Thêm kết quả...

Điểm mặt những ngân hàng nước ngoài lớn nhất tại Việt Nam

Cùng sự phát triển và hội nhập quốc tế như ngày nay, nhu cầu về sử dụng tín dụng ngân hàng ngày càng được đánh giá cao. Vì vậy, việc hợp tác cùng xây dựng và phát triển với nước ngoài là một điều tất yếu. Thường thì những ngân hàng này đều có uy tín trên thế giới, công nghệ bảo mật cao và thái độ làm việc chuyên nghiệp của nhân viên trong ngành.

1. HSBC
HSBC (Hongkong – Shanghai Bank Vietnam Limited) được biết đến là một trong những tổ chức dịch vụ tài chính và ngân hàng lớn nhất thế giới. Mạng lưới ngân hàng này có mặt ở 72 quốc gia và vùng lãnh thổ tại nhiều nơi như: Châu Âu, châu Á Trung Đông, Bắc Phi, Bắc Mỹ và châu Mỹ La-tinh.

Tháng 1/2009, HSBC là ngân hàng nước ngoài đầu tiên với 100% vốn nước ngoài, tên gọi Ngân hàng TNHH một thành viên HSBC (Việt Nam) với hai chi nhánh, năm phòng giao dịch tại TP. Hồ Chí Minh; một chi nhánh, ba phòng giao dịch, một quỹ tiết kiệm tại Hà Nội và ba chi nhánh tại Bình Dương, Cần Thơ, Đà Nẵng.

 

Trụ sở HSBC tại TP. Hồ Chí Minh (Nguồn: Zing News)

2. ANZ Việt Nam (ANZ Bank)

Năm 2008, Ngân hàng ANZ (Australia and New Zealand Banking Group Limited) được cấp giấy phép thành lập ngân hàng thương mại có 100% vốn nước ngoài tại Việt Nam. Với mạng lưới ngân hàng gồm 8 chi nhánh và phòng giao dịch, 1 quỹ tiết kiệm tại hai thành phố Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh cùng 2 văn phòng đại diện tại Cần Thơ và Bình Dương.

Vào năm 2013, ANZ vinh dự nhận được giải thưởng “Ngân Hàng Bán Lẻ Tốt Nhất Việt Nam” do Tạp chí The Asian Banker trao tặng.

Logo của Ngân hàng ANZ (Nguồn: Ngân hàng điện tử)

3. Standard Chartered

Standard Chartered Việt Nam thuộc 100% vốn của Standard Chartered Anh quốc, chính thức thành lập ngày 1/8/2009. Hiện tại, Ngân hàng Standard Chartered có ba chi nhánh (2 tại Hà Nội và 1 ở TP. Hồ Chí Minh), trụ sở chính được đặt ở Hà Nội. Chủ yếu cung cấp các sản phẩm và dịch vụ của ngân hàng thương mại và bán lẻ cho khách hàng là các doanh nghiệp, các định chế tài chính, doanh nghiệp vừa, nhỏ và khách hàng cá nhân.

Standard Chartered triển khai dịch vụ ví điện tử trên di động với Mservice (Nguồn: Dân trí)

4. Shinhan Vietnam

Shinhan là một tập đoàn tài chính tiên phong về việc nắm giữ tài chính tại Hàn Quốc, được thành lập trên nền tảng của Ngân hàng Shinhan, Quỹ đầu tư Shinhan và Công ty Quản lý đầu tư Shinhan. Năm 1993, Ngân hàng này mở chi nhánh đầu tiên tại Việt Nam tại TP. Hồ Chí Minh, và trở thành một trong những người tiên phong trong việc đẩy mạnh mối quan hệ ngoại giao giữa Việt Nam và Hàn Quốc.

Hiện tại, mạng lưới hoạt động của ngân hàng Shinhan Việt Nam bao gồm 1 trụ sở chính, 18 chi nhánh và phòng giao dịch tại TP.Hồ Chí Minh, Hà Nội, Bình Dương, Đồng Nai, Thái Nguyên, Hải Phòng và Bắc Ninh.

Ngân hàng Shinhan tại Việt Nam (Nguồn: Crystal)

5. Citibank Vietnam

Citibank phát triển mạnh mẽ tại những thị trường tài chính lớn của thế giới, và trải dài từ Trung Quốc, Malaysia, Hàn Quốc và Ấn Độ ở khu vực Châu Á Thái Bình Dương, Ba Lan và Nga ở châu Âu, tới Mexico, Brazil, Colombia, Argentina và Panama ở Mỹ Latinh.

Vào năm 1993, Citibank chính thức hoạt động tại thị trường Việt Nam, và được đặt chi nhánh tại Hà Nội và TP. Hồ Chí Minh tạo nên một mạng lưới phân bổ rộng khắp đến 64 tỉnh thành tại Việt Nam. Ngân hàng này đã khẳng định vai trò của mình trong sự phát triển thị trường tài chính của nước ta, đưa ra các sản phẩm mang tính sáng tạo đáp ứng nhu cầu đa dạng của mọi khách hàng trong nước lẫn nước ngoài đầu tư vào Việt Nam.

Citibank và VietNam Airline hợp tác cùng nhau (Nguồn: An ninh Thủ đô)

Trên đây là top 5 ngân hàng nước ngoài lớn nhất Tại Việt Nam có vốn đầu tư 100% nước ngoài tại Việt Nam. Nhìn chung đây là những ngân hàng lớn và nổi tiếng với mạng lưới phân bổ trên khắp thế giới và luôn được khách hàng tin dùng, trong đó có khách hàng Việt Nam.

Nguồn: Edu2Review 

2021-10-28 / by / in
Ngân hàng chính sách xã hội là gì ? Mức lãi suất của ngân hàng chính sách xã hội

Ngân hàng chính sách xã hội đã được hình thành từ năm 2002, nhưng mục đích hoạt động và mức lãi suất không phải ai cũng hiểu rõ. Thông qua bài viết này Công ty Luật Minh Khuê hi vọng sẽ cung cấp thêm kiến thức cho quý bạn đọc.

1. Khái niệm ngân hàng chính sách ?

Ngân hàng chính sách trước đây được gọi là Ngân hàng Phục vụ người nghèo, đặt trong Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam, được thành lập theo Quyết định số 525/QĐ-TTg ngày 31/8/1995 của Thủ tướng Chính phủ; là tổ chức tín dụng thuộc sở hữu nhà nước, hoạt động trong phạm vi cả nước, có tư cách pháp nhân, có vốn điều lệ, có tài sản, có bảng cân đối, có con dấu; trụ sở chính đặt tại Hà Nội. Vốn điều lệ ban đầu là 5 ngàn tỉ đồng, được cấp bổ sung phù hợp với yêu cầu hoạt động từng thời kì.

Ngân hàng Phục vụ người nghèo có chức năng khai thác các nguồn vốn của các tổ chức, cá nhân trong nước và ngoài nước, tiếp nhận các nguồn vốn tín dụng của Nhà nước đối với người nghèo và các nguồn vốn khác được Nhà nước cho phép để lập quỹ cho người nghèo vay, thực hiện chương trình của Chính phủ đối với người nghèo. Hoạt động của Ngân hàng Phục vụ người nghèo vì mục tiêu xóa đói, giảm nghèo, không vì mục đích lợi nhuận, thực hiện bảo toàn vốn ban đầu, phát triển vốn, bù đắp chi phí. Ngân hàng Phục vụ người nghèo thực hiện cho vay trực tiếp đối với hộ nghèo có sức lao động nhưng thiếu vốn, được vay vốn để phát triển sản xuất, không phải thế chấp tài sản, có hoàn trả vốn vay và theo lãi suất quy định.

Ngân hàng phục vụ người nghèo được xét miễn giảm thuế doanh thu (thuế giá trị gia tăng) và thuế lợi tức (thuế thu nhập doanh nghiệp), để giảm lãi suất cho vay đối với người nghèo. Các rủi ro bất khả kháng trong quá trình hoạt động của Ngân hàng phục vụ người nghèo được bù đắp bằng quỹ bù đắp rủi ro theo quy chế tài chính của Bộ Tài chính.

Tại Nghị quyết số 05-NQ/HNTW, ngày 10/6/1993 Hội nghị lần thứ năm Ban chấp hành Trung ương Đảng khóa VII, về việc tiếp tục đổi mới và phát triển kinh tế – xã hội nông thôn, Đảng ta chủ trương có chế độ tín dụng ưu đãi đối với hộ nghèo, hộ chính sách, vùng nghèo, vùng dân tộc thiểu số, vùng cao, vùng căn cứ cách mạng; mở rộng hình thức cho vay thông qua tín chấp đối với các hộ nghèo…

Để thực hiện có hiệu quả Nghị quyết của Đảng và Chiến lược quốc gia về xóa đói giảm nghèo, tháng 3 năm 1995, Chính phủ đã thành lập Quỹ cho vay ưu đãi hộ nghèo với số vốn ban đầu là 400 tỷ đồng, do Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Ngân hàng Ngoại thương và Ngân hàng Nhà nước đóng góp. Quỹ được sử dụng cho vay hộ nghèo thiếu vốn sản xuất kinh doanh với lãi suất ưu đãi, mức cho vay 500.000 đồng/hộ, người vay không phải bảo đảm tiền vay.Ngày 31/8/1995, Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 525/QĐ-TTg về việc thành lập Ngân hàng Phục vụ người nghèo, đặt trong Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Việt Nam (NHNo&PTNT Việt Nam), hoạt động không vì mục tiêu lợi nhuận, để cung cấp nguồn vốn ưu đãi cho hộ nghèo thiếu vốn sản xuất.Với mô hình tổ chức được triển khai đồng bộ từ Trung ương đến địa phương trên cơ sở tận dụng bộ máy và màng lưới sẵn có của NHNo&PTNT Việt Nam, Ngân hàng Phục vụ người nghèo đã thiết lập được kênh tín dụng riêng để hỗ trợ tài chính cho các hộ nghèo ở Việt Nam với các chính sách tín dụng hợp lý, giúp hộ nghèo có vốn sản xuất, tạo công ăn việc làm, tăng thu nhập, từng bước làm quen với nền sản xuất hàng hoá và có điều kiện thoát khỏi đói nghèo.

