

Đặc biệt, trong quý đầu năm nay Việt Nam tăng mạnh nhập khẩu chất dẻo nguyên liệu từ thị trường Mỹ, tăng gấp 4,9 lần về lượng (tương ứng 389,68%) và gấp 2,9 lần trị giá (tương ứng 194,9%), đạt lần lượt 143,16 nghìn tấn, trị giá 185,45 triệu USD. Giá nhập bình quân từ thị trường này giảm 39,78%, chỉ với 1295,45 USD/tấn.

Tin tức | HDPlas

Nhưng ngược lại, Việt Nam giảm mạnh nhập từ thị trường Nga, giảm 99,69% về lượng và 97,25% trị giá, tương ứng với 9 tấn, trị giá 97,5 nghìn USD. Giá nhập bình quân 10841,33 USD/tấn, tăng gấp 8,9 lần (tương ứng 785,67) so với cùng kỳ – đây cũng là thị trường có giá tăng mạnh nhất. Ngoài ra, cũng giảm mạnh nhập khẩu từ thị trường Nam Phi và Brazil với lượng giảm lần lượt 78,68% và 74,53%.

Vậy, để giảm nhập khẩu nguyên liệu nhựa trong thời gian tới, doanh nghiệp ngành nhựa cần chủ động tái cơ cấu đầu tư hoặc tăng cường năng lực nghiên cứu, tập trung đầu tư máy móc, theo chuẩn công nghệ mới và phát triển ngành hóa dầu trong nước… nhằm giảm bớt phụ thuộc nguyên liệu nước ngoài, đa dạng hóa mẫu mã, nâng cao khả năng cạnh tranh về chất lượng và giảm giá thành sản phẩm.

Nguồn: megavietnam.vn

 

2021-11-22 / by / in
Kiểm soát chặt sản phẩm mang “mác” thân thiện môi trường

Phần lớn NTD vẫn còn lo ngại về chất lượng sản phẩm thay thế nhựa chưa được kiểm soát chặt chẽ và giá thành cao.

Hưởng ứng phong trào chống rác thải nhựa bảo vệ môi trường do Thủ tướng Chính phủ phát động, xu hướng sử dụng các loại bao bì, sản phẩm thay thế nhựa được làm từ các nguyên liệu thiên nhiên, tự phân hủy đang ngày càng trở nên phổ biến. Tuy nhiên, phần lớn người tiêu dùng (NTD) vẫn còn đắn đo khi mua sử dụng do sản phẩm thay thế có giá khá cao và chưa rõ về chất lượng, tính an toàn của sản phẩm…

Thực hiện xu hướng “tiêu dùng xanh”, bảo vệ môi trường, từ đầu tháng 4-2019, hàng loạt siêu thị đã triển khai thực hiện chiến dịch sử dụng lá chuối tươi gói rau củ thay thế bịch nilon và chiến dịch này ngay sau đó cũng đã lan tỏa đến các chợ truyền thống, cửa hàng kinh doanh rau củ quả.

Tiếp đến, nhiều điểm kinh doanh cũng rầm rộ công bố ngừng hẳn việc bán ống hút nhựa các loại, thay thế bằng các loại ống hút thân thiện với môi trường như: ống hút giấy, ống hút gạo (sử dụng một lần), ống hút bằng inox, thép không gỉ, thủy tinh (sử dụng nhiều lần); cốc bằng giấy thay thế cho cốc nhựa; găng tay dùng trong sản xuất, vận hành là loại tự hủy sinh học; các loại chén, dĩa, muỗng, hộp cơm, khay xốp đựng thực phẩm đang sử dụng được thay bằng các loại sử dụng nguyên liệu giấy, bã mía, mo cau, xơ tre…

Tại cửa hàng chuyên doanh sản phẩm thiên nhiên trên đường Nguyễn Thị Minh Khai (quận 1, TP Hồ Chí Minh), có nhiều sản phẩm gia dụng với những nguyên vật liệu thay thế nhựa được trưng bày đẹp mắt. Nhân viên bán hàng đưa chúng tôi xem loại hộp đựng thức ăn và giới thiệu: “Hộp này được làm từ bã mía, không chứa chất hóa học, kim loại nặng, không gây ung thư nên dùng rất an toàn. Loại hộp này đựng thoải mái thức ăn đặc, thức ăn nước, nóng, lạnh mà không sợ bị nóng chảy, biến dạng. Đặc biệt là dùng được trong cả trong lò vi sóng. Sau 6 tuần sử dụng, sản phẩm sẽ tự phân hủy trong môi trường tự nhiên, không gây ô nhiễm rất tiện lợi…”.

