Thêm kết quả...

Gian hàng đổi rác lấy rau củ ở Hà Nội

Vào những ngày cao điểm, chương trình thu về tới 250 kg giấy bìa, chai lọ nhựa và cả đồ gia dụng cũ.

doi phe lieu lay rau cu mien phi anh 1

Đều đặn mỗi sáng suốt một tháng qua, các gian hàng thuộc chương trình “Đổi phế liệu lấy thực phẩm sạch” mở cửa lúc 5h30 tại 2 địa điểm chính ở phố Văn Miếu và phố Quốc Tử Giám (Hà Nội). Người dân có thể mang bìa giấy, chai nhựa, đồ gia dụng cũ để đổi lấy rau củ.
doi phe lieu lay rau cu mien phi anh 2

Vào buổi sáng, Ngọc Anh (nhân viên bán hàng) nhận sản phẩm từ nhà cung cấp, phân loại và bày biện rau củ vào từng rổ.
doi phe lieu lay rau cu mien phi anh 3

Cô cho biết mọi sản phẩm đều là nông sản hữu cơ, có nguồn gốc rõ ràng, đảm bảo tươi sạch và đạt tiêu chuẩn của VietGap. Bên cạnh rau củ, gian hàng còn cung cấp một số loại hải sản và thực phẩm khô.
doi phe lieu lay rau cu mien phi anh 4
Đây là lần thứ 4 anh Nguyễn Văn Quỳnh (Hoàn Kiếm) đem bìa carton tới đổi thực phẩm. “Trước đó, trên đường đi làm qua phố Văn Miếu, tôi thấy một số người mang phế liệu đến rồi xách rau về. Do tò mò, tôi vào hỏi và mới biết đến chương trình”, anh nói.
doi phe lieu lay rau cu mien phi anh 5

Sau khi nhận phế liệu từ khách hàng, nhân viên sẽ cân và quy đổi thành tiền tương ứng. Mỗi 1 kg phế liệu tương đương 3.000-4.000 đồng. Số tiền này được dùng để mua các sản phẩm có tại gian hàng.
doi phe lieu lay rau cu mien phi anh 6

Tranh thủ trống tiết, Trang Nhung (21 tuổi) mang một số bìa carton, giấy tờ cũ đến cơ sở Quốc Tử Giám. “Thành quả” đem về của cô là 2 lạng đỗ xanh và 2 quả cà chua. “Tôi thấy hoạt động này vừa giúp ích cho túi tiền của sinh viên, vừa góp phần bảo vệ môi trường. Hy vọng mô hình này sớm được nhân rộng”, cô nói.
doi phe lieu lay rau cu mien phi anh 7

Ngoài quy đổi phế liệu, khách hàng có thể mua sản phẩm tại cửa hàng bằng tiền mặt.
doi phe lieu lay rau cu mien phi anh 8
Văn Duy, quản lý cơ sở Quốc Tử Giám, cho biết lượng người biết đến chương trình có xu hướng tăng. “Ban đầu, chỉ những người dân sống trong khu vực biết về gian hàng. Dần dần, chúng tôi được đón tiếp nhiều khách sinh sống tại các quận khác nữa”, anh nói.
doi phe lieu lay rau cu mien phi anh 9

Vào những ngày cao điểm, gian hàng thu nhận tới 250 kg phế liệu. Thông qua hoạt động tái chế thiết thực, chương trình mong muốn nâng cao ý thức bảo vệ môi trường của người dân.

 

Nguồn: Tuấn Anh, Hồng Chang – zingnews.vn

2021-10-28 / by / in
Cách ngân hàng thương mại thu hút và giữ chân khách hàng

Nếu trước kia, khách gửi tiết kiệm quan tâm nhất là lãi suất thì giờ đây, các ngân hàng thương mại còn có nhiều cách khác để thu hút nguồn tiền từ người dân.

Trong thời đại omni-channel, những dịch vụ thẻ thanh toán, vay tín dụng, gửi tiết kiệm… được chào bán từ chi nhánh, phòng giao dịch tới hòm thư điện tử, website tin tức và Facebook Newsfeed của từng cá nhân. Nguồn cung đa dạng, lợi ích hấp dẫn khiến các khách hàng ngày càng trở nên thiếu trung thành với ngân hàng. Hoạt động truyền thông và quảng bá thương hiệu cho các ngân hàng thương mại cũng đang vấp phải sự cạnh tranh gay gắt từ nội bộ ngành, từ ngân hàng nước ngoài và từ các ứng dụng tài chính trên mobile.

Trên Social Media, chỉ riêng Quý 2 năm 2017 đã có gần 890,000 lượt thảo luận về ngân hàng thương mại. Trong nội dung thảo luận của khách hàng, những thương hiệu ngân hàng thường được “đặt lên bàn cân” để so sánhvề chất lượng sản phẩm, dịch vụ.

Hơn 5,000 người dùng tỏ thái độ không hài lòng với trải nghiệm tại ngân hàng. Hơn 250 khách hàng lâu năm sẵn sàng tuyên bố từ bỏ ngân hàng mình đang sử dụng sang thương hiệu mới hoặc thay thế app ngân hàng bằng ví điện tử, để nhận được nhiều ưu đãi và dịch vụ tốt hơn. Các khách hàng ngành tài chính – ngân hàng đang tỏ ra thiếu kiên nhẫn và thiếu trung thành với những ngân hàng “chậm thay đổi”.

Các nghiên cứu cho thấy rằng dù ở bất cứ ngành nghề nào, chỉ cần số lượng khách hàng trung thành tăng lên 5% cũng làm tăng lợi nhuận từ 25% đến 95% ( theo Havard Business Review). Như vậy làm sao để khách hàng hiện tại yêu thích và gắn bó chính là chìa khóa giúp nâng cao sức cạnh tranh của ngân hàng. Để làm được điều đó, các thương hiệu ngân hàng thương mại tại Việt Nam cần nhiều nỗ lực để tối ưu hóa trải nghiệm của khách hàng trên cả hai lĩnh vực: trải nghiệm offline tại chi nhánh, phòng giao dịch và trải nghiệm online tại website, fanpage, mobile app.

*Thông tin trong bài viết được trích từ Báo cáo nghiên cứu phản hồi của người dùng về các thương hiệu ngân hàng thương mại trên Social media Q2 năm 2017 và trình bày trong hội thảo “Discover Unseen Insights & Best Case Studies in Banking & Finance” do YouNet Media và VISA đồng tổ chức. 

Nắm bắt những yếu tố khiến khách hàng yêu thích, gắn bó với ngân hàng

Tuy hiện nay một người tiêu dùng đều sở hữu tài khoản tại nhiều ngân hàng khác nhau nhưng đa số chỉ lựa chọn từ một đến hai ngân hàng cho các giao dịch thường xuyên nhất như thanh toán nội địa, quẹt thẻ online, gửi tiền tiết kiệm. Chính vì thế, việc nắm bắt những yếu tố cân nhắc lựa chọn ngân hàng là hết sức quan trọng, giúp cho thông điệp truyền thông của ngân hàng hấp dẫn hơn.

Số liệu năm 2017 cho thấy ít hoặc miễn phí giao dịch là lợi thế hàng đầu khi khách hàng muốn mở thẻ hoặc chọn sử dụng dịch vụ của một ngân hàng mới (815 thảo luận). Điều đó có thể lý giải được trong thời đại thương mại điện tử và online banking phát triển làm cho khách hàng giao dịch thường xuyên hơn, khiến cho chênh lệch mức phí của các ngân hàng trở nên rõ ràng.

Bên cạnh mức phí, thương hiệu ngân hàng uy tín và thông dụng (181 thảo luận) vẫn là điều kiện quan trọng khi khách hàng muốn làm việc với một ngân hàng. Duy trì một hình ảnh thương hiệu “sạch” và tăng cường hoạt động truyền thông giúp ngân hàng trở nên “phổ biến” trong mắt người dùng, gia tăng khả năng cạnh tranh của ngân hàng.

Ngoài ra, một trong những điều quan trọng đối với người sử dụng dịch vụ ngân hàng là hệ thống ATM hiện đại (19 thảo luận). Nhiều người dùng bày tỏ ý kiến tích cực với những ngân hàng có nhiều cây ATM tại địa phương, hoạt động ổn định, ít lỗi và đặc biệt là “nhả tiền” thông minh nhiều mệnh giá, rút tiền tại ATM không cần thẻ.

Tuy các chương trình khuyến mãi và ưu đãi chiếm 80% nội dung quảng bá trên website, fanpage của ngân hàng nhưng rất ít khách hàng có nhu cầu lựa chọn, gắn bó chỉ vì ngân hàng có nhiều khuyến mãi.

Khắc phục những “hố đen” cảm xúc của khách hàng ngành ngân hàng

Phần lớn nguyên nhân khách hàng quyết định rời bỏ ngân hàng là do những trải nghiệm xấu với dịch vụ chăm sóc khách hàng, đặc biệt là từ các nhân viên tại quầy giao dịch (191 thảo luận). Trong thời đại cạnh tranh gay gắt, nhiều ngân hàng lớn, đặc biệt là ngân hàng nhà nước đã “mất điểm” nghiêm trọng vì thái độ nhân viên lạnh lùng, cau có, thậm chí phân biệt đối xử với khách hàng. Một số người dùng sẵn sàng chia sẻ trải nghiệm xấu của mình trên Social Media, thậm chí kêu gọi tẩy chay ngân hàng có nhân viên thiếu tôn trọng khách hàng.

Khi bàn tới trải nghiệm khách hàng, online banking và mobile banking là vấn đề đáng lưu ý. Hiện nay, người sử dụng dịch vụ ngân hàng đặt sự tiện lợi được đặt lên hàng đầu, hơn cả việc bảo mật tài khoản (34 thảo luận). Nhiều topic trên mạng xã hội chia sẻ nguyên nhân rời bỏ ngân hàng do tài khoản online quá khó nhớ, hoặc app ngân hàng không tiện dụng, chuyển khoản khó khăn, nhiều lỗi.

Với sự cạnh tranh của các app tài chính, ví điện tử như Momo, Timo, VTC Pay,… các khách hàng ngày nay đã quen dần với việc chuyển khoản “miễn phí”, tốn ít phí hoặc cashback (hoàn tiền chiết khấu). Những ngân hàng thu phí dịch vụ cao đang ít nhiều vấp phải sự phản đối, nhiều khách hàng sẵn sàng rời bỏ tài khoản lâu năm của mình vì ngán ngẩm với các khoản phí 3 ngàn đồng, 11 ngàn đồng…mỗi lần giao dịch, trong khi một số ngân hàng, ứng dụng ngoài thị trường vẫn cho phép miễn phí giao dịch.