Tuy nhiên, từ bộ phận quản trị đến bộ phận điều hành của Ngân hàng Phục vụ người nghèo đều làm việc theo chế độ kiêm nhiệm nên rất ít thời gian để nghiên cứu những vấn đề thực tiễn, hạn chế công việc nghiên cứu đề xuất chính sách, cơ chế quản lý điều hành. Mọi hoạt động về nghiên cứu, đề xuất cơ chế chính sách đều giao cho ban điều hành nghiên cứu soạn thảo trong khi ban điều hành đang thuộc NHNo&PTNT Việt Nam. Như vậy, không tách được chức năng hoạch định chính sách và điều hành theo chính sách.Hơn nữa, bên cạnh Ngân hàng Phục vụ người nghèo, nguồn vốn từ ngân sách Nhà nước hỗ trợ người nghèo và các đối tượng chính sách khác còn được giao cho nhiều cơ quan Nhà nước, hội đoàn thể và Ngân hàng thương mại Nhà nước cùng thực hiện theo các kênh khác nhau, làm cho nguồn lực của Nhà nước bị phân tán, chồng chéo, trùng lắp, thậm chí cản trở lẫn nhau. Bên cạnh nguồn vốn cho vay hộ nghèo được Ngân hàng Phục vụ người nghèo và NHNo&PTNT Việt Nam thực hiện thì thực tế còn có: nguồn vốn cho vay giải quyết việc làm do Kho bạc Nhà nước quản lý và cho vay; nguồn vốn cho vay đối với học sinh, sinh viên có hoàn cảnh khó khăn do Ngân hàng Công thương thực hiện; nguồn vốn cho vay ưu đãi các tổ chức kinh tế và hộ sản xuất, kinh doanh thuộc hải đảo, thuộc khu vực II, III miền núi, các xã đặc biệt khó khăn thuộc Chương trình 135 của Chính phủ…Việc hình thành các nguồn vốn cho vay chính sách nằm rải rác ở nhiều tổ chức tài chính với cơ chế quản lý khác nhau đã gây nhiều trở ngại cho quá trình kiểm soát của Nhà nước, không tách bạch được tín dụng chính sách với tín dụng thương mại. Để triển khai Luật các tổ chức tín dụng trong việc thực hiện chính sách tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách; các nghị quyết của Đại hội Đảng IX, nghị quyết kỳ họp thứ 6 Quốc hội khoá X về việc sớm hoàn thiện tổ chức và hoạt động của NHCSXH, tách tín dụng ưu đãi ra khỏi tín dụng thương mại; đồng thời thực hiện cam kết với Ngân hàng Thế giới (WB), Quỹ tiền tệ thế giới (IMF) về việc thành lập Ngân hàng Chính sách; ngày 04/10/2002, Chính phủ ban hành Nghị định số 78/2002/NĐ-CP về tín dụng đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác, Thủ tướng Chính phủ đã ký Quyết định số 131/2002/QĐ-TTg về việc thành lập NHCSXH trên cơ sở tổ chức lại Ngân hàng Phục vụ người nghèo, tách khỏi NHNo&PTNT Việt Nam.

 

2. Hệ thống ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam

Ngân hàng chính sách xã hội Việt Nam có hệ thống giao dịch từ trung ương đến địa phương. Cơ cấu tổ chức gồm: trụ sở chính đặt tại Hà Nội, chỉ nhánh đặt tại các tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương. Hội đồng quản trị gồm có 12 thành viên, trong đó có 9 thành viên kiêm nhiệm, do Thống đốc Ngân hàng nhà nước Việt Nam làm Chủ tịch; 3 thành viên chuyên trách giữ chức Phó Chủ tịch thường trực, Tổng Giám đốc, Trưởng ban kiểm soát.

Hoạt động của Ngân hàng chính sách xã hội không vì mục đích lợi nhuận, được Nhà nước bảo đảm khả năng thanh toán, tỈ lệ dự trữ bắt buộc bằng 0% (không phần trăm), không phải tham gia bảo hiểm tiền gửi, được miễn thuế và các khoản phải nộp ngân sách nhà nước.

 

3. Các đối tượng được vay vốn của ngân hàng chính sách

– Cho vay hộ nghèo.

– Cho vay hộ cận nghèo.

– Cho vay hộ mới thoát nghèo.

– Cho vay học sinh, sinh viên.

– Cho vay đối tượng chính sách đi lao động nước ngoài.

– Cho vay nước sạch và vệ sinh môi trường nông thôn.

– Cho vay sản xuất kinh doanh vùng khó khăn.

– Cho vay thương nhân vùng khó khăn.

– Cho vay mua nhà trả chậm đồng bằng sông Cửu Long và Tây Nguyên.

– Cho vay hộ nghèo làm nhà ở.

– Cho vay hộ nghèo làm nhà ở tránh lũ.

– Cho vay hộ gia đình có người HIV, sau cai nghiện.

– Cho vay hỗ trợ đất sản xuất, chuyển đổi ngành nghề.

– Cho vay hỗ trợ trồng rừng, phát triển chăn nuôi.

– Cho vay hộ dân tộc thiểu số đặc biệt khó khăn.

– Cho vay hộ hộ dân tộc thiểu số vùng đồng bằng sống Cửu Long.

– Cho vay hỗ trợ đất sản xuất, chuyển đổi ngành nghề.

– Cho vay xuất khẩu lao động tại huyện nghèo.

– Các chương trình dự án vốn nước ngoài.

4. Mẫu đơn đề nghị vay vốn của ngân hàng chính sách

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc
———————–

 

GIẤY ĐỀ NGHỊ VAY VỐN KIÊM PHƯƠNG ÁN SỬ DỤNG VỐN VAY

Kính gửi: Ngân hàng Chính sách xã hội ………………..

1. Họ tên người vay: ………………………………….. Năm sinh: …………………………..

– Số CMND:………………………, ngày cấp: …./…./….., nơi cấp: ………………………..

– Địa chỉ cư trú: thôn ………………………….; xã …………………. Huyện ……………….

– Là thành viên Tổ TK&VV do ông (bà) …………………….. làm tổ trưởng.

– Thuộc tổ chức Hội: ………………………………………………… quản lý.

2. Họ tên người thừa kế: ………………………………… Năm sinh …….. Quan hệ với người vay.

Chúng tôi đề nghị NHCSXH cho vay số tiền: ………………….. đồng

(Bằng chữ ……………………………………………………………………………………………)

Để thực hiện phương án: ……………………………………………………………………….

Tổng nhu cầu vốn:………………………………………………….đồng. Trong đó:

 

+ Vốn tự có tham gia:……………………………………..đồng.

+ Vốn vay NHCSXH:…………………………………….đồng để dùng vào việc:

Đối tượng

………………………………….

………………………………….

………………………………….

Số lượng

…………………………….

…………………………….

…………………………….

Thành tiền

………………………………….

………………………………….

………………………………….

– Thời hạn xin vay: ……… tháng; Kỳ hạn trả nợ: …….. tháng/lần.

– Số tiền trả nợ: ……………đồng/lần. Hạn trả nợ cuối cùng: Ngày…./…../……

– Lãi suất cho vay: …………..%/tháng, lãi suất nợ quá hạn:……………..% lãi suất khi cho vay.

Lãi tiền vay được trả định kỳ hàng tháng, vào ngày ………………………………………

Chúng tôi cam kết: sử dụng vốn vay đúng mục đích, trả nợ gốc và lãi đầy đủ, đúng hạn. Nếu sai trái, tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật.

……, ngày…tháng…năm….
Tổ trưởng

Tổ TK&VV

(Ký, ghi rõ họ tên)

Người thừa kế

(Ký, ghi rõ họ tên)

Người vay

(Ký, ghi rõ họ tên hoặc điểm chỉ)

PHÊ DUYỆT CỦA NGÂN HÀNG

1. Số tiền cho vay: ……………. đồng (Bằng chữ: ……………………………………………..)

2. Lãi suất: ……… %/tháng. Lãi suất nợ quá hạn: ………… % lãi suất khi cho vay.

3. Thời hạn cho vay: …….. tháng. Hạn trả nợ cuối cùng: Ngày…../……/………

………., ngày…tháng…năm….
Cán bộ tín dụng

(Ký, ghi rõ họ tên)

Trưởng phòng

(Tổ trưởng) TD

(Ký, ghi rõ họ tên)

Giám đốc

(Ký tên, đóng dấu)

 

5. Lãi suất vay vốn tại ngân hàng chính sách ?

5.1 Lãi suất cho vay đối với người nghèo

Hiện nay, lãi suất cho vay đối với các đối tượng người nghèo rất ưu đãi. Nhằm giúp các hộ nghèo, hộ cận nghèo, hộ mới thoát nghèo hay HSSV khó khăn có điều kiện cải thiện cuộc sống, vươn lên thoát nghèo, học tập tốt góp phần thực hiện các chính sách của Đảng và Nhà nước về xóa đói, giảm nghèo, tăng nhận thức, đảm bảo an sinh xã hội…

Đối tượng cho vay Lãi suất cho vay
Hộ nghèo 6,6%/Năm
Hộ nghèo tại 64 huyện nghèo theo Nghị quyết 30a năm 2008 của Chính Phủ 3,3%/Năm
Hộ cận nghèo 7,92%/Năm
Hộ mới thoát nghèo 8,25%/Năm
HSSV có hoàn cảnh khó khăn 6,6%/Năm

 

5.2 Lãi suất vay dành cho các đối tượng hoàn cảnh khác

Bên cạnh những ưu đãi dành cho đối tượng người nghèo thì Ngân hàng Chính sách xã hội cũng đáp ứng được khả năng của các đối tượng muốn vay để giải quyết việc làm và đi lao động có thời hạn nước ngoài bằng mức lãi suất thấp. Cụ thể như sau:

Đối tượng cho vay Lãi suất cho vay
Các đối tượng cần vay vốn để giải quyết việc làm:
Người lao động là người dân tộc thiểu số đang sinh sống tại vùng có điều kiện KT – XH đặc biệt khó khăn, người khuyết tật. 3,3%/năm
Hộ gia đình vay vốn cho người lao động mà người lao động là người dân tộc thiểu số đang sinh sống tại vùng có điều kiện KT – XH đặc biệt khó khăn, người khuyết tật. 3,3%/năm
Cơ sở sản xuất kinh doanh sử dụng từ 30% tổng số lao động trở lên là người khuyết tật. 3,3%/năm
Cơ sở sản xuất kinh doanh sử dụng 30% tổng số lao động trở lên là người dân tộc thiểu số. 3,3%/năm
Cơ sở sản xuất kinh doanh sử dụng 30% tổng số lao động trở lên là người khuyết tật và người dân tộc thiểu số. 3,3%/năm
Các đối tượng khác 6,6%/năm
Các đối tượng đi lao động có thời hạn ở nước ngoài:
Người lao động là hộ nghèo và người dân tộc thiểu số thuộc 64 huyện nghèo theo Nghị quyết 30a năm 2008 của Chính Phủ. 3,3%/năm
Các đối tượng còn lại thuộc 64 huyện nghèo theo Nghị quyết 30a năm 2008 của Chính Phủ. 6,6%/năm
Cho vay xuất khẩu lao động 6,6%/năm

Nguồn: Luật Minh Khuê (sưu tầm & biên tập)

2021-10-28 / by / in
Các ngân hàng thương mại Tây Ninh cơ cấu lại nợ cho khách hàng

Các ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh Tây Ninh đã hỗ trợ doanh nghiệp và cá nhân vay vốn như cơ cấu lại nợ, miễn, giảm lãi suất cho vay và cho vay mới để phục hồi và phát triển sản xuất.

Để hỗ trợ khách hàng vượt qua khó khăn do ảnh hưởng dịch COVID-19 các ngân hàng thương mại trên địa bàn tỉnh Tây Ninh đã hỗ trợ doanh nghiệp và cá nhân vay vốn như cơ cấu lại nợ, miễn, giảm lãi suất cho vay và cho vay mới để phục hồi và phát triển sản xuất kinh doanh.

Tính đến 31/8/2021, các tổ chức tín dụng trên địa bàn đã thực hiện cơ cấu lại thời hạn trả nợ, miễn, giảm lãi vay và giữ nguyên nhóm nợ cho 899 khách hàng với tổng dư nợ gốc là 1.999 tỷ đồng và 119 tỷ đồng tiền lãi; trong đó, có 23 doanh nghiệp với tổng dư nợ gốc là 1.686 tỷ đồng và 115 tỷ đồng tiền lãi; cho vay mới với lãi suất thấp hơn lãi suất thông thường.

Đến nay, doanh số cho vay của các tổ chức tính dụng trong tỉnh đạt 31.370 tỷ đồng; trong đó, doanh nghiệp vay 22.787 tỷ đồng. Dư nợ cho vay mới đến tháng 8/2021 là 8.277 tỷ đồng với 3.534 khách hàng; trong đó, có 234 doanh nghiệp với dư nợ 5.507 tỷ đồng.

Riêng Ngân hàng Chính sách xã hội tỉnh đã cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ cho 147.144 khách hàng với tổng dư nợ gốc được cơ cấu là 585 tỷ đồng.

Dư nợ cho vay đối với người sử dụng lao động vay để trả lương ngừng việc theo Nghị quyết số 68/NQ-CP của Chính phủ đến cuối tháng 8/2021 là 901 triệu đồng cho 1 doanh nghiệp với 112 lao động.

Hiện tất cả các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh đã thực hiện miễn, giảm phí dịch vụ cho khách hàng.

Về việc giảm lãi vay đối với dư nợ hiện hữu cho khách hàng ảnh hưởng bởi dịch COVID-19 theo chỉ đạo của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam và đồng thuận trong Hiệp hội Ngân hàng, đến cuối tháng 8/2021, các ngân hàng thương mại trên địa bàn đã giảm lãi vay cho 85.100 khách hàng với tổng dư nợ 31.430 tỷ đồng, số tiền lãi được giảm 81 tỷ đồng.

Nguồn vốn này đã giúp người dân và doanh nghiệp vượt qua khó khăn do dịch COVID-19, từng bước tái sản xuất, kinh doanh, ổn định tình hình kinh tế – xã hội.

Ðể việc tổ chức thực hiện chính sách hỗ trợ của ngành trên địa bàn được triển khai hiệu quả, đúng quy định, Ngân hàng Nhà nước chi nhánh tỉnh đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến chính sách đến người dân và doanh nghiệp; đồng thời, chỉ đạo các tổ chức tín dụng phổ biến đầy đủ chính sách đến tất cả khách hàng, để khách hàng biết và tiếp cận.

Cùng với đó, Ngân hàng Nhà nước tỉnh Tây Ninh sẽ thường xuyên phối hợp với Hội Doanh nghiệp, Hội Doanh nhân trẻ Tây Ninh để trao đổi, nắm bắt thông tin về việc tiếp cận chính sách hỗ trợ của ngành, kịp thời xử lý, giải quyết những khó khăn, vướng mắc trong trong quá trình cho vay, tiếp cận khách hàng.

Nguồn: Bnews.vn

2021-10-28 / by / in
Các tiêu chí đánh giá năng lực cạnh tranh của ngân hàng thương mại

1. Năng lực tài chính:

Năng lực tài chính của ngân hàng thương mại được thể hiện qua các yếu tố sau:

– Vốn tự có:

Về mặt lý thuyết, vốn điều lệ và vốn tự có đang đóng vai trò rất quan trọng trong hoạt động ngân hàng. Vốn điều lệ cao sẽ giúp ngân hàng tạo được uy tín trên thị trường và tạo lòng tin nơi công chúng. Vốn tự có thấp đồng nghĩa với sức mạnh tài chính yếu và khả năng chống đỡ rủi ro của ngân hàng thấp. Theo qui định của Ủy ban Bassel, vốn tự có của NHTM phải đạt tối thiểu 8% trên tổng tài sản có rủi ro chuyển đổi của ngân hàng đó. Đó là điều kiện đảm bảo an toàn cho hoạt động kinh doanh của ngân hàng.

– Qui mô và khả năng huy động vốn:

Khả năng huy động vốn là một trong những tiêu chí đánh giá tình hình hoạt động kinh doanh của các ngân hàng. Khả năng huy động vốn còn thể hiện tính hiệu qủa, năng lực và uy tín của ngân hàng đó trên thị trường. Khả năng huy động vốn tốt cũng có nghĩa là ngân hàng đó sử dụng các sản phẩm dịch vụ, hay công cụ huy động vốn có hiệu quả, thu hút được khách hàng.

– Khả năng thanh khỏan:

Theo chuẩn mực quốc tế, khả năng thanh toán của ngân hàng thể hiện qua tỷ lệ giữa tài sản “có” có thể thanh toán ngay và tài sản “Nợ” phải thanh toán ngay. Chỉ tiêu này đo lường khả năng ngân hàng có thể đáp ứng được nhu cầu tiền mặt của người tiêu dùng. Khi nhu cầu về tiền mặt của người gửi tiền bị giới hạn, thì uy tín của ngân hàng đó bị giảm một cách đáng kể, kết quả là NHTM đó sẽ bị phá sản nếu để điều này xảy ra.

– Khả năng sinh lời:

Khả năng sinh lời là thước đo đánh giá tình hình kinh doanh của NHTM. Mức sinh lời được phân tích qua các thông số sau:

ROE = Thu nhập sau thuế/Vốn chủ sở hữu

(tỷ lệ thu nhập trên vốn tự có- return on equity)

ROE: thể hiện tỷ lệ thu nhập của một đồng vốn chủ sở hữu

ROA = Thu nhập sau thuế / Tổng tài sản

(tỷ lệ thu nhập trên tổng tài sản- return on assets)

ROA: thể hiện khả năng sinh lời trên tổng tài sản- đánh giá công tác quản lý của ngân hàng, cho thấy khả năng chuyển đổi tài sản của ngân hàng thành thu nhập ròng.

– Mức độ rủi ro:

Mức độ rủi ro của ngân hàng thường đựơc đo lường bằng 2 chỉ tiêu cơ bản sau:

Hệ số an toàn vốn (CAR: capital adequacy ratio) Hệ số CAR chính là tỷ lệ giữa vốn chủ sở hữu trên tổng tài sản có rủi ro chuyển đổi (theo Ủy ban giám sát tín dụng Basel). Theo chuẩn quốc tế thì CAR tối thiểu phải đạt 8%. Tỷ lệ này càng cao cho thấy khả năng tài chính của ngân hàng càng mạnh, càng tạo đựơc uy tín, sự tin cậy của khách hàng với ngân hàng càng lớn.

Chất lựơng tín dụng thể hiện chủ yếu thông qua tỷ lệ nợ quá hạn/ tổng nợ. Nếu tỷ lệ này chấp cho thấy chất lượng tín dụng của NHTM đó tốt, tình hình tài chính của ngân hàng đó lành mạnh và ngược lại thì tình hình tài chính của NHTM đó cần được quan tâm.