Người bán còn giới thiệu nhiều loại chén, dĩa, tô, muỗng, nĩa… được làm từ mo cau, xơ tre, bột sắn. Theo người bán, mo cau tự nhiên, không hóa chất, được rửa sạch và ép nhiệt tiệt trùng, có thể đựng thức ăn nóng mà không bị biến dạng. Để dùng bền chỉ nên rửa sạch bằng chất tẩy rửa hữu cơ hoặc chất tẩy rửa tự nhiên như nước bồ hòn. Còn sản phẩm làm từ bột xơ tre tự nhiên, bột sắn thì có màu sắc tự nhiên, không dùng chất tẩy trắng, có thể đựng thực phẩm từ -18 độ C đến 90 độ C và dùng được trong lò vi sóng khoảng 3 – 4 phút.

Khi chúng tôi tỏ ra lo ngại về chất lượng và độ an toàn của của các loại sản phẩm trên vì không có giấy tờ, thông tin, nhãn mác sản phẩm, người bán khẳng định: “Các loại bã mía, xơ tre thì hoàn toàn thiên nhiên và quá trình sản xuất cũng đã được kiểm soát chất lượng chặt chẽ nên khách cứ yên tâm dùng!”.

Đặc biệt, với sản phẩm được sử dụng hàng ngày tại các gia đình có trẻ em, các điểm kinh doanh cà phê, thức uống, nhà hàng, khách sạn, không thể thiếu đó là ống hút. Đón đầu xu hướng này, nhiều điểm kinh doanh đã chào bán nhiều loại sản phẩm ống hút thân thiện với môi trường thay thế ống hút nhựa như: Ống hút làm bằng tre, trúc, cỏ bàng, cỏ sậy… được quảng bá là “nguyên liệu thiên nhiên mọc rất phổ biến tại Việt Nam”.

Hầu hết các loại sản phẩm này đều làm thủ công, tái sử dụng được nhiều lần. Vì vậy, khi mua các loại ống hút này, thường được tặng kèm cọ rửa làm bằng xơ dừa để cọ rửa ống hút sau mỗi lần sử dụng.

Ngoài ống hút làm từ các nguyên liệu thiên nhiên trên, trên thị trường hiện đang phổ biến loại ống hút được làm bằng gạo với nhiều màu: Trắng, tím, xanh lá, đen. Theo giải thích của người bán thì các loại màu này không phải là màu hóa chất mà đó là những màu tự nhiên của các loại rau củ. Như màu tím chiết xuất từ củ dền, màu xanh lá chiết xuất từ lá củ dền, màu đen chiết xuất từ mè đen và màu trắng là bột gạo nguyên chất.

Do nguyên liệu ống hút được làm từ bột gạo nên sau khi sử dụng có thể ăn luôn. Tuy nhiên, cũng giống như ống hút được giới thiệu làm từ bột gạo và màu tự nhiên, các loại ống hút sử dụng nguyên liệu thiên nhiên bán phổ biến trên thị trường nhưng không có thông tin để chứng minh chất lượng và tính an toàn của sản phẩm khiến NTD lo ngại khi mua các loại ống hút này.

Nếu như trên thị trường, các loại sản phẩm thay thế nhựa gần như bị thả nổi, chưa kiểm soát chặt chẽ chất lượng, nguồn gốc sản phẩm thì tại một số hệ thống siêu thị, các loại sản phẩm thân thiện với môi trường có đầy đủ các thông tin về thành phần, cách sử dụng, bảo quản, hạn sử dụng, xuất xứ… Tuy nhiên, các sản phẩm này có giá cao gấp nhiều lần so với sản phẩm nhựa cùng loại, nên khiến NTD đắn đo khi mua sản phẩm.