Với sự phát triển của Social Media, thông tin tiêu cực, khủng hoảng ngành ngân hàng là hầu như không thể tránh khỏi. Từ những phàn nàn về dịch vụ, sai phạm của nhân viên, lỗi bảo mật gây mất tiền đến thông tin về sự thay đổi của hội đồng quản trị… đều gây ra tâm lý hoang mang cho người dùng hiện tại. Nếu các ngân hàng không kịp thời điều chỉnh thông tin và có phương án giải quyết triệt để tiêu cực thì khách hàng tiết kiệm và khách hàng doanh nghiệp là những người đầu tiên rời bỏ thương hiệu.

Tối ưu trải nghiệm đa kênh ngành ngân hàng

Thông qua việc lắng nghe phản hồi tích cực của khách hàng về các ngân hàng thương mại, YouNet Media nhận ra các khách hàng thời nay đang xây dựng hình mẫu ngân hàng lý tưởng trong tâm trí của mình. Đa số cho rằng ngân hàng hiện đại cần chuyên nghiệp, thân thiện, áp dụng nhiều công nghệ tân tiến và quan tâm nhiều hơn tới sự tiện lợi khi giao dịch.

Trải nghiệm lý tưởng tại phòng giao dịch, chi nhánh ngân hàng (Offline experiences)

Sự “cảm tình” luôn là lý do quan trọng nhất ảnh hưởng đến quyết định gắn bó với thương hiệu. Để tạo ra những trải nghiệm tốt nhất cho khách hàng, các thương hiệu nên tập trung cải thiện thái độ phục vụ thân thiện và niềm nở. Các khách hàng đánh giá cao những nhân viên luôn giúp đỡ và tư vấn tận tình khi họ có khó khăn, thắc mắc. Yếu tố ngoại hình của nhân viên ngân hàng cũng là điểm nhấn để tạo ấn tượng về sự chuyên nghiệp, cao cấp.

Một trong những yếu tố quan trọng trong trải nghiệm tại chi nhánh đó là công việc của khách hàng cần được giải quyết nhanh gọn, đơn giản, không để khách hàng chờ quá lâu. Song song với việc đơn giản hóa thủ tục, việc xây dựng kênh chăm sóc khách hàng online hiệu quả sẽ làm giảm tải cho các trung tâm khách hàng. Nhiều người nổi tiếng, doanh nhân cũng thổ lộ trên mạng xã hội, họ cần được tôn trọng bằng không gian riêng tư (VIP area) và có quyền ưu tiên khi trực tiếp đến giao dịch tại ngân hàng.

Một trong những yếu tố gây bất ngờ khi nghiên cứu về trải nghiệm tại chi nhánh, đó là thái độ của nhân viên bảo vệ, người lấy số phiếu xếp hàng cũng được khách hàng thường xuyên phản ánh. Một số ngân hàng mất điểm vì phân biệt ưu tiên khi lấy số, hoặc nhân viên giữ cửa không hỗ trợ tốt việc lấy số phiếu khiến họ chán nản bỏ về vì không chờ được để phục vụ.

Trải nghiệm lý tưởng tại website, mobile app của ngân hàng (Online experiences)

Các khách hàng hiện nay đang tìm kiếm sự tiện lợi khi sử dụng mobile banking của ngân hàng. Trong quý 2 năm 2017 có 392 nhận xét người dùng về giao diện app/website ngân hàng xấu và lỗi thời. 290 thảo luận về các app ngân hàng hỗ trợ và không hỗ trợ bảo mật vân tay. 139 người dùng thừa nhận đang sử dụng ví điện tử thay vì app ngân hàng vì sự tiện lợi khi chuyển khoản, đa chức năng khi thanh toán.

Để khách hàng giao dịch online thường xuyên, các ngân hàng cần chắc chắn rằng giao diện website, mobile của mình đẹp, tiện dụng và đa chức năng hơn. Trong năm 2017, người dùng ngân hàng đã bắt đầu có thói quen thanh toán tiền điện nước, đặt mua vé xem phim, vé máy bay… qua ứng dụng ngân hàng, app tài chính. Tuy mới được một số ngân hàng cập nhật gần đây nhưng tính năng bảo mật vân tay rất được hưởng ứng do tâm lý ngại gõ mật khẩu của người dùng Việt.

Đối với các giao dịch online, các ngân hàng cần làm rõ hơn các khoản chi phí đang thu của người dùng. Đặc biệt những chương trình khuyến mãi “miễn phí chuyển khoản”, “miễn phí quản lý tài khoản” đang có sức hút rất lớn bởi vì các ví điện tử hiện nay đều đưa ra thông điệp phí rất nhỏ hoặc không mất phí.

Khi lắng nghe các đề tài mobile banking, online banking, YouNet Media nhận thấy có rất nhiều thắc mắc của người dùng như “chuyển khoản liên ngân hàng như thế nào”, “cách thanh toán hóa đơn”. Các chương trình online chat, chat bot và hướng dẫn chi tiết cho người sử dụng sẽ là điểm cộng không nhỏ để giữ khách hàng tiếp tục sử dụng dịch vụ của ngân hàng.

Tạm kết

Những thông tin mạng xã hội và tiếp cận công nghệ đã làm thay đổi quan niệm của người dùng. Họ yêu thích những thương hiệu ngân hàng hiện đại, luôn cải tiến công nghệ để đem lại sự tiện lợi cao nhất và mức phí thấp nhất. Hệ thống chăm sóc khách hàng của ngành ngân hàng tại phòng giao dịch, chi nhánh hay kênh online cũng cần được tối ưu để hạn chế lượng khách hàng rời bỏ.

Không dừng lại ở đó, các ngân hàng thương mại cần thường xuyên lắng nghe ý kiến, thảo luận của khách hàng trên các kênh online để bắt kịp xu hướng của người dùng, cải thiện dịch vụ và ngăn ngừa những tiêu cực không đáng có xung quanh thương hiệu.

Nguồn: Younetmedia.com

2021-10-27 / by / in
Hoạt động của ngân hàng thương mại

Hoạt động của ngân hàng thương mại

 

Hoạt động của ngân hàng thương mại là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số nghiệp vụ sau đây:

a. Nhận tiền gửi: Là hoạt động nhận tiền gửi của tổ chức, cá nhân dưới hình thức tiền gửi không kỳ hạn, tiền gửi có kỳ hạn, tiền gửi tiết kiệm, phát hành chứng chỉ tiền gửi, kỳ phiếu, trái phiếu và các hình thức nhận tiền gửi khác theo nguyên tắc có hoàn trả đầy đủ tiền gốc, lãi cho người gửi tiền theo thỏa thuận.

– Tiền gửi không kỳ hạn: (Tiền gửi thanh toán)
Ngân hàng thương mại từ khi mở cửa hoạt động thì không ngừng động viên khuyến khích khách hàng mở tài khoản tại ngân hàng. Tiền gửi thanh toán là loại tiền gửi mà người gửi tiền có thể rút ra bất cứ lúc nào mà cũng không cần báo trước cho Ngân hàng và Ngân hàng phải đáp ứng được yêu cầu đó của khách hàng.

Mục đích của loại tiền gửi này nhằm đảm bảo an toàn về tài sản, thực hiện các khoản chi trả trong hoạt động sản xuất kinh doanh, trong tiêu dùng, tiện lợi trong việc thanh toán bằng tiền mặt. Đối với ngân hàng loại tiền gửi thanh toán thường có sự dao động lớn, do đó Ngân Hàng chỉ áp dụng một tỉ lệ nhất định để cho vay nên Ngân Hàng thường áp dụng với lãi suất thấp.

Ưu điểm: Loại tiền gửi này có lãi suất thấp nên làm giảm chi phí huy động vốn của Ngân Hàng.

Nhược điểm: Tài khoản tiền gửi này thường xuyên biến động nên Ngân Hàng không chủ động trong việc sử dụng nguồn vốn này.

– Tiền gửi có kỳ hạn: (Tiền gửi định kỳ)

Hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp và cá nhân sau khi thu được lợi nhuận mà tạm thời chưa sử dụng đến trong một thời gian nhất định nào đó có thể ký thác vào Ngân Hàng một cách có kỳ hạn. Đối với loại tiền gửi này, người gửi tiền chỉ được rút ra khi đáo hạn. Tuy nhiên, trên thực tế do áp lực cạnh tranh, các Ngân Hàng cho phép khách hàng rút tiền trước hạn với điều kiện là người gửi tiền không được trả lãi hoặc chịu một mức lãi suất thấp hơn lãi suất trả cho tiển gửi có kỳ hạn, điều kiện tuỳ thuộc vào chính sách huy động của Ngân Hàng và loại tiền gửi định kỳ.

Tiền gửi định kỳ có nhiều loại khác nhau, thông thường có kỳ hạn 3 tháng, 6 tháng, 12 tháng. Khác với tiền gửi thanh toán tiền gửi định kỳ là tiền gửi tạm thời chưa sử dụng hoặc tiền gửi để dành của cá nhân. Vì vậy, mục đích gửi tiền vào Ngân Hàng là nhằm kiếm lợi tức. Do đó thường dùng biện pháp lãi suất để huy động nguồn vốn này chủ yếu.

Ưu điểm: Đối với ngân hàng tiền gửi có kỳ hạn là số tiền có hẹn đến một ngày nhất định mới trả lại cho khách hàng gửi tiền, điều này giúp cho ngân hàng chủ động được nguồn vốn trong các thời kỳ để có kế hoạch cho vay, do đó việc sử dụng nguồn này để cho vay rất hiệu quả.

Nhược điểm: Lãi suất để huy động nguồn vốn này cao và tùy thuộc vào kỳ hạn gửi và số tiền gửi của khách hàng.

– Tiền gửi tiết kiệm

Tiền gửi tiết kiệm là loại tiền gửi mà khi khách hàng gửi vào thì được ngân hàng cấp cho một quyển sổ gọi là sổ tiết kiệm. Khách hàng có trách nhiệm quản lý sổ và mang theo khi đến ngân hàng để giao dịch. Hiện nay một số ngân hàng đã bỏ sổ tiết kiệm và thay vào đó là cung cấp cho khách hàng một bản kê khi lúc gửi tiền đầu tiên và hàng tháng để phản ánh tất cả các số phát sinh.

Ưu điểm: Đây là nguồn vốn có tính ổn định và chiếm tỉ lệ khá cao, Ngân Hàng không phải cung cấp dịch vụ cho khách hàng.