2. Tính đa dạng của sản phẩm dịch vụ

Với đặc tính riêng của ngành ngân hàng là các sản phẩm dịch vụ hầu như không có sự khác biệt thì các NHTM phát huy khả năng cạnh tranh của mình không chỉ bằng những sản phẩm cơ bản mà còn thể hiện ở tính độc đáo, sự đa dạng của sản phẩm dịch vụ của mình.
Một ngân hàng mà có thể tạo ra sự khác biệt riêng cho từng loại sản phẩm của mình trên cơ sở những sản phẩm truyền thống sẽ làm cho danh mục sản phẩm của mình trở nên đa dạng hơn, điều này sẽ đáp ứng được hầu hết các nhu cầu cầu khác nhau của khách hàng khác nhau, từ đó dễ dàng chiếm lĩnh thị phần và làm tăng sức mạnh cạnh tranh của ngân hàng.

Ngòai ra, các NHTM còn sử dụng các sản phẩm dịch vụ bổ trợ khác để thu hút khách hàng, tạo thu nhập cho ngân hàng như cung cấp sao kê định kỳ, tư vấn tài chính….

3. Nguồn nhân lực:

Trong một doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ như NHTM thì yếu tố con người có vai trò quan trọng trong việc thể hiện chất lượng của dịch vụ. Đội ngũ nhân viên của ngân hàng chính là người trực tiếp đem lại cho khách hàng những cảm nhận về ngân hàng và sản phẩm dịch vụ của ngân hàng, đồng thời tạo niềm tin của khách hàng đối với ngân hàng. Đó chính là những đòi hỏi quan trọng đối với đội ngũ nhân viên ngân hàng, từ đó giúp ngân hàng chiếm giữ thị phần cũng như tăng hiệu quả kinh doanh để nâng cao năng lực cạnh tranh của mình.

Năng lực cạnh tranh về nguồn nhân lực của các NHTM phải được xem xét

* Về số lượng lao động:

Để có thể mở rộng mạng lưới nhằm tăng thị phần và phục vụ tốt khách hàng, các NHTM nhất định phải có lực lượng lao động đủ về số lượng. Tuy nhiên cũng cần so sánh chỉ tiêu này trong mối tương quan với hệ thống mạng lưới và hiệu quả kinh doanh để nhìn nhận năng suất lao động của người lao động trong ngân hàng.

* Về chất lượng lao động:

Chất lượng nguồn nhân lực trong ngân hàng thể hiện qua các tiêu chí:

– Trình độ văn hóa của đội ngũ lao động: bao gồm trình độ học vấn và các kỹ năng hỗ trợ như ngoại ngữ, tin học, khả năng giao tiếp, thuyết trình, ra quyết định, giải quyết vấn đề, … Tiêu chí này khá quan trọng vì nó là nền tảng thể hiện khả năng của người lao động trong ngân hàng có thể học hỏi, nắm bắt công việc để thực hiện tốt kỹ năng nghiệp vụ.

– Kỹ năng quản trị đối với nhà điều hành; trình độ chuyên môn nghiệp vụ và kỹ năng thực hiện nghiệp vụ đối với nhân viên: đây là tiêu chí quan trọng quyết định đến chất lượng dịch vụ mà ngân hàng cung cấp cho khách hàng. NHTM cần một đội ngũ những nhà điều hành giỏi để giúp bộ máy vận hành hiệu quả và một đội ngũ nhân viên với kỹ năng nghiệp vụ cao, có khả năng tư vấn cho khách hàng để tạo được lòng tin với khách hàng và ấn tượng tốt về ngân hàng. Đây là những yếu tố then chốt giúp ngân hàng cạnh tranh giành khách hàng. Như vậy, chất lượng nguồn nhân lực có vai trò quan trọng và quyết định đối với năng lực cạnh tranh của một NHTM. Chất lượng nguồn nhân lực là kết quả của sự cạnh tranh trong quá khứ đồng thời lại chính là năng năng lực cạnh tranh của ngân hàng trong tương lai. Có một đội ngũ cán bộ thừa hành và nhân viên giỏi, có khả năng sáng tạo và thực thi chiến lược sẽ giúp ngân hàng hoạt động ổn định và bền vững. Có thể khẳng định nguồn nhân lực đủ về số lượng và đầy về chất lượng là một biểu hiện năng lực cạnh tranh cao của NHTM.

4. Năng lực công nghệ:

Trong lĩnh vực ngân hàng thì việc áp dụng công nghệ là một trong những yếu tố tạo nên sức mạnh gia tăng năng lực cạnh tranh của các NHTM. Để năng cao chất lượng sản phẩm dịch vụ nhằm đáp ứng mọi yêu cầu của khách hàng thì nhu cầu công nghệ là vô đáo và tiện ích hơn, nó giúp các NHTM . Ngày nay, các NHTM đang triển khai phát triển những sản phẩm ứng dụng công nghệ cao, và sử dụng các sản phẩm dịch mang tính chất công nghệ làm thước đo cho sự cạnh tranh, đặc biệt là trong lĩnh vực thanh toán và các sản phẩm dịch vụ điện tử khác.

Trong diễn đàn quốc tế “banking vietnam” khẳng định việc sử dụng công nghệ thông tin là công cụ chính để khẳng định năng lực cạnh tranh của các NHTM, sự phát triển các sản phẩm dịch vụ E-banking là xu hướng thời thượng, công nghệ là yếu tố tạo nên sự khác biệt giữa các NHTM trong kinh doanh.

5. Năng lực quản trị điều hành ngân hàng:

Một yếu tố quan trọng quyết định đến sự thành bại trong hoạt động kinh doanh của bất kỳ doanh nghiệp nào là vai trò của những người lãnh đạo doanh nghiệp, những quyết định của họ có tầm ảnh hưởng đến toàn bộ hoạt động của doanh nghiệp.

Năng lực quản trị, kiểm soát và điều hành của nhà lãnh đạo trong ngân hàng có vai trò rất quan trọng trong việc đảm bảo tính hiệu quả, an toàn trong hoạt động ngân hàng. Tầm nhìn của nhà lãnh đạo là yếu tố then chốt để ngân hàng có một chiến lược kinh doanh đúng đắn trong dài hạn. Thông thường đánh giá năng lực quản trị, kiểm soát, điều hành của một ngân hàng người ta xem xét đánh giá các chuẩn mực và các chiến lược mà ngân hàng xây dựng cho hoạt động của mình. Hiệu quả hoạt động cao, có sự tăng trưởng theo thời gian và khả năng vượt qua những bất trắc là bằng chứng cho năng lực quản trị cao của ngân hàng.

Một số tiêu chí thể hiện năng lực quản trị của ngân hàng là:

– Chiến lược kinh doanh của ngân hàng: bao gồm chiến lược marketing (xây dựng uy tín, thương hiệu), phân khúc thị trường, phát triển sản phẩm dịch vụ, ..

– Cơ cấu tổ chức và khả năng áp dụng phương thức quản trị ngân hàng hiệu quả.

– Sự tăng trưởng trong kết quả hoạt động kinh doanh của ngân hàng.

6. Danh tiếng, uy tín và khả năng hợp tác:

Hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng luôn gắn liền với yếu tố uy tín của NHTM đó, tâm lý của người tiêu dùng luôn là yếu tố quyết định đến sự sống còn đến hoạt động của NHTM với hiệu ứng dây chuyền do tâm lý của người tiêu dùng mang lại.

Vì thế, danh tiếng và uy tín của NHTM là yếu tố nội lực vô cùng to lớn, nó quyết định sự thành công hay thất bại cho ngân hàng đó trên thương trường. Việc gia tăng thị phần, mở rộng mạng lưới hoạt động, tăng thu nhập phụ thuộc rất nhiều vào uy tín của NHTM.
Tuy nhiên, uy tín của NHTM chỉ được tạo lập sau một khoảng thời gian khá dài thông qua hình thức sở hữu, đội ngũ nhân viên, việc ứng dụng các sản phẩm mang tính công nghệ cao, việc đáp ứng đầy đủ và thỏa đáng các nhu cầu của người tiêu dùng. Vì vậy, để tạo được uy tín và danh tiếng trên thương trường, các NHTM phải nổ lực và luôn luôn cải biến sản phẩm dịch vụ để đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của khách hàng.

Ngày nay, ngòai danh tiếng và uy tín của mình, các NHTM còn phải thể hiện được sự liên kết lẫn nhau trong hoạt động kinh doanh của mình, sự kiện một NHTM hợp tác với một TCTD có uy tín và danh tiếng khác trên thương trường, hoặc sự hợp tác chiến lượt giữa các ngân hàng hay tổ chức tài chính, tập đoàn kinh tế lớn nào cũng góp phần năng cao sự mạnh cạnh tranh của NHTM đó trên thương trường.

Nguồn: luânntiensi

2021-10-28 / by / in
Các yếu tố đánh giá năng lực tài chính của ngân hàng thương mại

Mặc dù vốn là yếu tố cơ bản để đánh giá về mặt tài chính của ngân hàng, nhưng ngoài yếu tố vốn ta cần phải tính đến hàng loạt các yếu tố khác như: thanh khoản của ngân hàng, cấu trúc rủi ro tích sản, tính chất biến động của các loại tiền gởi và chất lượng quản lý ngân hàng.

Theo quan điểm của Mỹ và một số nước phương Tây, muốn đánh giá một ngân hàng người ta sử dụng 5 chỉ tiêu:

  Chỉ tiêu   Ghi chú
  Tỉ lệ vốn   Các tỉ số về vốn (Vốn chủ sở hữu/Tổng Tài sản, Vốn chủ sở hữu/Tài sản có …)
  Chất lượng tài sản có   Chất lượng tín dụng và các khoản đầu tư
  Tiền lãi   Các tỉ số về thu nhập
  Thanh khoản   Tính thanh khoản trên tài sản, trên cổ phiếu ….
  Chất lượng quản lý   Đội ngũ quản lý, nhân viên, mạng lưới, công nghệ…

Các cơ quan ngân hàng căn cứ vào các tiêu chuẩn trên để chấm điểm và phân loại ngân hàng tốt, khá, yếu…

ĐỐI VỚI TÀI SẢN CÓ

Trong quản lý tài sản, có một mặc định rằng Ngân hàng thương mại phải tôn trọng các tỷ lệ dự trữ bắt buộc, mặc khác phải tránh các rủi ro để tồn tại và kinh doanh có lãi.