Điển hình, ống hút làm từ bột gạo, mỗi bịch nửa kg (100 ống hút) có giá 60.000 đồng/bịch; ống hút bằng giấy 21.000 đồng/bịch (15 ống hút), cao hơn 10 lần so với ống hút nhựa; hộp đựng cơm bằng bã mía giá từ 125.000 – 250.000 đồng/lốc (50 cái) tùy kích cỡ; khay đựng thức ăn bằng bã mía giá 173.000 – 320.000 đồng/lốc (50 cái) cao 3-5 lần so với sản phẩm nhựa cùng loại. Các loại cốc, đĩa, chén, tô… làm bằng giấy, bã mía cũng có giá cao hơn nhiều lần so với sản phẩm nhựa.

Chị Nguyễn Thị Châu (ngụ quận 7) chia sẻ: “Tôi bán quán cơm mỗi ngày cũng cả trăm suất, khách mang đi chủ yếu đựng trong bọc nilon, hộp xốp, hộp nhựa, chi phí không đáng là bao, chỉ khoảng 1.000-2.000 đồng. Trong khi đó, nếu chuyển sang dùng hộp, khay làm bằng bã mía thì chi phí cao lên gấp nhiều lần, nếu cộng chi phí này vào thêm trong phần ăn thì sợ rằng khách hàng khó chấp nhận. Chính vì vậy, phải tính toán thật kỹ trước khi chuyển đổi”.

BS Trần Văn Ký – Hội Khoa Học Kỹ thuật An toàn thực phẩm Việt Nam nhận định, những dụng cụ chứa đựng thực phẩm làm từ nguyên liệu thiên nhiên thay thế sản phẩm nhựa được khuyến khích sử dụng là tốt nhưng phải có sự nghiên cứu, kiểm tra, đánh giá của cơ quan chức năng để xác định sản phẩm là an toàn để NTD yên tâm sử dụng. NTD cần cẩn trọng khi dùng đồ đựng thực phẩm sử dụng nguyên liệu hữu cơ, trước khi mua  phải tìm hiểu kỹ thông tin về an toàn chất lượng sản phẩm. Sản phẩm phải có thông tin nhãn mác, nguồn gốc xuất xứ rõ ràng.

Cũng theo BS Ký, xu hướng thế giới chủ yếu dùng đồ đựng bằng inox, sành sứ tráng men vì bền, không độc hại, chưa sử dụng nhiều đồ đựng là từ nguyên liệu thiên nhiên vì nhanh hỏng, giá thành cao. Cần lưu ý, khi các đồ đựng thực phẩm làm từ mo cau, bã mía, xơ tre… có dấu hiệu bị đổi màu, có mùi khác lạ thì NTD cần bỏ ngay, không sử dụng.

Chống rác thải nhựa là việc cần phải làm ngay và cấp thiết để bảo vệ môi trường. Thời gian qua cũng cho thấy, xu hướng NTD chuyển sang sử dụng sản phẩm thân thiện với môi trường thay thế cho sản phẩm nhựa đang phát triển theo chiều hướng tốt. Tuy nhiên, phần lớn NTD vẫn còn lo ngại về chất lượng sản phẩm thay thế nhựa chưa được kiểm soát chặt chẽ và giá thành cao.

Chính vì vậy, để phong trào thật sự đi vào đời sống, được sự hưởng ứng của toàn xã hội, thì phong trào cần phải được thực hiện xuyên suốt, lâu dài và đặc biệt là làm sao NTD được thuyết phục, chuyển sang sử dụng hoàn toàn sản phẩm thân thiện với môi trường.

Nguồn: vietnamnet.vn

2021-11-22 / by / in
Sản phẩm nhựa sinh học đạt chuẩn?

Nhằm tăng cường các biện pháp bảo vệ môi trường khỏi vấn nạn rác thải nhựa trên toàn cầu hiện nay. Các sản phẩm nhựa sinh học đang dần được sử dụng thay thế các sản phẩm nhựa tái chế có nguy cơ gây hại cho sức khỏe con người cũng như môi trường sinh thái.