Nhược điểm: Do mục đích của loại tiền gửi này là để dành nên lãi suất cao.

Ở Việt Nam, tiền gửi tiết kiệm hết sức đa dạng và phong phú được chia ra làm nhiều loại:

* Tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn: Là loại tiền gửi không có thời gian đáo hạn, khi nào người gửi muốn rút tiền thì phải thông báo cho Ngân Hàng một thời gian, tuy nhiên ngày nay Ngân Hàng cho phép khách hàng rút tiền ra không cần thông báo trước. Đây là hình thức mà đối tượng gửi chủ yếu là người tiết kiệm, dành dụm nhằm trang trãi những chi tiêu cần thiết đồng thời có một khoản lãi góp phần vào việc chi tiêu hàng tháng. Ngoài ra, đối tượng gửi tiền có thể là những người thừa tiền nhàn rỗi muốn gửi vào Ngân Hàng để thu hoạch lợi tức đồng thời đảm bảo an toàn hơn tiển cất ở nhà.

Loại tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn lãi suất thấp do Ngân hàng không chủ động được nguồn vốn và lãi luôn được nhập vốn và thường tính lãi theo nhóm ngày gửi tiền. Còn đối với tiền gửi thanh toán thì lãi nhập vốn vào cuối tháng.

* Tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn:

Đây là loại hình cá nhân gửi tiền có sự thoả thuận về thời gian với ngân hàng, chỉ rút tiền khi đến thời hạn thoả thuận. Còn trường hợp đặc biệt rút ra trước thời hạn thì lãi suất thấp hơn. Lãi suất tiền gửi tiết kiệm có kỳ hạn lớn hơn tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn.

Về nguyên tắc khách hàng chỉ được rút vốn khi đến hạn. Nếu rút trước hạn phải được sự đồng ý của Ngân Hàng và chỉ được hưởng lãi suất của tiền gửi tiết kiệm không kỳ hạn hoặc không được hưởng lãi nếu gửi có kỳ hạn mà rút ra chưa được 1 tháng.

– Phát hành các chứng từ có giá:

Gồm kỳ phiếu Ngân hàng và trái phiếu Ngân hàng

* Kỳ phiếu ngân hàng: Kỳ phiếu ngân hàng là loại chứng từ có giá được ngân hàng phát hành để huy động tiết kiệm trong xã hội nhằm mục đích phục vụ cho việc kinh doanh trong thời kỳ nhất định. Thời hạn của kỳ phiếu còn phụ thuộc vào chính sách huy động vốn của ngân hàng, có thể là: 3 tháng, 6 tháng, 12 tháng, trên 12 tháng.

Ưu điểm: Thời gian huy động nhanh, số tiền lớn.

Nhược điểm: Ngắn hạn và lãi suất cao hơn tiền gửi tiết kiệm.

* Trái phiếu ngân hàng: Trái phiếu ngân hàng là công cụ huy động vốn trung và dài hạn vào ngân hàng, nó là một loại chứng khoán có thể dùng để mua bán trên thị trường chứng khoán. Ở nước ta, trái phiếu có kỳ hạn trên một năm. Khi Ngân Hàng phát hành trái phiếu thì Ngân Hàng có mục đích dùng số vốn đó để đầu tư vào các dự án mang tính chất dài hạn như: đầu tư vào các công trình, dự án liên doanh, cho vay dài hạn…

Đối với khách hàng, trái phiếu Ngân Hàng là một khoản đầu tư mang lại thu nhập ổn định và ít rủi ro so với cổ phiếu doanh nghiệp.

Ưu điểm: Đối với Ngân Hàng vốn huy động từ trái phiếu lãi suất thấp và ổn định trong thời gian dài. Do vậy ngân hàng có thể chủ động trong việc sử dụng nguồn vốn này để cho vay trung và dài hạn.

Nhược điểm: Do lãi suất thấp và thời gian dài nên rất khó thu hút khách hàng.

Lãi suất của hai loại này thường cao hơn các loại tiền gửi khác.

b. Cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản: Là việc cung ứng phương tiện thanh toán; thực hiện dịch vụ thanh toán séc, lệnh chi, ủy nhiệm chi, nhờ thu, ủy nhiệm thu, thẻ ngân hàng, thư tín dụng và các dịch vụ thanh toán khác cho khách hàng thông qua tài khoản của khách hàng.

c. Cấp Tín Dụng: Là việc thỏa thuận để tổ chức, cá nhân sử dụng một khoản tiền hoặc cam kết cho phép sử dụng một khoản tiền theo nguyên tắc có hoàn trả bằng nghiệp vụ cho vay, chiết khấu, cho thuê tài chính, bao thanh toán, bảo lãnh ngân hàng và các nghiệp vụ cấp tín dụng khác.

Nguồn: luanvanaz

2021-10-27 / by / in
Sự khác biệt giữa Ngân hàng Đầu tư và Ngân hàng Thương mại

Sự khác biệt giữa Ngân hàng Đầu tư và Ngân hàng Thương mại

 

Dựa trên công việc được thực hiện bởi các ngân hàng, ngành tài chính được chia thành hai phân khúc chính: ngân hàng đầu tư và ngân hàng thương mại. Ngân hàng thương mại được thiết lập với mục đích thực hiện các giao dịch thương mại, chẳng hạn như nhận tiền gửi và cho vay tiền một cách hợp pháp đối với các khách hàng như cá nhân và doanh nghiệp.

Mặt khác, ngân hàng đầu tư được thành lập để cung cấp dịch vụ cho các nhà đầu tư. Hoạt động của các ngân hàng đầu tư là khác nhau, và hoạt động như một trung gian giữa người mua và người bán cổ phiếu và trái phiếu, giúp khách hàng huy động vốn.

Trong khi ngân hàng đầu tư kiếm được hoa hồng bảo lãnh phát hành, thì ngân hàng thương mại thu lãi từ các khoản cho vay khách hàng. Có một ranh giới khác biệt giữa ngân hàng đầu tư và ngân hàng thương mại, được trình bày chi tiết trong bài viết này.

Biểu đồ so sánh

Cơ sở để so sánh Ngân hàng đầu tư Ngân hàng thương mại
Ý nghĩa Ngân hàng đầu tư đề cập đến một tổ chức tài chính, cung cấp các dịch vụ như bảo lãnh phát hành chứng khoán, dịch vụ môi giới, v.v. Ngân hàng thương mại là ngân hàng cung cấp các dịch vụ như nhận tiền gửi, cho vay tiền, thanh toán theo lệnh đứng và nhiều dịch vụ khác.
Ưu đãi Dịch vụ cụ thể của khách hàng Dịch vụ tiêu chuẩn hóa
Kết hợp với Tình hình hoạt động của thị trường tài chính. Tăng trưởng kinh tế quốc gia và nhu cầu tín dụng
Cơ sở khách hàng Vài trăm thôi Hàng triệu
Ngân hàng đến Cá nhân, chính phủ và tập đoàn. Mọi công dân
Thu nhập = earnings Phí, hoa hồng hoặc lợi nhuận từ các hoạt động giao dịch. Thu nhập từ phí và lãi

Định nghĩa Ngân hàng Đầu tư

Thuật ngữ ngân hàng đầu tư được sử dụng để định nghĩa một tổ chức tài chính thực hiện các giao dịch tài chính phức tạp. Các ngân hàng này liên kết các tập đoàn lớn với các nhà đầu tư. Các ngân hàng phục vụ khách hàng của mình theo một số cách như hỗ trợ chính phủ và các tập đoàn phát hành chứng khoán, giúp các nhà đầu tư mua cổ phiếu, trái phiếu, v.v. cung cấp các dịch vụ tư vấn, v.v.

Các ngân hàng tạo ra thu nhập bằng cách tính phí cho các dịch vụ tư vấn của họ. Hơn nữa, hoạt động kinh doanh thương mại của ngân hàng có thể có lãi hoặc lỗ. Các ngân hàng này đóng một vai trò quan trọng trong việc hỗ trợ các công ty hoặc chính phủ đưa ra các quyết định có kế hoạch tốt và dễ dàng huy động vốn. Các dịch vụ do ngân hàng đầu tư cung cấp như sau:

  • Bảo lãnh phát hành chứng khoán
  • Huy động vốn
  • Quản lý tài sản
  • Quản lý tài sản
  • Dịch vụ tư vấn
  • Trộn và lấy lại
  • Hỗ trợ các công ty thực hiện chào bán lần đầu ra công chúng (IPO)

Định nghĩa Ngân hàng Thương mại

Thuật ngữ ngân hàng thương mại dùng để chỉ một cơ sở tham gia vào việc cung cấp các dịch vụ ngân hàng và tài chính nói chung cho công chúng. Trong thời gian trước đó, không có tổ chức nào như vậy mà mọi người có thể gửi tiền của họ một cách an toàn hoặc đi vay. Vì vậy, họ thường tìm đến những con cá mập để vay tiền, và gửi tiền vào bưu điện. Sau đó, các ngân hàng đang được phát triển để hoạt động như một chủ ngân hàng cho tất cả công dân của đất nước.

Các ngân hàng thương mại thuộc sở hữu công cộng hoặc tư nhân hoặc do sự kết hợp của cả hai. Các ngân hàng hỗ trợ trong việc huy động tiền tiết kiệm trên toàn nền kinh tế. Nó được điều chỉnh bởi Đạo luật quy định ngân hàng của Ấn Độ, năm 1949.