Trong cơ chế thị trường các ngân hàng hoạt động trong môi trường đầy rủi ro và không chắc chắn, cũng như lãi suất tương lai và giá cả các loại chứng khoán sẽ ra sao là những điều khó lường trước. Vì thế, những nhà quản lý ngân hàng phải có tầm nhìn xa hơn những lý do kiếm lời đơn thuần.

Để duy trì khả năng thanh toán, một mặt, Ngân hàng thương mại phải đảm bảo toàn bộ giá trị tài sản có phải lớn hơn các khoản nợ phải thanh toán ở mọi thời điểm. Có  trường hợp một ngân hàng có đủ khả năng trừ nợ nhưng lại thiếu thanh khoản để trang trải các nợ tức thời, cũng coi như ngân hàng đó thiếu khả năng thanh toán và có nguy cơ dẫn đến phá sản.

Trong kinh doanh, muốn đứng vững và cạnh tranh được thì ngân hàng phải giữ rủi ro trong giới hạn nhất định, phải đẫm bảo thanh khoản theo mức độ cần thiết trong kết cấu tài sản có và mức độ sinh lãi có thể chấp nhận được. Nếu quá chú trọng đến yếu tố này hoặc yếu tố khác thì sẽ ảnh hưởng tiêu cực đến kết quả kinh doanh.

Khi quản lý kết cấu tài sản có, các ngân hàng thường tính toán và sắp xếp thứ tự ưu tiên như sau:

Dự trữ thứ cấp: bao gồm các loại chứng khoán có khả năng chuyển thành tiền dể dàng như: trái phiếu kho bạc, giấy chấp nhận trả tiền của ngân hàng… Dự trữ thứ cấp được dùng để hổ trợ cho dự trữ sơ cấp về các nhu cầu rút tiền, thanh toán giữa các ngân hàng và vay mượn của khách hàng đã được dự kiến trước.

Dự trữ sơ cấp: là các khoản mục về ngân quỹ tiền mặt, tiền gởi ở Ngân hàng Trung ương, tiền gởi các ngân hàng khác. Các khoản dự trữ này được sử dụng để dự trữ theo quy định của Ngân hàng Trung ương và đáp ứng nhu cầu bất thường về tiền mặt cho khách hàng hoặc để thực hiện các khoản thanh toán cho ngân hàng khác trong việc thanh toán giữa các ngân hàng.

ĐỐI VỚI TÀI SẢN NỢ

Ngày nay các nhà ngân hàng đã bắt đầu quan tâm nhiều đến tài sản nợ và coi việc quản lý tài sản nợ như là một yếu tố để nâng cao hiệu quả quản lý, cũng như tăng nguồn bổ sung đối với khả năng thanh toán của ngân hàng.

Quản lý tài sản nợ tức là sử dụng các nghiệp vụ bên nợ của bảng tổng kết tài sản để mở rộng các quỹ nhằm đáp ứng nhu cầu thanh toán như bù đắp các khoản dự trữ, hoặc điều tiết những nhu cầu mới về tín dụng. Như vậy, việc quản lý tài sản nợ là việc thu hút nhanh chóng các khoản tiền tệ trên thị trường để tạo khả năng thanh toán

Kỹ thuật quản lý tài sản nợ là nhằm khai thác các nguồn bổ sung quan trọng về khả năng thanh toán của ngân hàng. Tuy nhiên, việc quản lý này chỉ là bổ sung, chứ nó không thay thế cho việc quản lý cho tài sản có. Nếu như chú trọng quá đến việc khai thác các nguồn bổ sung mà xem thường các khoản dự trữ thuộc tài sản có sẽ có hậu quả xấu trong hoạt động của ngân hàng, có thể dẩn đến khủng hoảng trầm trọng.

Nguồn: Sưu tầm

2021-10-28 / by / in
Ngân hàng bán buôn là gì? Giải đáp các thắc mắc về ngân hàng bán buôn

Ngân hàng bán buôn là gì? 

Khái niệm ngân hàng bán buôn ít khi được nhắc đến trong từ điển ngôn ngữ Việt Nam. Bởi lẽ, đây không phải là tên gọi chính thức của nhóm ngân hàng cụ thể nào đó mà chỉ đơn giản là một loại hình dịch vụ. Bản chất của loại hình dịch vụ này là hoạt động giao dịch tín dụng giữa các ngân hàng thương mại và tổ chức tài chính.

Dịch vụ ngân hàng được cho là “bán buôn” chỉ khi đối tượng giao dịch là các ngân hàng thương mại, tập đoàn tài chính lớn mạnh, các cơ quan Chính phủ Nhà nước, các quỹ hưu trí, quỹ phúc lợi,… Họ phải là những đơn vị hành chính sự nghiệp có quy mô, sức ảnh hưởng và có nhu cầu trong việc tài trợ thiết bị, cho vay quy mô lớn, tài trợ thiết bị, uỷ thác và các dịch vụ khác.

Ngân hàng bán buôn là ngân hàng chuyên doanh hay không?

Để trả lời câu hỏi, trước hết chúng ta cần hiểu khái niệm “chuyên doanh”.

Theo từ điển Kinh tế học – Đại học Kinh tế Quốc dân, Ngân hàng chuyên doanh (merchant bank) là định chế tài chính chuyên môn hóa vào việc tư vấn cho các công ty khách hàng về vấn đề phát hành cổ phiếu, trái phiếu mới, bảo lãnh, tư vấn cho các công ty về sáp nhập, thôn tính và thực hiện nhiều chức năng ngân hàng cho các công ty lớn.

Hầu hết các ngân hàng bán buôn tại Việt Nam hiện nay đều cung cấp các dịch vụ này. Tuy nhiên, về tính chuyên môn hoá thì lại có sự khác biệt ở từng đơn vị khác nhau. Vì vậy, câu hỏi này sẽ đúng với những ngân hàng chỉ chuyên về dịch vụ bán buôn, sai với những đơn vị đa dạng hoá cả hoạt động bán buôn và bán lẻ.

Ngân hàng bán buôn có gì khác với ngân hàng bán lẻ?

Như đã nói ở khái niệm ngân hàng bán buôn là gì, đối tượng của ngân hàng bán buôn là các tổ chức giao dịch lớn, cùng thực hiện dịch vụ trao đổi quy mô lớn. Trong khi đó, ngân hàng bán lẻ lại tập trung phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ với đối tượng là cá nhân hay tổ chức nhỏ lẻ. Đây cũng chính là khác biệt cơ bản giữa hai loại hình ngân hàng này.

Ngân hàng bán buôn có gì khác với ngân hàng bán lẻ?

Bên cạnh nhóm đối tượng mục tiêu tách biệt thì danh mục sản phẩm cung ứng của ngân hàng bán buôn và ngân hàng bán lẻ cũng có sự khác nhau. Cụ thể, ngân hàng bán lẻ cung cấp dịch vụ điển hình là tín dụng, ATM, ghi nợ, tiết kiệm, thế chấp. Ngân hàng bán buôn ngoài các loại hình cơ bản trên còn phục vụ các dịch vụ đặc biệt như tài trợ quỹ lương/ quỹ hưu trí, cho vay ngân hàng thương mại khác hay quản lý tiền mặt.

Danh sách ngân hàng bán buôn tại Việt Nam

Tại Việt Nam, hình thức ngân hàng bán buôn vẫn còn khá ít được biết đến. Song, thực tế các “ông lớn” trong ngành hiện nay đều sở hữu loại hình dịch vụ bán buôn. Tiêu biểu nhất trong số đó phải kể đến:

  • Ngân hàng TMCP Ngoại Thương Vietcombank
  • Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông Thôn Agribank
  • Ngân hàng TMCP Công Thương Vietinbank
  • Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam BIDV
  • Ngân hàng TMCP Quân đội MBBank
  • Ngân hàng TMCP kỹ thương Techcombank
  • Ngân hàng TMCP Á Châu

Trong cuộc chiến bán buôn, các ngân hàng trực thuộc nhà nước luôn chiếm nhiều ưu thế nhờ tận dụng được nguồn vốn giá rẻ. Khối đơn vị này luôn có lãi suất cho vay thấp hơn các ngân hàng thương mại cổ phần khác (tận dụng từ nguồn vốn giá rẻ từ các đối tác lớn). Ngoài ra, ngân hàng nhà nước cũng có sức cạnh tranh mạnh hơn trong nguồn tiền gửi từ dân cư. Tuy nhiên, bên cạnh các đơn vị “kinh doanh dòng tiền” thuộc sở hữu Nhà nước, cũng có không ít đơn vị tư nhân có sức cạnh tranh mạnh trong bán buôn mà Techcombank là một dẫn chứng tiêu biểu. Với khởi điểm là một ngân hàng bán lẻ chuyên phục vụ khách hàng cá nhân, Techcombank đã phát triển khối bán buôn vào năm 2012 và đến nay đã trở thành một trong những ngân hàng lớn nhất cả nước.

Ngân hàng bán buôn là ngân hàng không chi nhánh?

Hoàn toàn sai khi nhận định định ngân hàng bán buôn không có chi nhánh. Hầu hết các ngân hàng bán buôn tại Việt Nam hiện nay đều có chi nhánh rộng khắp tỉnh thành. Việc sở hữu nhiều chi nhánh giúp các ngân hàng hiện thực tốt hơn mục tiêu cung cấp dịch vụ khách hàng cá nhân và cả khách hàng tổ chức. Điểm cung cấp dịch vụ của các ngân hàng bán buôn trải dọc khắp tỉnh thành và tập trung nhiều hơn ở các thành phố lớn như Hà Nội, thành phố Hồ Chí Minh, Hải Phòng, Quảng Ninh,… Đặc điểm chung của những khu vực này là có lượng dân cư lớn, khối doanh nghiệp nhiều, dẫn đến lượng cầu cao.