Dù được nhắc đến rất nhiều và ngay cả tại thị trường Việt Nam, các sản phẩm sản xuất từ nhựa sinh học tự hủy cũng đã bắt đầu được đưa vào sử dụng. Thế nhưng không phải ai cũng hiểu chính xác về nhựa sinh học. Cũng như hiểu về các tiêu chuẩn dành cho các sản pahamr nhựa phân hủy sinh học. Nếu bạn cũng đang mơ hồ về điều này, thì hãy cũng YP.VN đi vào tìm hiểu ngay dưới đây.

1.Thế nào là sản phẩm nhựa tự hủy sinh học?

Đầu tiên bạn cần biết, sự phân hủy sinh học chính là quá trình chuyển hoá các phân tử thành các chất vô cơ như: CO2, H2O và sinh khối dưới tác động của vi sinh vật.
  • Các sản phẩm được làm từ nguyên liệu có nguồn gốc từ tự nhiên như: Bột ngô, khoai, sắn… là các sản phẩm nhựa có thể phân hủy sinh học hoặc không.
  • Sản phẩm nhựa sinh học phân hủy sinh học là sản phẩm được làm  từ nguyên liệu gốc tự nhiên như: PLA, PHA… Hoặc các gốc dầu mỏ như: PBS, PCL, PBAT… Chúng có khả năng phân huỷ sinh học thành các chất: CO2, H2O và sinh khối chỉ trong thời gian ngắn.
Về quá trình phân hủy sinh học (Bio-degradable process):
Thì quá trình phân hủy sinh học chính là quá trình nhựa bị phân hủy nhờ vào các enzim của vi sinh vật tiết ra. Chúng giúp sản phẩm này phân huỷ phân tử polyplastic thành CO2 và H2O.
Nhựa sinh học tự hủy sẽ phân hủy trong điều kiện môi trường thích hợp
  • Quá trình này diễn ra trong một thời gian rất lâu. Nên để tăng thời gian phân hủy và hiệu quả phản ứng của enzim. Người ta thường bổ sung vào một số chất phụ gia có hoạt tính sinh học nhằm tạo ra các sản phẩm tự nhiên như: H2O + CO2 và các sinh khối trong một khoảng thời gian hợp lý.
  • Thời gian cần thiết để sản phẩm sinh học phân hủy sinh học hoàn toàn phụ thuộc vào chất liệu cũng như các yếu tố tác động, điều kiện môi trường bao gồm: Nhiệt độ, độ ẩm và vị trí phân hủy.

2.Phân loại nhựa sinh học tự hủy.

Nói như vậy nghĩa là chúng ta có thể hiểu nhựa sinh học phân hủy sinh học sẽ được tạo ra từ 3 khả năng:
  • Khả năng 1: Thực vật như bột ngũ cốc + phụ gia.
  • Khả năng 2: Nhựa truyền thống như PE/PP + thực vật + phụ gia.
  • Khả năng 3: Nhựa truyền thống PE/PP + phụ gia. Phụ gia có thể rất đa dạng như Alta, Chitosan hay D2W, để định hình kết cấu hoặc để phân hủy/ phân rã nhanh hơn.

Phân loại sản phẩm nhựa sinh học tự hủy theo nguồn gốc

Nhựa phân hủy sinh học Bio-degradable plastic hiện nay có thể chia là 2 loại:
  • Oxo-biodegradable plastic: Là loại nhựa sinh học vẫn làm từ nguyên liệu gốc dầu mỏ truyền thống. Nó được trộn thêm phụ gia đặc biệt như: Alta, Chitosan, hay D2W nhằm bắt nó phải phân rã khi thải ra môi trường. Phụ gia thường sử dụng để làm kết cấu của nhựa yếu đi, khiến chúng dễ dàng phân hủy nhanh hơn.
  • Hydro-biodegradable plastic: Loại nhựa có nguồn gốc sinh học hay nhựa hữu cơ làm từ bột ngô, bột gạo, thực vật… Chúng cũng có khả năng phân hủy sinh học trong thời gian rất ngắn.
Nhiều người đang nhầm lẫn rằng: Các sản phẩm nhựa sinh học nhưa túi phân hủy sinh học, ly, chai, hộp nhựa sinh học… cứ vứt ra ngoài đất là chúng sẽ tự hủy. Thực chất thì việc này còn cần phải có môi trường thích hợp. Các sản phẩm phân hủy sinh học thường được phân loại riêng để đem đi ủ trong các điều kiện khác nhau như: Ủ trong môi trường công nghiệp (industrial composting), ủ tại nhà (home composting), ủ trong môi trường đất thường. Bên cạnh đó thì tốc độ phân hủy sinh học cũng sẽ khác nhau dựa theo tỉ lệ pha trộn các chất phụ gia trong sản xuất. Cũng như giữa các yếu tố môi trường nơi phân hủy: Nước biển, nước sông hồ, hay đất.