Các ngân hàng chấp nhận tiền gửi của công dân trong nước với lãi suất danh nghĩa và sử dụng số tiền đó để cấp tín dụng cho các khách hàng khác (người đi vay), tính lãi suất cao hơn từ họ. Bằng cách này, các ngân hàng thương mại tạo ra thu nhập từ số tiền lãi còn lại. Ngoài ra, một trong những nguồn thu nhập chính của ngân hàng là các khoản phí mà họ thu để cung cấp các dịch vụ khác nhau cho công chúng. Các dịch vụ đa dạng của ngân hàng thương mại là:

  • Nhận tiền gửi
  • Cho vay ứng trước
  • Thấu chi và tín dụng tiền mặt
  • Thanh toán theo hướng dẫn thường trực
  • Rút tiền theo yêu cầu
  • Bộ sưu tập tín phiếu và kỳ phiếu
  • Kinh doanh cổ phiếu và giấy nợ thay mặt cho khách hàng
  • Kho đồ
  • Thẻ ATM, Thẻ ghi nợ, Thẻ tín dụng
  • Ngân hàng di động
  • Ngân hàng trực tuyến

Sự khác biệt chính giữa Ngân hàng Đầu tư và Ngân hàng Thương mại

Sự khác biệt cơ bản giữa ngân hàng đầu tư và ngân hàng thương mại được chỉ ra dưới đây:

  1. Một trung gian tài chính được thành lập để cung cấp các dịch vụ đầu tư và tư vấn cho các công ty được gọi là ngân hàng đầu tư. Ngân hàng thương mại là ngân hàng được thành lập để cung cấp các dịch vụ ngân hàng cho công chúng.
  2. Ngân hàng đầu tư cung cấp dịch vụ cụ thể cho khách hàng trong khi ngân hàng thương mại cung cấp các dịch vụ tiêu chuẩn hóa.
  3. Cơ sở khách hàng của ngân hàng thương mại tương đối cao hơn so với ngân hàng đầu tư.
  4. Ngân hàng đầu tư liên quan đến hoạt động của thị trường chứng khoán trong khi tăng trưởng kinh tế và nhu cầu tín dụng ảnh hưởng đến tỷ lệ lãi suất của ngân hàng thương mại.
  5. Ngân hàng đầu tư là chủ ngân hàng đối với cá nhân, chính phủ, tập đoàn, … Mặt khác, ngân hàng thương mại là chủ ngân hàng đối với mọi công dân của đất nước.
  6. Ngân hàng đầu tư tạo ra thu nhập từ phí và hoa hồng. Không giống như Ngân hàng Thương mại tạo ra thu nhập từ lãi và phí.

Phần kết luận

Sự khác biệt cơ bản giữa hai trung gian tài chính này là đối tượng mà họ phục vụ cũng như lĩnh vực kinh doanh của họ. Trong khi các ngân hàng thương mại phục vụ tất cả các công dân của đất nước và hoạt động kinh doanh chính của nó là nhận tiền gửi và cho vay. Các ngân hàng đầu tư kinh doanh chứng khoán và vì vậy hoạt động chính của nó là kinh doanh các tài sản tài chính và cung cấp các dịch vụ tư vấn.

Nguồn: living-in-belgium

2021-10-27 / by / in
4 điều bạn cần biết về nguồn vốn ngân hàng thương mại

Ngân hàng thương mại là một tổ chức trung gian tài chính với các chức năng cơ bản là: trung gian tín dụng, trung gian thanh toán và chức năng tạo tiền. Để thực hiện được các chức năng này và đi vào hoạt động một cách có hiệu quả và có lợi nhuận thì đòi hỏi phải có một nguồn vốn ngân hàng hoạt động nhất định.

1. Khái niệm về vốn của ngân hàng thương mại

“Vốn của ngân hàng thương mại là những giá trị tiền tệ do bản thân ngân hàng thương mại tạo lập hoặc huy động được dùng để cho vay, đầu tư hoặc thực hiện các dịch vụ kinh doanh khác ”.

Khái niệm trên đã nói đầy đủ những thành phần tạo nên vốn của ngân hàng thương mại. Về thực chất vốn của ngân hàng thương mại là bao gồm các nguồn tiền tệ của chính bản thân ngân hàng và của những người có vốn tạm thời nhàn rỗi.

2. Vai trò của nguồn vốn trong ngân hàng

2.1 Vốn quyết định năng lực thanh toán và đảm bảo uy tín của ngân hàng

Ngân hàng hoạt động dựa trên sự tin tưởng lẫn nhau, nếu không có uy tín thì ngân hàng không thể tồn tại và ngày càng mở rộng hoạt động của mình. Uy tín được thể hiện ở khả năng sẵn sàng chi trả cho khách hàng của ngân hàng. Khả năng thanh toán của ngân hàng càng cao thì vốn khả dụng của ngân hàng càng lớn.

2.2 Vốn quyết định năng lực cạnh tranh của ngân hàng

Cạnh tranh là một trong những quy luật của nền kinh tế thị trường. Cạnh tranh giúp các doanh nghiệp có khả năng tự hoàn thiện mình hơn. Với ngân hàng vốn chính là yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của ngân hàng.

Thực tế đã chứng minh: quy mô vốn, trình độ nghiệp vụ, phương tiện kỹ thuật hiện đại là điều kiện tiền đề cho việc thu hút nguồn vốn, và nguồn vốn lớn sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho ngân hàng trong việc mở rộng quan hệ tín dụng với các thành phần kinh tế xét cả về quy mô, khối lượng tín dụng, chủ động về thời hạn, lãi suất.

3. Cơ cấu vốn của Ngân hàng thương mại

Vốn của ngân hàng thương mại bao gồm:

  • Vốn chủ sở hữu.
  • Vốn huy động.
  • Vốn đi vay.
  • Vốn khác.

Mỗi loại vốn đều có tính chất và vai trò riêng trong tổng nguồn vốn hoạt động của ngân hàng và đều có những tác động nhất định đến hoạt động kinh doanh của NHTM.

3.1 Vốn chủ sở hữu

Đây là nguồn vốn thuộc quyền sở hữu của chính ngân hàng, ngân hàng có toàn quyền sử dụng gồm các trang thiết bị, cơ sở vật chất, trang thiết bị, nhà cửa… Đây là nguồn vốn khá quan trọng, trước hết nó tạo uy tín cho chính ngân hàng.

Đối với mỗi ngân hàng, nguồn hình thành và nghiệp vụ hình thành loại vốn rất đa dạng tuỳ theo tính chất sở hữu, năng lực tài chính của chủ ngân hàng, yêu cầu và sự phát triển của thị trường.

3.2 Nguồn vốn hình thành ban đầu

Trước khi tiến hành kinh doanh, theo quy định của pháp luật, ngân hàng phải có một lượng vốn nhất định, đó là vốn pháp định (hay vốn điều lệ).

Tuỳ theo hình thức sở hữu, do nhà nước cấp nếu là ngân hàng quốc doanh, do cổ đông đóng góp nếu là ngân hàng cổ phần, do các bên đóng góp nếu là ngân hàng liên doanh và của cá nhân nếu là ngân hàng tư nhân.

3.3 Nguồn vốn bổ sung trong quá trình hoạt động

Vốn chủ sở hữu của ngân hàng không ngừng được tăng lên theo thời gian nhờ có nguồn vốn bổ sung. Nguồn bổ sung này có thể từ lợi nhuận hay từ phát hành thêm cổ phần, góp thêm, cấp thêm… Nguồn vốn bổ sung này tuy không thường xuyên song đối với các ngân hàng lớn từ lâu đời thì nguồn bổ sung này chiếm một tỷ lệ rất lớn.

3.4 Các quỹ

Trong quá trình hoạt động, ngân hàng có nhiều quỹ. Mỗi quỹ có một mục đích riêng: Quỹ đầu tư phát triển, quỹ dự phòng tổn thất, quỹ bảo toàn vốn, quỹ phúc lợi, quĩ khen thưởng… Nguồn để hình thành nên các quỹ là từ lợi nhuận.

3.5 Nguồn vay nợ có thể chuyển đổi thành cổ phần

Các khoản vay nợ trung và dài hạn, ổn định có khả năng chuyển đổi thành cổ phần thì được coi là một bộ phận vốn chủ sở hữu của ngân hàng. Ngân hàng có thể sử dụng vốn theo các mục đích kinh doanh của mình như có thể đầu tư vào nhà cửa, đất đai.

3.6 Các nguồn vốn huy động là gì?

Vốn huy động là bộ phận lớn nhất trong tổng nguồn vốn của ngân hàng thương mại. Với việc huy động vốn, ngân hàng có được quyền sử dụng vốn và có trách nhiệm phải hoàn trả cả gốc lẫn lãi đúng hạn cho người gửi.

Tiền gửi thanh toán (tiền gửi giao dịch )

Đây là khoản tiền của các doanh nghiệp và cá nhân gửi vào ngân hàng với mục đích là sử dụng các dịch vụ thanh toán của ngân hàng. Khoản tiền gửi thanh toán này có thể được trả lãi hoặc không được trả lãi tuỳ thuộc vào mỗi ngân hàng.

Tiền gửi có kỳ hạn của doanh nghiệp, các tổ chức xã hội

Nhiều doanh nghiệp, tổ chức xã hội có các hoạt động thu, chi tiền theo các chu kỳ xác định. Họ gửi tiền vào ngân hàng để hưởng lãi. Tuy khoản tiền này không linh hoạt bằng tiền gửi thanh toán nhưng bù lại tiền gửi có kỳ hạn lại có lãi suất cao hơn.

Tiền gửi tiết kiệm của dân cư

Trong cộng đồng dân cư luôn có những người có khoản tiền tạm thời nhàn rỗi. Họ gửi tiền vào ngân hàng nhằm thực hiện các mục đích bảo toàn và sinh lời đối với những khoản tiền đó. Người gửi tiết kiệm sẽ có sổ tiết kiệm xác định rõ thời gian và hình thức trả lãi đã thoả thuận với ngân hàng.

Tiền gửi của các ngân hàng khác

Đây là nguồn tiền gửi có qui mô thường nhỏ, giữa các ngân hàng luôn có tiền gửi của nhau. Mục đích của việc gửi tiền này là để đảm bảo thanh toán thuận tiện, phục vụ tối đa lợi ích cho khách hàng của mình.

Vốn đi vay

Bên cạnh việc huy động tiền gửi, nhiều lúc các ngân hàng cũng phải đi vay để đảm bảo thanh toán, đảm bảo dự trữ bắt buộc. Các ngân hàng có thể vay ở:

Vay ngân hàng Nhà nước

Khi các ngân hàng thương mại có nhu cầu cấp bách về vốn thì người dang tay cứu giúp sẽ là ngân hàng trung ương. Hình thức vay chủ yếu là tái chiết khấu (hay tái cấp vốn). Các ngân hàng thương mại sẽ mang các trái phiếu mà mình đã chiết khấu lên ngân hàng trung ương để tái chiết khấu.

Vay các tổ chức tín dụng khác

Đây là các khoản vay mượn lẫn nhau giữa các ngân hàng hoặc giữa ngân hàng với các tổ chức tín dụng khác trên thị trường liên ngân hàng. Hình thức vay này rất đơn giản, ngân hàng vay chỉ cần liên hệ trực tiếp với ngân hàng cho vay hoặc thông qua ngân hàng đại lý.

Vay trên thị trường vốn

Các ngân hàng có thể phát hành giấy nợ (kỳ phiếu, tín phiếu, trái phiếu) trên thị trường vốn để huy động vốn trung và dài hạn. Những ngân hàng lớn có uy tín hoặc trả lãi cao sẽ có khả năng vay được nhiều hơn các ngân hàng nhỏ.