Nguồn: jobsgo

2021-10-28 / by / in
Điều kiện để thành lập ngân hàng thương mại cổ phần tại Việt Nam

1. Giấy phép thành lập và hoạt động Ngân hàng thương mại cổ phần

1.1. Có vốn điều lệ, vốn được cấp tối thiểu bằng mức vốn pháp định là 3.000 tỷ đồng

1.2. Cổ đông sáng lập là pháp nhân đang hoạt động hợp pháp và có đủ năng lực tài chính để tham gia góp vốn; cổ đông sáng lập là cá nhân có năng lực hành vi dân sự đầy đủ và có đủ khả năng tài chính để góp vốn

Điều kiện đối với chủ sở hữu của tổ chức tín dụng là cổ đông sáng lập do Ngân hàng Nhà nước quy định

1.3. Người quản lý, người điều hành, thành viên Ban kiểm soát có đủ các tiêu chuẩn, điều kiện theo quy định:

1.3.1. Thành viên Hội đồng quản trị, thành viên Hội đồng thành viên phải có đủ các tiêu chuẩn, điều kiện sau đây:

– Không thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 33 của Luật các tổ chức tín dụng

– Có đạo đức nghề nghiệp

– Là cá nhân sở hữu hoặc người được ủy quyền đại diện sở hữu ít nhất 5% vốn điều lệ của tổ chức tín dụng, trừ trường hợp là thành viên Hội đồng thành viên, thành viên độc lập của Hội đồng quản trị hoặc có bằng đại học trở lên về một trong các ngành kinh tế, quản trị kinh doanh, luật hoặc có ít nhất 03 năm là người quản lý của tổ chức tín dụng hoặc doanh nghiệp hoạt động trong ngành bảo hiểm, chứng khoán, kế toán, kiểm toán hoặc có ít nhất 05 năm làm việc trực tiếp tại các bộ phận nghiệp vụ trong lĩnh vực ngân hàng, tài chính, kiểm toán hoặc kế toán.

Thành viên độc lập của Hội đồng quản trị phải có đủ các tiêu chuẩn, điều kiện quy định tại mục 1.3.1 nêu trên và các tiêu chuẩn, điều kiện sau đây:

– Không phải là người đang làm việc cho chính tổ chức tín dụng hoặc công ty con của tổ chức tín dụng đó hoặc đã làm việc cho chính tổ chức tín dụng hoặc công ty con của tổ chức tín dụng đó trong 03 năm liền kề trước đó

– Không phải là người hưởng lương, thù lao thường xuyên của tổ chức tín dụng ngoài những khoản phụ cấp của thành viên Hội đồng quản trị được hưởng theo quy định

– Không phải là người có vợ, chồng, cha, mẹ, con, anh, chị, em và vợ, chồng của những người này là cổ đông lớn của tổ chức tín dụng, người quản lý hoặc thành viên Ban kiểm soát của tổ chức tín dụng hoặc công ty con của tổ chức tín dụng;

– Không trực tiếp, gián tiếp sở hữu hoặc đại diện sở hữu từ 1% vốn điều lệ hoặc vốn cổ phần có quyền biểu quyết trở lên của tổ chức tín dụng; không cùng người có liên quan sở hữu từ 5% vốn điều lệ hoặc vốn cổ phần có quyền biểu quyết trở lên của tổ chức tín dụng;

– Không phải là người quản lý, thành viên Ban kiểm soát của tổ chức tín dụng tại bất kỳ thời điểm nào trong 05 năm liền kề trước đó.

Thành viên Ban kiểm soát phải có đủ các tiêu chuẩn, điều kiện sau đây:

– Không thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 33 của Luật các tổ chức tín dụng

– Có đạo đức nghề nghiệp;

– Có bằng đại học trở lên về một trong các ngành kinh tế, quản trị kinh doanh, luật, kế toán, kiểm toán; có ít nhất 03 năm làm việc trực tiếp trong lĩnh vực ngân hàng, tài chính, kế toán hoặc kiểm toán; nhiệm

– Không phải là người có liên quan của người quản lý tổ chức tín dụng

– Thành viên Ban kiểm soát chuyên trách phải cư trú tại Việt Nam trong thời gian đương nhiệm

Tổng giám đốc (Giám đốc) phải có đủ các tiêu chuẩn, điều kiện sau đây:

– Không thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 33 của Luật các tổ chức tín dụng

– Có đạo đức nghề nghiệp;

– Có bằng đại học trở lên về một trong các ngành kinh tế, quản trị kinh doanh, luật

– Có ít nhất 05 năm làm người điều hành của tổ chức tín dụng hoặc có ít nhất 05 năm làm

Tổng giám đốc (Giám đốc), Phó Tổng giám đốc (Phó giám đốc) doanh nghiệp có vốn chủ sở hữu tối thiểu bằng mức vốn pháp định đối với từng loại hình tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật hoặc có ít nhất 10 năm làm việc trực tiếp trong lĩnh vực tài chính, ngân hàng, kế toán hoặc kiểm toán;

– Cư trú tại Việt Nam trong thời gian đương nhiệm

Phó Tổng giám đốc (Phó giám đốc), Kế toán trưởng, Giám đốc Chi nhánh, Giám đốc công ty con và các chức danh tương đương phải có đủ các tiêu chuẩn, điều kiện sau đây:
  • Không thuộc đối tượng quy định tại khoản 2 Điều 33 của Luật các tổ chức tín dụng; đối với Phó Tổng giám đốc (Phó giám đốc) không thuộc đối tượng quy định tại khoản 1 Điều 33 của Luật các tổ chức tín dụng
  • Có bằng đại học trở lên về một trong các ngành kinh tế, quản trị kinh doanh, luật hoặc lĩnh vực chuyên môn mà mình sẽ đảm nhiệm; hoặc có bằng đại học trở lên ngoài các ngành, lĩnh vực nêu trên và có ít nhất 03 năm làm việc trực tiếp trong lĩnh vực ngân hàng, tài chính hoặc lĩnh vực chuyên môn mà mình sẽ đảm nhiệm;
  • Cư trú tại Việt Nam trong thời gian đương nhiệm.

Có Điều lệ phù hợp với quy định

Có Đề án thành lập, phương án kinh doanh khả thi, không gây ảnh hưởng đến sự an toàn, ổn định của hệ thống tổ chức tín dụng; không tạo ra sự độc quyền hoặc hạn chế cạnh tranh hoặc cạnh tranh không lành mạnh trong hệ thống tổ chức tín dụng.

Điều kiện đối với cổ đông sáng lập

Chịu hoàn toàn trách nhiệm về tính hợp pháp của nguồn vốn góp

Cam kết hỗ trợ ngân hàng thương mại cổ phần về tài chính để giải quyết khó khăn trong trường hợp ngân hàng thương mại cổ phần khó khăn về vốn hoặc khả năng thanh khoản

Không phải là cổ đông sáng lập, chủ sở hữu, thành viên sáng lập, cổ đông chiến lược của tổ chức tín dụng khác

Có tối thiểu 02 cổ đông sáng lập là tổ chức;

Trong thời hạn 05 năm kể từ ngày được cấp Giấy phép, các cổ đông sáng lập phải cùng nhau sở hữu tối thiểu 50% vốn điều lệ khi thành lập ngân hàng thương mại cổ phần, trong đó các cổ đông sáng lập là tổ chức phải cùng nhau sở hữu tối thiểu 50% tổng số cổ phần của các cổ đông sáng lập;

Ngoài các điều kiện quy định tại mục 1.6.1, 1.6.2, 1.6.3, 1.6.5 nêu trên, cổ đông sáng lập là cá nhân phải đáp ứng các điều kiện sau:

  • Mang quốc tịch Việt Nam, có năng lực hành vi dân sự đầy đủ theo quy định của pháp luật
  • Không thuộc những đối tượng bị cấm theo quy định của Luật Doanh nghiệp
  • Có khả năng về tài chính để góp vốn thành lập ngân hàng thương mại cổ phần; không được dùng vốn ủy thác, vốn vay của các tổ chức, cá nhân khác để góp vốn
  • Là người quản lý doanh nghiệp kinh doanh có lãi trong ít nhất 03 năm liền kề năm nộp hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép hoặc có bằng đại học, trên đại học chuyên ngành kinh tế hoặc luật
Ngoài các điều kiện quy định tại mục 1.6.1, 1.6.2, 1.6.3, 1.6.5 nêu trên, cổ đông sáng lập là tổ chức phải đáp ứng các điều kiện sau:
  • Được thành lập theo pháp luật Việt Nam
  • Có khả năng về tài chính để góp vốn thành lập ngân hàng thương mại cổ phần và cam kết không được dùng vốn ủy thác, vốn huy động, vốn vay, của các tổ chức, cá nhân khác để góp vốn
  • Thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ về thuế và bảo hiểm xã hội theo quy định đến thời điểm nộp hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép
  • Có vốn chủ sở hữu tối thiểu 500 tỷ đồng trong 05 năm liền kề năm nộp hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép
  • Kinh doanh có lãi trong 05 năm liền kề năm nộp hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép
  • Trường hợp là doanh nghiệp hoạt động trong ngành nghề kinh doanh có yêu cầu vốn pháp định, phải đảm bảo vốn chủ sở hữu trừ đi vốn pháp định tối thiểu bằng số vốn góp cam kết theo số liệu từ báo cáo tài chính đã được kiểm toán của năm liền kề thời điểm gửi hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép;
  • Trường hợp là doanh nghiệp Nhà nước, phải được cấp có thẩm quyền chấp thuận bằng văn bản cho phép tham gia góp vốn thành lập ngân hàng thương mại cổ phần theo quy định của pháp luật
  • Trường hợp là tổ chức được cấp Giấy phép thành lập và hoạt động trong lĩnh vực ngân hàng, chứng khoán, bảo hiểm phải tuân thủ việc góp vốn theo các quy định liên quan của pháp luật
Trường hợp là ngân hàng thương mại:
  • Có tổng tài sản tối thiểu là 100.000 tỷ đồng, tuân thủ đầy đủ các quy định về quản trị rủi ro và trích lập dự phòng đầy đủ theo quy định tại thời điểm nộp hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép và đến thời điểm cấp Giấy phép
  • Không vi phạm các tỷ lệ về đảm bảo an toàn trong hoạt động ngân hàng theo quy định của Ngân hàng Nhà nước trong năm liền kề năm nộp hồ sơ đề nghị cấp Giấy phép và đến thời điểm cấp Giấy phép
  • Tuân thủ điều kiện, giới hạn mua, nắm giữ cổ phiếu của tổ chức tín dụng theo quy định tại khoản 6 Điều 103 Luật các tổ chức tín dụng
  • Đảm bảo tỷ lệ an toàn vốn tối thiểu và đáp ứng đầy đủ điều kiện sau khi góp vốn thành lập ngân hàng thương mại cổ phần