3.Bộ tiêu chuẩn toàn cầu cho sản phẩm nhựa phân hủy sinh học.

  • Đứng trước mối đe dọa về rác thải nhựa toàn cầu. Nhằm tăng cường các biện pháp bảo vệ môi trường và các giải pháp nhằm giảm thiểu rác thải nhựa sinh học. Hiệp hội vật liệu và thử nghiệm Mỹ đã đưa ra đề xuất về một bộ tiêu chuẩn dành riêng cho các sản phẩm này.
  • Theo đó một tiểu ban của ASTM Quốc tế có tên: “Tiểu ban D20.96” đã đươc thành lập để ngăn chặn và hỗ trợ xử lý nhựa an toàn. Việc này được đưa ra dựa trên các sản phẩm nhựa và các sản phẩm nhựa sinh học, nhựa tự phân hủy sinh học, một phần của ủy ban về nhựa (D20).
Hiện nay, Tiểu ban D20.96 hiện đang giám sát 18 tiêu chuẩn hoạt động đối với các sản phẩm nhựa, túi nylon các loại và các sản phẩm tự phân hủy sinh học. Các tiêu chuẩn cho sản phẩm nhựa sinh học có liên quan đến các sản phẩm có nguồn gốc từ carbon hữu cơ, nguồn gốc tái tạo như: Thực vật, động vật… hoặc các vật liệu biển. Chúng được sử dụng thay vì nguồn gốc các vật liệu không thể tái chế như từ nhiên liệu dầu. Quá trình phân hủy của rác thải từ nhựa sinh học tự hủy sinh học so với nhựa thông thường được rút ngắn từ hàng trăm năm xuống chỉ còn một vài năm. Điều đặc biệt nữa là các loại vật liệu này chỉ phân hủy khi tiếp xúc với đất hoặc được chôn lấp trong đất. Khi phân hủy, chúng sẽ sinh ra các thành phần “sạch” như: Nước, khí cacbonic (CO2) và các sinh khối. Bên cạnh đó do các sản phẩm nhựa sinh học không chứa kim loại nặng, không chứa độc tố. Nên khi phân hủy hay đưa ra môi trường sinh thái, các vật liệu này hoàn toàn thân thiện với hệ sinh thái và con người.

Hiện có 3 tiêu chuẩn về nhựa phân hủy sinh học đang được ứng dụng trong ngành công nghiệp phân bón bao gồm:

  • Tiêu chuẩn ASTM D6400: Yêu cầu ghi nhãn cho chất dẻo có khả năng tạo compost hiếu khí tại các cơ sở xử lý chất thải đô thị hoặc công nghiệp.
  • Tiêu chuẩn ASTM D5338: Phương pháp xác định sự phân hủy sinh học hiếu khí của vật liệu chất dẻo dưới điều kiện tạo compost có kiểm soát, kết hợp các nhiệt độ.
  • Tiêu chuẩn ASTM D6691: Phương pháp xác định sự phân hủy sinh học hiếu khí của vật liệu chất dẻo trong môi trường biển bằng vi sinh vật đã được xác định hoặc bằng nước biển tự nhiên.

Trong số 3 tiêu chuẩn này thì tiêu chuẩn ASTM D6400 được xem là tiêu chuẩn đang được sử dụng phổ biến, rộng rãi nhất và được chứng nhận toàn cầu.

Nguồn: nhuabinhthuan.com.vn

2021-11-20 / by / in