3.7 Vốn khác

Nguồn uỷ thác

Ngân hàng thương mại thực hiện các dịch vụ uỷ thác qua đó làm tăng nguồn vốn của ngân hàng như uỷ thác đầu tư, uỷ thác cho vay, uỷ thác cấp phát, uỷ thác giải ngân và thu hộ.

Nguồn trong thanh toán

Các khoản thanh toán không dùng tiền mặt như: L/C, uỷ nhiệm thu, uỷ nhiệm chi hoặc đồng tài trợ cũng giúp ngân hàng làm tăng nguồn vốn của mình.

Nguồn khác

Ngân hàng thương mại thực hiện các dịch vụ uỷ thác như uỷ thác cho vay, uỷ thác đầu tư, … Các hoạt động này tạo nên nguồn uỷ thác tại ngân hàng. Ngoài ra , các hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt có thể hình thành nguồn vốn trong thanh toán.

4. Vai trò của hoạt động huy động vốn của ngân hàng thương mại

4.1 Đối với toàn bộ nền kinh tế

Tiết kiệm và đầu tư là những cơ sở nền tảng của nền kinh tế. Thông qua các kênh huy động vốn, các khoản tiết kiệm chuyển thành đầu tư góp phần làm tăng hiệu quả của nền kinh tế.

4.2 Đối với những người có vốn nhàn rỗi

Việc huy động vốn của ngân hàng trước hết sẽ giúp cho họ những khoản tiền lãi hay có được các dịch vụ thanh toán đồng thời các khoản tiền không bị chết, luôn được vận động, quay vòng.

4.3 Đối với những người cần vốn

Họ sẽ có cơ hội mở rộng đầu tư, phát triển sản xuất kinh doanh từ chính nguồn vốn huy động của ngân hàng. Việc huy động vốn của ngân hàng giúp cho nền kinh tế có được sự cân đối về vốn, nâng cao hiệu quả sử dụng vốn.

4.4 Đối với hoạt động kinh doanh của ngân hàng thương mại.

Vốn là cơ sở để ngân hàng tổ chức mọi hoạt động kinh doanh. Để bước vào hoạt động kinh doanh thì đầu tiên ngân hàng phải cần có vốn. Nguồn vốn phản ánh tiềm năng và sức mạnh của ngân hàng.

4.5 Vốn quyết định quy mô hoạt động của ngân hàng.

Hoạt động tín dụng của ngân hàng phụ thuộc vào vốn của ngân hàng. Có được nhiều vốn ngân hàng sẽ có điều kiện để đưa ra các hình thức tín dụng linh hoạt, có điều kiện để hạ lãi suất từ đó sẽ làm tăng quy mô tín dụng.

4.6 Vốn quyết định khả năng thanh toán và uy tín của ngân hàng

Điều kiện đầu tiên để xây dựng được uy tín của ngân hàng chính là vốn của ngân hàng. Trong nên kinh tế bất ổn hiện nay, khả năng thanh toán luôn được các ngân hàng ưu tiên hàng đầu và để được như vậy thì các ngân hàng luôn tìm cách huy động được nhiều vốn hơn.

4.7 Vốn quyết định năng lực cạnh tranh của ngân hàng

Trong thời đại kinh tế cạnh tranh khốc liệt như hiện nay, vốn là điều kiện để các ngân hàng tham gia cạnh tranh. Đồng thời nó lôi kéo khách hàng mới, giữ chân các khách hàng truyền thống.

Vốn của ngân hàng lớn giúp cho ngân hàng có khả năng tài chính dồi dào để cạnh tranh với các ngân hàng khác: hạ lãi suất, linh hoạt về thời hạn tín dụng, hình thức trả lãi…Các dịch vụ ngân hàng sẽ ngày càng được cải tiến, phát triển và được thực hiện tốt hơn.

Nguồn: thachdo.com

2021-10-27 / by / in
Sự khác biệt giữa Ngân hàng Thương mại và Ngân hàng Phát triển

Sự khác biệt giữa Ngân hàng Thương mại và Ngân hàng Phát triển

 

Ngân hàng thương mại là ngân hàng được tổ chức để thực hiện các dịch vụ ngân hàng công ích, chẳng hạn như nhận tiền gửi, cho vay tiền, … Mặt khác, ngân hàng Phát triển đề cập đến một cam kết tài chính đa mục tiêu được thiết lập để cung cấp hỗ trợ tài chính cho lĩnh vực công nghiệp và nông nghiệp, nhằm khuyến khích phát triển.

Ngân hàng đóng một vai trò rất quan trọng trong hệ thống tài chính của mọi quốc gia. Nếu hệ thống ngân hàng trong nền kinh tế hoạt động có hiệu quả thì nó góp phần thúc đẩy kinh tế đất nước phát triển. Mọi thành phần trong xã hội đều sử dụng các dịch vụ khác nhau do ngân hàng cung cấp cho các mục đích khác nhau.

Các ngân hàng được chia thành ba loại – Ngân hàng Hợp tác, Ngân hàng Thương mại và Ngân hàng Phát triển. Bây giờ chúng ta hãy thảo luận về sự khác biệt giữa Ngân hàng Thương mại và Ngân hàng Phát triển.

Bảng biểu so sánh

 

Cơ sở để so sánh Ngân hàng thương mại Ngân hàng Phát triển
Ý nghĩa Ngân hàng Thương mại là những ngân hàng cung cấp các dịch vụ ngân hàng và tài chính cơ bản cho các cá nhân và doanh nghiệp. Ngân hàng Phát triển là những ngân hàng được thành lập để cung cấp tài chính cho phát triển cơ sở hạ tầng và kinh tế.
Thiên nhiên Phản ứng Chủ động
Thiết lập Được thành lập theo Đạo luật Công ty, với tư cách là Công ty Ngân hàng. Được thiết lập theo hành động chuyên biệt.
Nguồn quỹ Gây quỹ từ việc chấp nhận tiền gửi công khai. Vay, cho và bán chứng khoán.
Các khoản cho vay được cung cấp Cho vay ngắn hạn và trung hạn Cho vay trung và dài hạn
Sự định hướng Lợi nhuận theo định hướng Định hướng phát triển
Mục đích Để kiếm lời bằng cách cho vay tiền với lãi suất cao. Để đạt được lợi nhuận xã hội, bằng cách cung cấp vốn cho các dự án phát triển.
Các dịch vụ được cung cấp Dịch vụ tư vấn Pháp lý, Kinh doanh và Điều tra Tín dụng được cung cấp với một khoản phí nhất định. Dịch vụ tư vấn và cố vấn được cung cấp cho sự phát triển và thúc đẩy của doanh nghiệp.
Khách hàng Cá nhân và Doanh nghiệp Chính quyền

Định nghĩa Ngân hàng Thương mại

Ngân hàng Thương mại, như tên gọi cho thấy, là một tổ chức tài chính định hướng lợi nhuận được thành lập để nhận tiền gửi từ công chúng, cung cấp dịch vụ tài khoản vãng lai, cho vay và cung cấp một loạt các sản phẩm tài chính cho các cá nhân và tổ chức kinh doanh.

Ngân hàng đóng vai trò trung gian giữa người gửi tiền và người đi vay. Nó trả lãi cho người gửi tiền đối với số tiền đã gửi với lãi suất thấp và cho người vay vay với lãi suất cao, tùy thuộc vào yếu tố rủi ro liên quan. Bằng cách này, ngân hàng thương mại kiếm tiền.

Lãi suất cung cấp cho người gửi tiền được gọi là lãi suất vay, trong khi tỷ lệ mà ngân hàng cho vay, được gọi là lãi suất cho vay. Sự khác biệt giữa cho vay và lãi suất đi vay được gọi là ‘lây lan‘, Số tiền sinh lời.

Các khoản tiền gửi nhận được từ công chúng không chỉ cung cấp tiền mà còn tăng trách nhiệm cung cấp tính thanh khoản và an toàn, vốn hạn chế việc sử dụng chúng.

 

Các Ngân hàng Thương mại chủ yếu được chia thành Ngân hàng theo lịch trình và Ngân hàng không theo lịch trình. Hơn nữa, các ngân hàng dự kiến ​​bao gồm các ngân hàng Quốc hữu hóa, Ngân hàng Nhà nước Ấn Độ và các công ty con của nó, ngân hàng khu vực tư nhân và ngân hàng nước ngoài.

Các chức năng được thực hiện bởi các Ngân hàng Thương mại được chia thành hai loại – Chức năng chính và Chức năng phụ. Các chức năng này được mô tả như sau:

 

Chức năng chính

  1. Chấp nhận tiền gửi
    • Tiết kiệm thời gian
      • Tiền gửi cố định
      • Gửi tiền định kỳ
      • Chứng chỉ tiền mặt
    • Tiền gửi
      • Tiết kiệm Tài khoản Ngân hàng Tiền gửi
      • Tiền gửi Tài khoản Hiện tại
  2. Tạm ứng các khoản cho vay
    • Thấu chi
    • Tín dụng tiền mặt
    • Chiết khấu hóa đơn
    • Khoản vay và ứng trước
    • Tài chính Nhà ở
    • Khoản vay chống lại cổ phiếu / chứng khoán
    • Khoản vay chống lại chứng chỉ tiết kiệm
    • Cho vay tiêu dùng và ứng trước
    • Chứng khoán hóa các khoản cho vay

 

Chức năng phụ

  1. Dịch vụ đại lý
    • Kinh doanh ngoại hối
    • Bộ sưu tập séc, lãi suất và cổ tức.
    • Mua bán chứng khoán
    • Lập tờ khai thuế thu nhập
    • Thanh toán tiền thuê nhà, hóa đơn điện, phí bảo hiểm, v.v.
    • Hoạt động như những người thực thi Di chúc.
  2. Dịch vụ Tiện ích Chung
    • Cơ sở khóa an toàn
    • Kiểm tra quà tặng
    • Cơ sở ATM
    • Cung cấp thông tin và thống kê thương mại
    • Cơ chế thanh toán, tức là chuyển tiền
    • Séc du lịch
    • Thư tín dụng
    • Thẻ tín dụng
    • Bảo lãnh phát hành chứng khoán
    • Dịch vụ tư vấn
    • Chấp nhận hóa đơn
    • Ngân hàng thương mại
  3. Chức năng đầu tư
  4. Tạo tín dụng

 

Định nghĩa Ngân hàng Phát triển

Ngân hàng Phát triển là một tổ chức tài chính chuyên biệt được thành lập để cung cấp các cơ sở hạ tầng, khuyến khích phát triển khu vực công nghiệp và nông nghiệp bằng cách cung cấp các khoản vay trung và dài hạn.