Văn bản quy phạm pháp luật

  • Khoản 9 Điều 4 Luật Ngân hàng Nhà nước Việt Nam số 46/2010/QH12
  • Điều 18, 20, 21 và 50 Luật Các tổ chức tín dụng số 47/2010/QH12
  • Nghị định số 141/2006/NĐ-CP
  • Nghị định số 10/2011/NĐ-CP
  • Điều 9 Mục 2 Chương II Thông tư số 40/2011/TT-NHNN

Nguồn: Tuvanvietluat

2021-10-28 / by / in
Xu hướng phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ của các ngân hàng thương mại

Phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ là phù hợp với xu hướng tất yếu trong hoạt động của các ngân hàng thương mại trong khu vực, trên thế giới nói chung và của các ngân hàng thương mại Việt Nam nói riêng. Bởi lẽ, việc mở rộng phục vụ nhóm đối tượng là khách hàng các cá nhân và các doanh nghiệp vừa và nhỏ giúp ngân hàng đa dạng hoá sản phẩm, mở rộng thị trường, quản lý rủi ro hữu hiệu hơn nhờ đó giúp ngân hàng đạt hiệu quả kinh doanh tối ưu.

Đặt vấn đề

Hoạt động ngân hàng bán lẻ (NHBL) luôn được coi là một hoạt động cốt lõi. Dịch vụ NHBL có tác dụng đẩy nhanh quá trình luân chuyển tiền tệ, tận dụng tiềm năng to lớn về vốn của các thành phần kinh tế để cho vay cải thiện đời sống dân cư, hạn chế thanh toán tiền mặt, góp phần tiết kiệm chi phí và thời gian cho cả ngân hàng và khách hàng. Dịch vụ NHBL giữ vai trò quan trọng trong việc mở rộng thị trường, nâng cao năng lực cạnh tranh, tạo nguồn vốn trung và dài hạn chủ đạo cho ngân hàng, góp phần đa dạng hóa hoạt động ngân hàng, đem lại doanh thu chắc chắn, ít rủi ro, đa dạng hóa các sản phẩm, dịch vụ phi ngân hàng, từ đó gia tăng và phát triển mạng lưới khách hàng hiện tại và tiềm năng của các ngân hàng thương mại (NHTM).

Hiện nay, Việt Nam có khoảng trên 95 triệu dân, là nước đông dân thứ 15 trên thế giới. Theo dự báo của Bộ Công Thương, năm 2020, cả nước sẽ có khoảng 1.500 siêu thị, 180 trung tâm thương mại, 157 trung tâm mua sắm và hơn 1.500 cửa hàng tiện lợi… Dân số đông và sự phát triển nhanh chóng của hệ thống siêu thị, trung tâm thương mại, trung tâm mua sắm, cửa hàng tiện lợi góp phần đưa thị trường bán lẻ trở thành mối quan tâm hàng đầu của mọi DN, trong đó có các ngân hàng. Đây là cơ hội để ngân hàng cơ cấu lại nguồn thu, dịch chuyển dần từ thu dịch vụ tín dụng sang thu dịch vụ thông qua phát triển cung ứng sản phẩm dịch vụ ngân hàng tiện ích, đáp ứng nhu cầu thanh toán của người dân.

Vai trò của phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ

Phát triển dịch vụ NHBL làm đa dạng hóa các loại hình dịch vụ, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của các chủ thể trong xã hội, thúc đẩy nền kinh tế tăng trưởng, phát triển bền vững. Dịch vụ NHBL đem lại sự thuận tiện, an toàn, tiết kiệm cho DN và người dân trong quá trình thanh toán và sử dụng nguồn thu nhập của mình. Dịch vụ NHBL là cầu nối vững chắc giữa ngân hàng và khách hàng trong hiện tại và tương lai. Mặt khác, dịch vụ NHBL phát triển tốt sẽ kéo theo các loại hình dịch vụ khác phát triển theo, tạo nên hệ thống các sản phẩm dịch vụ đa dạng hỗ trợ tích cực cho nhau.

Phát triển dịch vụ NHBL, gia tăng quá trình luân chuyển vốn, góp phần thúc đẩy tăng trưởng, phát triển của nền kinh tế và đảm bảo chủ động hội nhập kinh tế quốc tế. Đứng trên giác độ kinh tế xã hội, việc phát triển dịch vụ NHBL có tác dụng đẩy nhanh quá trình luân chuyển tiền tệ, tận dụng tiềm năng to lớn về vốn để phát triển kinh tế. Dịch vụ NHBL sẽ làm rút ngắn thời gian giao dịch giữa ngân hàng và khách hàng, làm cho tiền tệ có thể nhanh chóng chuyển từ tay khách hàng đến ngân hàng và ngược lại. Những đồng vốn huy động được sẽ nhanh chóng được tái đầu tư để phát triển kinh tế, giúp cải thiện đời sống dân cư.

Phát triển dịch vụ NHBL góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế ngành, cơ cấu kinh tế vùng và các thành phần kinh tế theo hướng tiến bộ và hiện đại; đồng thời, góp phần tích cực trong việc khơi thông nguồn vốn trong xã hội phục vụ nhu cầu phát triển kinh tế, tạo việc làm và nâng cao đời sống người dân. Các dịch vụ NHBL phát triển sẽ tạo điều kiện tốt để các DN nhỏ và vừa (DNNVV), các hộ kinh doanh cá thể có điều kiện tiếp cận với nguồn vốn tín dụng và các dịch vụ NHBL tiên tiến khác. Bên cạnh đó, phát triển dịch vụ NHBL góp phần quan trọng trong việc thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng hiện đại, hình thành các ngành kinh tế mới có giá trị gia tăng cao, các khu vực, vùng kinh tế phát triển năng động, hiệu quả, bền vững.

Ngoài ra, dịch vụ NHBL góp phần thúc đẩy các DNNVV phát triển, tạo nên tính năng động, hiệu quả trong phát triển loại hình DN này. Các DNNVV có vai trò rất quan trọng trong việc phát triển kinh tế và an sinh xã hội. Do vậy, các NHTM lớn hiện nay tại Việt Nam đều hết sức quan tâm, dành các nguồn lực tài chính, ưu tiên cán bộ có năng lực trình độ, phát triển các sản phẩm dịch vụ đa dạng nhằm hướng tới đối tượng khách hàng tiềm năng là các DNNVV.

Thực trạng sử dụng dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Việt Nam

Những năm gần đây, các ngân hàng đều quan tâm và tập trung khai thác thị trường bán lẻ nên đã đạt được những kết quả đáng khích lệ như đẩy mạnh hiện đại hóa công nghệ ngân hàng, phát triển các loại hình dịch vụ mới, đa tiện ích và đã được xã hội chấp nhận như máy giao dịch tự động (ATM), internet banking, home banking, PC banking, mobile banking… Các hình thức huy động vốn ngày càng đa dạng và linh hoạt hơn như tiết kiệm lãi suất bậc thang, tiết kiệm dự thưởng, tiết kiệm rút lãi và gốc linh hoạt, tiết kiệm lãi suất theo số dư tiết kiệm kết hợp bảo hiểm, tiết kiệm gửi góp, phát hành giấy tờ có giá, dịch vụ gửi một nơi-giao dịch tại nhiều nơi.

Nguồn vốn huy động của các ngân hàng từ dân cư đã tăng mạnh và chiếm 35-40% vốn huy động. Lượng kiều hối chuyển qua các ngân hàng ngày càng tăng (năm 2007 đạt khoảng 6,5 tỷ USD), góp phần tạo nguồn ngoại tệ đáng kể cho các ngân hàng và tăng thu nhập từ phí thanh toán. Các hình thức cho vay cũng được mở rộng hơn: cho vay mua nhà, mua xe ô tô, du học, chứng minh tài chính, cho vay cán bộ công nhân viên, thấu chi… tạo điều kiện cải thiện đời sống nhân dân khi tích lũy chưa đủ. Các NHTM đã có những cải thiện đáng kể về năng lực tài chính, công nghệ, quản trị điều hành, cơ cấu tổ chức và mạng lưới kênh phân phối, hệ thống sản phẩm dịch vụ. Nhiều loại hình dich vụ NHBL đã được triển khai thực hiện như dịch vụ tài khoản, séc, thẻ, quản lý tài sản, tín dụng, cầm cố.