Nó cũng cung cấp các dịch vụ khác như bảo lãnh phát hành cổ phiếu, hoạt động đầu tư và bảo lãnh và các hoạt động khuyến mại cho các thực thể kinh doanh. Chức năng chính của ngân hàng phát triển là cấp tín dụng cho các dự án đầu tư thâm dụng vốn, thường là dài hạn, có tỷ suất sinh lợi thấp.

 

Mục tiêu của Ngân hàng Phát triển

  • Khuyến khích tăng trưởng công nghiệp.
  • Để tạo cơ hội việc làm.
  • Để hồi sinh các đơn vị bị bệnh.
  • Khuyến khích các dự án tự kinh doanh.
  • Để xóa bỏ sự mất cân bằng khu vực.
  • Phát triển các vùng lạc hậu.
  • Phát triển lĩnh vực nhà ở.
  • Thúc đẩy và cung cấp tài chính cho các ngành công nghiệp quy mô nhỏ.
  • Tạo điều kiện mở rộng và phát triển các ngành công nghiệp quy mô lớn.

 

Sự khác biệt chính giữa Ngân hàng Thương mại và Phát triển

Sự khác biệt giữa ngân hàng thương mại và ngân hàng phát triển có thể được rút ra rõ ràng trên các cơ sở sau:

  1. Ngân hàng Thương mại là các ngân hàng được thành lập để đảm nhận các dịch vụ ngân hàng cơ bản cho công chúng.Mặt khác, các Ngân hàng Phát triển là các tổ chức tài chính, được thành lập để cung cấp vốn cho các công ty và dự án mới và mới thành lập liên quan đến phát triển kinh tế, nông nghiệp và công nghiệp.
  2. Ở Ấn Độ, ngân hàng thương mại được thành lập dưới dạng công ty cổ phần, gọi là công ty ngân hàng. Mặt khác, các Ngân hàng Phát triển được thành lập theo đạo luật chuyên biệt, được quốc hội thông qua.
  3. Ngân hàng phát triển về bản chất là chủ động vì nó đóng vai trò tích cực trong việc thúc đẩy các dự án và phát triển các công ty mới thành lập. Ngược lại, các ngân hàng thương mại phản ứng nhanh về cơ hội kinh doanh, bởi vì nó đòi hỏi khả năng ngân hàng, sau khi quyết định của doanh nhân được đưa ra, sau đó ý tưởng được xem xét.
  4. Các ngân hàng thương mại huy động vốn bằng cách chấp nhận tiền gửi của công chúng. Ngược lại, các Ngân hàng Phát triển huy động vốn từ việc đi vay, tài trợ của chính phủ và bán chứng khoán.
  5. Các ngân hàng thương mại cho vay ngắn hạn và trung hạn, trong khi các ngân hàng phát triển cho vay trung và dài hạn.
  6. Ngân hàng Thương mại là chủ thể kinh doanh tìm kiếm lợi nhuận. Ngược lại, các Ngân hàng Phát triển được thành lập để khuyến khích sự phát triển.
  7. Các Ngân hàng Thương mại nhằm mục đích kiếm lợi nhuận bằng cách cho vay tiền với lãi suất cao. Ngược lại, các ngân hàng phát triển nhằm đạt được lợi nhuận xã hội, bằng cách cung cấp vốn cho các dự án thâm dụng vốn.
  8. Các Ngân hàng Thương mại cung cấp dịch vụ pháp lý, tư vấn kinh doanh và dịch vụ Điều tra tín dụng được cung cấp với một khoản phí nhất định. Ngược lại, dịch vụ tư vấn và cố vấn được cung cấp cho sự phát triển và thúc đẩy của doanh nghiệp, bởi một ngân hàng phát triển.
  9. Các ngân hàng thương mại giao dịch với công chúng và các tổ chức kinh doanh, trong khi các ngân hàng phát triển giao dịch với chính phủ.

 

Phần kết luận

Các ngân hàng có quyền phát hành kỳ phiếu, để lưu thông tiền dưới dạng tiền giấy, cũng như gửi tiền nhận được từ công chúng và ứng trước giống như các khoản cho vay đối với những người xin nó.

Nguồn: LIVING-IN-BELGIUM

 

 

 

2021-10-27 / by / in
Danh Sách Các Ngân Hàng Quốc Doanh Tại Việt Nam

Danh Sách Các Ngân Hàng Quốc Doanh Tại Việt Nam

 

Các ngân hàng Quốc doanh tại Việt nam hiện nay có 7 ngân hàng, trong đó 3 ngân hàng thương mại chiếm hơn 50% cổ phần thuộc Nhà nước và 4 ngân hàng thương mại chiếm 100% vốn cổ phần thuộc Nhà nước, ngoài ra còn có 2 ngân hàng chính sách xã hội hoạt động không vì lợi nhuận.

NGÂN HÀNG THƯƠNG MẠI QUỐC DOANH

Ngân hàng Xây dựng (CBBank)

Ngân hàng Đại Dương (Oceanbank)

Ngân hàng Dầu khí toàn cầu (GP Bank)

Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank)

Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV)

Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank)

Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (VietinBank)

NGÂN HÀNG CHÍNH SÁCH XÃ HỘI

Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam (VBSP)

Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB)

Ngân hàng TM Quốc Doanh Sở Hữu Vốn Nhà Nước 100%

Ngân hàng Xây dựng (CB)

Ngân hàng TNHH MTV Xây dựng | Construction Commercial One Member Limited Liability Bank (CBBank)

  • Địa chỉ: 145-147-149 Hùng Vương – P.2 – TP Tân An – Long An
  • Số điện thoại: (+84) (272) 3524 639 | Fax: (+84) (272) 3524 900
  • Email:
  • SWIFT code: GTBAVNVX
  • Website: https://www.cbbank.vn/

Ngân Hàng Đại Dương (OceanBank)

Ngân hàng TNHH MTV Đại Dương | Ocean Commercial One Member Limited Liability Bank (OceanBank)

  • Địa chỉ: Tòa nhà Daeha, 360 Kim Mã, phường Ngọc Khánh, quận Ba Đình, Hà Nội
  • Số điện thoại: 024. 3772 6789 | Fax: 024.3772 6969
  • Call Center: 1800 58 88 15
  • Email: support@oceanbank.vn
  • SWIFT code: OJBAVNVX
  • Website: http://www.oceanbank.vn/

Ngân hàng Dầu khí toàn cầu (GP Bank)

Ngân hàng TNHH MTV Dầu khí Toàn cầu | Global Petro Commercial One Member Limited Bank  (GP Bank)

  • Địa chỉ: Số 109 Trần Hưng Đạo, Quận Hoàn Kiếm, Hà Nội
  • Số điện thoại: 04. 37 345 345 | Fax: 04. 37 263 999
  • Call center: 1800 5858 66/ (024) 3514 9094
  • Email: info@gpbank.com.vn
  • SWIFT code: GBNKVNVX
  • Website: https://www.gpbank.com.vn

Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam (Agribank)

Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam | Vietnam Bank for Agriculture and Rural Development (Agribank)

  • Địa chỉ: Số 2 Láng Hạ, phường Thành Công, quận Ba Đình, Hà Nội
  • Số điện thoại: 1900558818/ (+84-24)32053205
  • Email: cskh@agribank.com.vn
  • SWIFT code: VBAAVNVX
  • Website: https://www.agribank.com.vn/

Ngân hàng TM Quốc Doanh Sở Hữu Vốn Nhà Nước Trên 50%

Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV)

Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam | Joint Stock Commercial Bank for Investment and Development of Vietnam (BIDV)

  • Địa chỉ: Tháp BIDV, 35 Hàng Vôi, Hoàn Kiếm, Hà Nội
  • Số điện thoại: 19009247 / (+84-24) 22200588 – Fax: (+84-24) 22200399
  • Email: bidv247@bidv.com.vn
  • SWIFT code: BIDVVNVX

Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank)

Ngân hàng TMCP Ngoại thương Việt Nam | Joint Stock Commercial Bank for Foreign Trade of Vietnam (Vietcombank)

  • Địa chỉ: 198 Trần Quang Khải, Hoàn Kiếm, Hà Nội
  • Hotline 24/7: 1900 54 54 13
  • Email:
  • SWIFT code: BFTVVNVX
  • Website: https://vietcombank.com.vn
  • Mã cổ phiếu: VCB

Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam (VietinBank)

Ngân hàng TMCP Công thương Việt Nam | Vietnam Joint Stock Commercial Bank of Industry and Trade (VietinBank)

  • Địa chỉ: 108 Trần Hưng Đạo, Hà Nội
  • Số điện thoại: 1900 558 868/ (84) 24 3941 8868; Fax: (84) 24 3942 1032
  • Email: contact@vietinbank.vn
  • SWIFT code: ICBVVNVX
  • Website: https://www.vietinbank.vn
  • Mã cổ phiếu: CTG

Ngân hàng Chính sách

Các ngân hàng chính sách hoạt động không vì lợi nhuận và được chính phủ Việt nam đảm bảo khả năng hoạt động và thanh toán

Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam (VBSP)

Ngân hàng Chính sách xã hội Việt Nam | Vietnam Bank for Social Policies (VBSP)

  • Địa chỉ: Tòa nhà CC5, Bán đảo Linh Đàm, Hoàng Liệt, Hoàng Mai, Hà Nội.
  • Số điện thoại: 00-84-24-36417184 | Fax: 00-84-24-36417194
  • Website: http://www.vbsp.org.vn/

Ngân hàng Phát triển Việt Nam (VDB)

Ngân hàng Phát triển Việt Nam | Vietnam Development Bank (VDB)

  • Địa chỉ: 25A Cát Linh, Hà Nộ
  • Số điện thoại: (84-24) 3736 5659 | Fax: (84-24) 3736 5672
  • Website: https://vdb.gov.vn/

Nguồn: sgbank.vn

2021-10-27 / by / in
Vốn huy động của Ngân hàng thương mại là gì? Các nguồn hình thành

Vốn huy động của Ngân hàng thương mại là gì? Các nguồn hình thành

 

Vốn huy động của Ngân hàng thương mại là nguồn vốn chủ yếu của Ngân hàng, thực chất là tài sản bằng tiền của các chủ sở hữu mà Ngân hàng tạm thời quản lí, sử dụng và có nghĩa vụ hoàn trả kịp thời và đầy đủ khi khách hàng có yêu cầu.

 

Hình minh họa (Nguồn: wraltechwire)

Vốn huy động của Ngân hàng thương mại

Khái niệm

Vốn huy động trong tiếng Anh được gọi là Mobilized Capital.

Vốn huy động của Ngân hàng thương mại là nguồn vốn chủ yếu của Ngân hàng, thực chất là tài sản bằng tiền của các chủ sở hữu mà Ngân hàng tạm thời quản lí, sử dụng và có nghĩa vụ hoàn trả kịp thời và đầy đủ khi khách hàng có yêu cầu.

Trong đó:

Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật này nhằm mục tiêu lợi nhuận

Các nguồn vốn huy động

Nguồn vốn huy động gồm có:

– Tiền gửi không kì hạn

– Tiền gửi tiết kiệm không kì hạn

– Tiền gửi tiết kiệm có kì hạn

– Tiền gửi phát hành kì phiếu, trái phiếu

– Các khoản tiền gửi khác

Tiền gửi không kì hạn

Là loại tiền gửi mà người sở hữu nó có thể rút ra để sử dụng bất kì lúc nào. Tiền gửi không kì hạn là tiền gửi tạm thời của các tổ chức kinh tế, dân cư.

Loại này tuy biến động thường xuyên nhưng vẫn có được một số dư ổn định do số tiền gửi vào và rút ra trong một thời kì có thể bù trừ cho nhau, nên ngân hàng ngoài việc sử dụng cho vay ngắn hạn, còn có thể sử dụng cho vay trung và dài hạn đối với số dư nêu trên.

Về nguyên tắc do mục đích người có tiền gửi không kì hạn là nhờ ngân hàng  cung cấp các dịch vụ thanh toán nên đối với loại này. Ngân hàng sẽ không trả lãi hoặc trả lãi thấp.

Tiền gửi có kì hạn

Là loại tiền gửi mà chủ của nó chỉ sử dụng rút ra khi tới hạn hoặc muốn rút ra phải báo trước. Tiền gửi có kì hạn gồm tiền gửi của các tổ chức kinh tế, dân cư… người gửi tiền nhằm mục đích sinh lời.

Do đó, Ngân hàng muốn tăng nguồn vốn này phải trả lại thỏa đáng sao cho người gửi vừa được bảo đảm an toàn về vốn vừa có khoản thu nhập hợp lí từ tiền gửi của mình.

Tiền gửi có kì hạn là nguồn vốn tương đối ổn định nên Ngân hàng có thể sử dụng chúng để cho vay ngắn, trung và dài hạn.

(Tài liệu tham khảo: Giáo trình Tín dụng Ngân hàng, PGS.TS Phan Thị Cúc, NXB Thống kê 2008. Luật Các tổ chức tín dụng 2010, sửa đổi, bổ sung năm 2017)

Nguồn: vietnambiz
2021-10-27 / by / in
Phân loại ngân hàng thương mại

Phân loại ngân hàng thương mại

 

 

Phân loại ngân hàng thương mại dựa vào hình thức sở hữu

Dựa vào hình thức sở hữu, các Ngân hàng thương mại được chia ra thành các loại gồm: ngân hàng thương mại quốc doanh, ngân hàng thương mại cổ phần, ngân hàng liên doanh, ngân hàng 100% vốn nước ngoài, ngân hàng tư nhân.

Ngân hàng thương mại quốc doanh: là ngân hàng được thành lập từ vốn thuộc Ngân sách Nhà nước, là trụ cột của nền kinh tế. Ở Việt Nam, ban đầu những ngân hàng này là những ngân hàng chuyên doanh, đến năm 1992 thì đổi tên và trở thành ngân hàng kinh doanh đa năng. Ví dụ: Ngân hàng TMCP VietinBank.

Ngân hàng thương mại cổ phẩn (TMCP): là ngân hàng được thành lập từ vốn góp của các cổ đông, kinh doanh đa năng. Hệ thống ngân hàng TMCP bao gồm hai loại: ngân hàng TMCP đô thị và ngân hàng TMCP nông thôn. Hiện nay, tất cả các Ngân hàng thương mại tại Việt Nam đều là ngân hàng TMCP và được thực hiện đầy đủ các nghiệp vụ kinh doanh của ngân hàng. Ví dụ: ngân hàng TMCP SeaBank, Ngân hàng TMCP ACB,  ngân hàng TMCP SacomBank, ngân hàng TMCP Techcombank

Ngân hàng liên doanh: là ngân hàng do các bên liên doanh góp vốn, tỷ lệ đóng góp của các đối tác nước ngoài không quá 50% vốn điều lệ. Ví dụ: Ngân hàng liên doanh ShinhanVina, Ngân hàng liên doanh Indovina, Ngân hàng liên doanh Viet Lao, Ngân hàng liên doanh Viet Nga

Ngân hàng 100% vốn nước ngoài:  là ngân hàng được thành lập theo pháp luật Việt Nam do chủ sở hữu nước ngoài cấp 100% vốn; được quyền cung cấp đầy đủ các dịch vụ ngân hàng cho thị trường Việt Nam; thời gian hoạt động không vượt quá 99 năm. Ví dụ: ngân hàng ANZ Việt Nam, Ngân hàng HSBC Việt Nam, Ngân hàng Standard Chartered Việt Nam…

Ngân hàng tư nhân: Do cá nhân thành lập bằng vốn của cá nhân đó. Loại hình ngân hàng này thường nhỏ, phạm vi hoạt động hẹp; thường có mối quan hệ tốt với khách hàng. Tuy nhiên, loại hình ngân hàng tư nhân theo cách tiếp cận này chưa xuất hiện tại Việt Nam

Phân loại ngân hàng thương mại dựa vào chiến lược kinh doanh

Dựa vào chiến lược kinh doanh các Ngân hàng thương mại được chia ra thành: ngân hàng thương mại bán buôn, ngân hàng thương mại bán lẻ, ngân hàng thương mại vừa bán buôn vừa bán lẻ.

Ngân hàng thương mại bán buôn: là Ngân hàng thương mại tập trung nhắm đến đối tượng khách hàng là các tổng công ty, các tập đoàn kinh tế, các doanh nghiệp, các xí nghiệp lớn. Danh mục sản phẩm ngân hàng loại này cung cấp cho khách hàng thường không đa dạng tuy  nhiên giá trị của từng giao dịch thường là rất lớn.

Ngân hàng thương mại bán lẻ: là ngân hàng tập trung khai thác nhóm đối tượng khách hàng là cá nhân hoặc các doanh nghiệp vừa và nhỏ. Ngân hàng loại này thường chú trọng đến việc đa dạng hóa sản phẩm để đáp ứng được các nhu cầu của nhiều khách hàng. Tuy giá trị của từng sản phẩm không lớn nhưng bù lại là một lực lượng khách hàng rất lớn. Hoạt động của ngân hàng này chủ yếu là huy động vốn từ mọi thành phần kinh tế, và cho vay để giải quyết vấn đề tiêu dùng hoặc các dự án sản xuất với quy mô nhỏ và vừa.

Ngân hàng thương mại vừa bán buôn, vừa bán lẻ: Là ngân hàng thực hiện song song cả hai hoạt động bán buôn và bán lẻ. Ngân hàng này nhắm vào tất cả các dạng khách hàng từ cá nhân, các hộ gia đình, các doanh nghiệp vừa và nhỏ đến các tổng công ty, các tập đoàn lớn. Ví dụ: Ngân hàng TMCP Công Thương Việt Nam (VietinBank), Ngân hàng TMCP Đông Nam Á (Seabank).

Nguồn: luanvan24

2021-10-27 / by / in
Ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường

Ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường

 

Hệ thống trung gian tài chính nói chung và ngân hàng thương mại nói riêng có vai trò rất quan trọng trong nền kinh tế thị trường, là cầu nối giữa các chủ thể trong nền kinh tế, làm cho các chủ thể gắn bó, phụ thuộc lẫn nhau, tăng sự liên kết và năng động của toàn bộ hệ thống. Ngày nay NHTM trở thành định chế tài chính không thể thiếu để vận hành nền kinh tế, riêng hệ thống ngân hàng thương mại Nhà nước còn được coi là “cánh tay đắc lực” của Chính phủ trong thực thi chính sách tiền tệ nhằm thực hiện mục tiêu ổn định kinh tế vĩ mô, kiềm chế lạm phát và bảo đảm an sinh xã hội của đất nước.

Định nghĩa ngân hàng thương mại

Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này. Hoạt động ngân hàng là việc kinh doanh, cung ứng thường xuyên một hoặc một số các nghiệp vụ sau đây: nhận tiền gửi; cấp tín dụng; cung ứng dịch vụ thanh toán qua tài khoản.[Luật các Tổ chức tín dụng 2010].

Sự hình thành và phát triển NHTM

Hệ thống ngân hàng dần hình thành và phát triển theo sự phát triển của quan hệ hàng hóa – tiền tệ. Trải qua quá trình dài nhiều thăng trầm, loại hình ngân hàng hiện đại thực sự xuất hiện vào thế kỷ XVII, các ngân hàng tuy đã thành hệ thống nhưng vẫn hoạt động độc lập nhau với quyền phát hành giấy bạc ngân hàng riêng. Từ thế kỷ XIX, quy mô và phạm vi lưu thông hàng hóa phát triển mạnh, để xóa bỏ tình trạng nhiều ngân hàng cùng phát hành tiền gây cản trở quá trình lưu thông và phát triển kinh tế, để thống nhất chế độ lưu thông tiền tệ, các quốc gia đã cấu trúc lại hệ thống ngân hàng thành hai cấp: Ngân hàng Trung ương (một số quốc gia gọi là Ngân hàng Nhà nước, Quỹ dự trữ liên bang…) và Ngân hàng thương mại (NHTM). Trong đó duy nhất NHTW được nhà nước giao việc phát hành tiền vào lưu thông và thực hiện chức năng quản lý nhà nước về tiền tệ.

Các quan điểm trên thế giới đều thống nhất coi NHTM là một tổ chức kinh doanh tiền tệ và cung cấp các dịch vụ có liên quan đến tiền tệ cho thị trường. Tại Việt Nam, khái niệm NHTM được quy định rõ trong Pháp lệnh ngân hàng 1990, Luật các Tổ chức tín dụng 1997, sửa đổi năm 2010.

 

Ảnh minh họa

Ngày nay, hệ thống ngân hàng thương mại đã phát triển mạnh mẽ, với nhiều ngành dịch vụ, tham gia sâu rộng vào mọi lĩnh vực kinh tế xã hội và trở thành tổ chức kinh doanh không thể thiếu để phát triển kinh tế xã hội.

Chức năng và nghiệp vụ của NHTM

Chức năng

– Chức năng làm trung gian tín dụng: Là “cầu nối” giữa người thừa và người thiếu vốn, NHTM huy động các nguồn tiền tạm thời nhàn rồi từ các chủ thể kinh tế để hình thành nên nguồn vốn cho vay và sử dụng nguồn vốn này để đáp ứng nhu cầu vay vốn của các chủ thể thiếu vốn (cần bổ sung vốn, gửi vào tài khoản dự trữ bắt buộc hoặc tài khoản thanh toán tại ngân hàng trung ương, NHTM,…) mà chủ yếu là cho vay ngắn hạn. Với chức năng này NHTM vừa đi vay, vừa cho vay. Chức năng trung gian tín dụng xuất phát từ yêu cầu cần khắc phục khiếm khuyết của thị trường tài chính (cung và cầu về vốn không khớp nhau về thời gian và số lượng đã ảnh hưởng lớn tới tính tuần hoàn liên tục của quá trình tái sản xuất). Chức năng trung gian tín dụng phản ánh rõ nét nhất bản chất của NHTM trên lĩnh vực kinh doanh tiền tệ.

– Chức năng trung gian thanh toán: NHTM đứng ra làm trung gian thanh toán giữa các khách hàng, giúp họ không phải trực tiếp thanh toán với nhau.

Chức năng trung gian thanh toán là kết quả của chức năng trung gian tín dụng. Khi thực hiện chức năng trung gian tín dụng, rất nhiều khách hàng đến mở tài khoản tại hệ thống, NHTM sẽ có thể thực hiện chức năng trung gian thanh toán khi tiến hành trích tiền từ tài khoản người mua (theo lệnh của bên mua) để thanh toán tiền hàng hóa dịch vụ hoặc nhập vào tài khoản của người bán hay thực hiện các khoản thu khác theo lệnh của khách hàng.

NHTM ra đời và phát triển đã làm thay đổi căn bản hoạt động thanh toán, tạo ra hệ thống TTKDTM khá hoàn hảo trên phạm vi toàn thế giới. NHTM cung cấp các hình thức thanh toán tiện ích: séc, uỷ nhiệm thu/chi, thanh toán điện tử, thanh toán bù trừ,.. .cho phép khách hàng lựa chọn hình thức thanh toán hiệu quả và an toàn nhất.

– Chức năng tạo tiền. Quá trình tạo tiền của NHTM thực chất là quá trình kết hợp chặt chẽ hoạt động tín dụng và hoạt động thanh toán không dùng tiền mặt (giữa chức năng trung gian thanh toán và trung gian thanh toán), làm cho hệ thống NHTM có khả năng tạo ra tiền ghi sổ (bút tệ) trên tài khoản tiền gửi thanh toán của khách hàng tại NHTM. Khi NHTM sử dụng khoản tiền gửi để cho vay, khách hàng sử dụng tiền vay (số dư trên tài khoản trung gian thanh toán) để thanh toán hàng hóa dịch vụ … tức là ngân hàng đã tạo tiền. Chức năng tạo tiền của NHTM chỉ xảy ra khi các hoạt động này được thực hiện bằng chuyển khoản, ghi Nợ cho tài khoản này, ghi Có cho tài khoản liên quan.

Các chức năng của NHTM có mối quan hệ chặt chẽ, bổ sung, hỗ trợ cho nhau trong đó chức năng trung gian tín dụng là cơ bản nhất, tạo cơ sở cho việc thực hiện các chức năng sau

Nghiệp vụ

Theo sự phát triển của kinh tế xã hội và nhu cầu của khách hàng, nghiệp vụ ngân hàng thương mại ngày càng gia tăng về số lượng, cải thiện về chất lượng và được quy về 3 loại chính:

– Nghiệp vụ Tài sản Nợ: gồm vốn tự có và các khoản nợ mà NHTM nợ thị trường.

– Nghiệp vụ Tài sản Có: gồm các nghiệp vụ: ngân quỹ, tín dụng và đầu tư

– Nghiệp vụ trung gian: thanh toán, đại lý, bảo lãnh, ủy thác, ký gửi, tư vấn .v.v…

Nói cách khác, NHTM kinh doanh chủ yếu và thường xuyên ở 3 nghiệp vụ:

– Huy động vốn: NHTM huy động nguồn vốn nhàn rỗi trong xã hội dưới các hình thức như: nhận tiền gửi tiết kiệm (có kỳ hạn và không kỳ hạn), tiền gửi thanh toán…; phát hành giấy tờ có giá (trái phiếu, kỳ phiếu, tín phiếu, chứng chỉ tiền gửi) hoặc đi vay từ NHNN, từ các NHTM và các tổ chức tín dụng khác. Huy động vốn là nghiệp vụ cơ bản giúp NHTM thực hiện chức năng tạo tiền

– Sử dụng vốn: Chủ yếu là cấp tín dụng (cho vay trung/dài/ngắn hạn, cho thuê tài chính, bảo lãnh…). NHTM dùng nguồn vốn đã huy động được để cho vay từ đó thu lợi nhuận trên cơ sở chênh lệch phí đầu vào và phí đầu ra. Đây là nghiệp vụ chủ yếu mang lại lợi nhuận cho NHTM nhưng cũng chứa đựng rủi ro rất cao. Sử dụng vốn còn bao gồm nghiệp vụ ngân quỹ (dự trữ, đảm bảo an toàn thanh toán) và nghiệp vụ đầu tư đầu tư (liên doanh liên kết, kinh doanh chứng khoán).

– Trung gian thanh toán: NHTM thực hiện thanh toán theo yêu cầu của khách hàng bằng cách cung cấp các công cụ thanh toán thuận lợi như: séc, uỷ nhiệm thu/chi, thẻ thanh toán, thanh toán điện tử… Cùng với sự phát triển của kinh tế thị trường, các nghiệp vụ của NHTM cũng phát triển phong phú, đa dạng và có mối quan hệ mật thiết với nhau. Nghiệp vụ tài sản Nợ quyết định đến quy mô và phạm vi hoạt động của nghiệp vụ tài sản Có. Mỗi nghiệp vụ đều là tiền đề, điều kiện để duy trì và phát triển các nghiệp vụ khác. Tuy nhiên, nghiệp vụ tín dụng vẫn quan trọng nhất, là nghiệp vụ sinh lời chủ yếu, quyết định kết quả kinh doanh của NHTM.

Vai trò của ngân hàng thương mại trong nền kinh tế thị trường

Khi nền kinh tế hàng hóa phát triển đến trình độ cao nhất, là nền kinh tế thị trường, ngân hàng thương mại ngày càng hoàn thiện và trở thành định chế tài chính không thể thiếu để vận hành nền kinh tế.

– NHTM là nơi cung cấp vốn cho nền kinh tế, là công cụ quan trọng thúc đẩy lực lượng sản xuất phát triển: Hoạt động kinh doanh tiền tệ với chức năng trung gian tín dụng, NHTM khắc phục những khiếm khuyết của thị trường tài chính, khơi thông nguồn vốn nhàn rỗi ở mọi tổ chức, cá nhân, mọi thành phần kinh tế … hình thành nên quỹ cho vay và sử dụng chúng để đáp ứng nhu cầu vốn cho nền kinh tế. Là một kênh phân phối vốn có hiệu quả NHTM tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có khả năng tận dụng cơ hội đầu tư, mở rộng sản xuất kinh doanh, cải tiến qui trình công nghệ, từ đó nâng cao năng suất lao động để có thể đứng vững trong sự cạnh tranh khốc liệt của thị trường. Với khả năng cung cấp vốn, NHTM đã trở thành một trong những điểm khởi đầu cho sự phát triển kinh tế của mồi quốc gia.

– NHTM là cầu nối giữa doanh nghiệp với thị trường: Để có thể đưa sản phẩm hàng hóa dịch vụ tiếp cận với thị trường đầu ra và tìm kiếm lợi nhuận, các doanh nghiệp cần phải có vốn (yếu tố đầu vào quan trọng, nền tảng của mọi hoạt động) để thực hiện sản xuất. Khi vốn tự có không đủ hoạt động, các doanh nghiệp phải tìm đến các nguồn vốn khác. NHTM sẽ giúp doanh nghiệp giải quyết được khó khăn bằng nguồn vốn tín dụng. Như vậy, NHTM chính là cầu nối đưa doanh nghiệp đến với thị trường, giúp doanh nghiệp tìm được vốn đầu vào, bôi trơn hoạt động sản xuất kinh doanh và thanh toán để tạo ra thành phẩm cho thị trường. NHTM giúp doanh nghiệp và thị trường gần nhau hơn cả về không gian và thời gian.

– NHTM là công cụ để nhà nước điều tiết vĩ mô nền kinh tế: Các NHTM một mặt chịu sự tác động trực tiếp từ các công cụ của chính sách tiền tệ (thị trường mở, dự trữ bắt buộc, lãi suất,…) mặt khác gián tiếp tham gia điều tiết vĩ mô nền kinh tế thông qua mối quan hệ với các tổ chức kinh tế, cá nhân về các hoạt động tài chính tín dụng. Thông qua hoạt động của NHTM với các chủ thể khác trong nền kinh tế, mọi thông tin có liên quan đến việc hoạch định chính sách tiền tệ sẽ được phản hồi lại NHTW, giúp NHTW có thể hoạch định các chính sách kinh tế vĩ mô phù hợp trong từng thời kỳ để đảm bảo thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng và phát triển ổn định.

– NHTM là cầu nối nền tài chính quốc gia với nền tài chính quốc tế: Ngày nay, mồi quốc gia độc lập đều phát triển quan hệ quốc tế đa dạng và phức tạp trên nhiều lĩnh vực: kinh tế, chính trị, ngoại giao, văn hoá, khoa học công nghệ,… trong đó quan hệ kinh tế được chú trọng nhất. Áp lực cạnh tranh buộc mỗi quốc gia khi mở cửa hội nhập phải có tiềm lực lớn mạnh. Hệ thống NHTM với các nghiệp vụ như: thanh toán quốc tế, kinh doanh ngoại hối, uỷ thác đầu tư, … sẽ giúp nền kinh tế của một quốc gia hòa nhập với phần còn lại của thế giới. Hệ thống NHTM trong nước đã điều tiết tài chính trong nước phù hợp với sự vận động của nền tài chính quốc tế, đưa nền tài chính trong nước bắt kịp với nền tài chính quốc tế.

Tham khảo:

– Luật các Tổ chức tín dụng (Luật số 47/2010/QH12, ngày 16/6/2010.

– Nguyễn Thu Giang (2017). Phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại NHTMCP Ngoại thương Việt Nam trong điều kiện cạnh tranh tự do giữa các NHTM ở Việt Nam hiện nay.

Nguồn: ditiep.com

2021-10-27 / by / in