Bên cạnh những kết quả đạt được, dịch vụ NHBL của các NHTM Việt Nam còn nhiều bất cập, đó là các ngân hàng chưa xây dựng được phương án phát triển dịch vụ NHBL một cách đồng bộ và hiệu quả. Các sản phẩm dịch vụ NHBL chưa phong phú, chưa đáp ứng được nhu cầu của khách hàng. Các dịch vụ NHBL hiện đại được triển khai chậm, dịch vụ thanh toán thẻ còn hạn chế về phạm vi sử dụng và chưa phát triển sâu rộng trong đại bộ phận công chúng, dịch vụ internet banking mới dừng lại chủ yếu ở mức truy vấn thông tin, chưa cho phép thực hiện thanh toán, các công cụ thanh toán không dùng tiền mặt như séc cá nhân gần như không được sử dụng, tiện ích thanh toán thẻ còn hạn chế…

Định hướng giải pháp phát triển ngân hàng bán lẻ trong xu thế mới

Một là, xây dựng mô hình kinh doanh lấy khách hàng làm trung tâm theo mô hình kinh doanh truyền thống, ngân hàng nên để mang đến cho khách hàng các sản phẩm dịch vụ dịch vụ NHBL mà ngân hàng có để khách hàng lựa chọn. Theo mô hình lấy khách hàng làm trung tâm, mỗi khách hàng là một đối tượng nghiên cứu, ngân hàng cần đầu tư vào việc phân tích khách hàng, nắm được tiềm năng giá trị của khách hàng, mô hình chi tiêu, đầu tư và kinh doanh để đưa ra các đề nghị đúng với mục tiêu của khách hàng. Bên cạnh đó, ngân hàng cần chú trọng việc tạo ra các trải nghiệm tốt hơn cho khách hàng để nâng cao sự hài lòng, dẫn đến lòng trung thành và hướng đến mục tiêu đạt được doanh thu cao hơn từ một đối tượng cụ thể.

Bên cạnh những kết quả đạt được, dịch vụ ngân hàng bán lẻ của các ngân hàng thương mại Việt Nam còn nhiều bất cập, đó là các ngân hàng chưa xây dựng được phương án phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ một cách đồng bộ và hiệu quả. Các sản phẩm dịch vụ ngân hàng bán lẻ chưa phong phú, chưa đáp ứng được nhu cầu của khách hàng.

Hai là, phát triển mạng lưới, gia tăng sự thuận tiện và tiện ích cho khách hàng, trong đó, chú trọng phát triển mạng lưới cứng và mạng lưới mềm. Cụ thể, đối với mạng lưới cứng: Khách hàng sử dụng dịch vụ ngân hàng bán lẻ, sự thuận tiện luôn là một yếu tố được đề cao. Trong đó, sự thuận tiện về vị trí địa lý, khoảng cách và thời gian tiếp cận. Do vậy, việc không ngừng phát triển các điểm giao dịch mới như chi nhánh, phòng giao dịch, điểm liên doanh liên kết, điểm giao dịch ngân hàng tự động… là rất cần thiết để gia tăng sự tiện lợi cho khách hàng sử dụng dịch vụ. Phát triển mạng lưới mềm: Là các phương thức giao dịch được tạo ra mà không cần đến các điểm giao dịch chính thức như hệ thống các điểm chấp nhận dịch vụ (siêu thị, nhà hàng…) và các phương thức thực hiện dịch vụ thông qua các hình thức khác nhau như web, app, các đối tác bán chéo dịch vụ như grab, now.vn, foody…

Ba là, phát triển hệ thống công nghệ thông tin hiện đại. Một hệ thống ngân hàng lõi (Core banking system – CBS) tốt là nền tảng công nghệ thông tin để khách hàng có thể thao tác mọi dịch vụ một cách chính xác, thuận tiện, nhanh và tốt nhất. Hệ thống CBS tốt cũng giúp cho ngân hàng, nhân viên, đối tác có thể phát triển các sản phẩm dịch vụ và các tiện ích tốt nhất cũng như hướng đến mục tiêu quản trị hiệu quả. Dựa trên hệ thống CBS hiện đại và hiệu quả, ngân hàng cần phát triển các tiện ích về công nghệ để nhằm gia tăng sự thuận tiện cho khách hàng, đặc biệt là các ứng dụng sử dụng trên điện thoại thông minh.

Bốn là, đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ ngân hàng cho các đối tượng khách hàng. Với mô hình lấy khách hàng làm trung tâm, ngân hàng cần xây dựng các sản phẩm dịch vụ chuyên biệt dành cho từng nhóm đối tượng cụ thể. Đối với các đối tượng khách hàng có tiềm năng, mức độ chuyên biệt hóa càng được yêu cầu ở mức cao nhất. Bên cạnh đó, cần có các sản phẩm được thiết kế đặc thù cho 1 hoặc 1 số ít đối tượng cụ thể, những khách hàng có mức độ ảnh hưởng cao đến hiệu quả hoạt động của ngân hàng.

Năm là, xây dựng quy trình chuẩn và đồng nhất. Đặc thù của dịch vụ bán lẻ là có số lượng lớn đối tượng khách hàng có cùng 1 đặc điểm. Để nâng cao hiệu quả cung cấp dịch vụ và phục vụ công tác quản trị, việc xây dựng quy trình dịch vụ bán cần hướng đến mục tiêu ngắn gọn, minh bạch, đơn giản.

Sáu là, tăng cường đào tạo nâng cao trình độ chuyên môn và chất lượng dịch vụ. Để cung cấp đến khách hàng các dịch vụ NHBL tốt nhất, công tác đào tạo nhân viên ngân hàng cần chú trọng đến: Sản phẩm dịch vụ và quy trình nghiệp vụ; Kỷ luật nghiệp vụ và năng lực quản lý công việc; Các kỹ năng mềm trong công việc; Kỹ năng chăm sóc khách hàng, phân tích, tư vấn và xây dựng chiến lược dịch vụ.

Bảy là, xây dựng hệ sinh thái đa tương tác. Với xu thế phát triển của việc ứng dụng công nghệ thông tin vào cuộc sống, trào lưu sử dụng điện thoại thông minh, sự phát triển của hoạt động kinh doanh trực tuyến, kết hợp với việc có một số lượng khách hàng lớn, NHBL cần hướng đến mục tiêu xây dựng một hệ sinh thái đa tương tác để gia tăng chất lượng dịch vụ và sự lựa chọn cho khách hàng, cũng như phát triển hoạt động kinh doanh và bán chéo sản phẩm. Các mục tiêu cần hướng đến bao gồm: Xây dựng các tiện ích và ứng dụng sử dụng dịch vụ của ngân hàng và các đối tác liên kết, đặc biệt trong việc thanh toán các dịch vụ ngân hàng và các dịch vụ thiết yếu trong cuộc sống như điện, nước, viễn thông… Liên kết với các đối tác cung cấp dịch vụ công nghệ như grab, now.vn… để cung cấp tiện ích cho khách hàng, bán chéo sản phẩm và phát triển khách hàng mới…

Tám là, không ngừng đổi mới sáng tạo. Đổi mới là yếu tố quan trọng nhất thúc đẩy tăng trưởng trong hoạt động cung cấp dịch vụ NHBL. Ngân hàng cần xây dựng chính sách khuyến khích và hệ thống nghiên cứu và phát triển sản phẩm dịch vụ mới, phát minh mới, cải tiến nâng cao chất lượng và hiệu quả để không ngừng mang đến những trải nghiệm tốt hơn cho khách hàng và nâng cao hiệu quả hoạt động.

Tài liệu tham khảo:

1. Phan Thị Thu Hà (2013), Ngân hàng thương mại, NXB Đại học Kinh tế quốc dân;

2. Tô Khánh Toàn (2014), Phát triển dịch vụ ngân hàng bán lẻ tại Ngân hàng thương mại Cổ phần Công thương Việt Nam, Luận án Tiến sỹ Học viện Hành chính Quốc gia;

3. Nguyễn Thị Hiền, Đỗ Thị Bích Hồng (2017), Tác động của cách mạng công nghiệp lần thứ 4 tới lĩnh vực tài chính – ngân hàng, Tạp chí Tài chính;

5. https://babuki.vn/quy-mo-thi-truong-ban-le-sap-cham-nguong-179-ty-usd/.

Nguồn: Tạp chí tài chính

2021-10-28 / by / in
Nâng cao năng lực tài chính của các ngân hàng thương mại Việt Nam

Bối cảnh hội nhập sâu vào nền kinh tế thế giới đang đặt ra không ít những khó khăn thách thức đối với hệ thống ngân hàng, nhất là các ngân hàng thương mại. Bởi theo thông lệ quốc tế, tỷ lệ an toàn vốn (CAR) của ngân hàng thương mại phải từ 9% trở lên, nếu tỷ lệ này không đảm bảo, ngân hàng thương mại sẽ không đủ khả năng mở rộng hoạt động, thậm chí còn đứng trước nguy cơ phá sản. Do vậy, nâng cao năng lực tài chính sẽ giúp ngân hàng thương mại thực hiện tốt các biện pháp phòng ngừa rủi ro, đảm bảo an toàn vốn trong hoạt động, hạn chế đến mức thấp nhất những thiệt hại có thể xảy ra đối với ngân hàng thương mại.

Những bất cập sau 10 năm gia nhập “sân chơi” WTO

Khảo sát cho thấy, sau một thập kỷ tham gia vào “sân chơi” Tổ chức Thương mại thế giới (WTO) (2007-2017), nền kinh tế Việt Nam giờ đây đã có những chuyển biến đáng kể về cơ cấu nền kinh tế, quản lý xã hội và tốc độ tăng trưởng sản xuất – kinh doanh.

Sự tiến bộ này biểu hiện cụ thể qua định hướng xây dựng kinh tế thị trường, sự gia tăng tốc độ cổ phần hóa doanh nghiệp nhà nước (DNNN), đặc biệt là cơ chế quản lý doanh nghiệp đã được cải thiện đáng kể… Tuy nhiên, bên cạnh những thành tựu đã đạt được, nền kinh tế Việt Nam nói chung và hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) vẫn còn biểu hiện khá nhiều bất cập, cụ thể:

Thứ nhất, Việt Nam vẫn là nền kinh tế kém phát triển, năng suất lao động thấp. Năng suất lao động của người Việt Nam hiện nay chỉ bằng 1/5 của Thái Lan, bằng 1/15 của Singapore… và kém xa so với các nước Tây Âu. Năng suất lao động thấp, làm hạn chế năng lực cạnh tranh của các doanh nghiệp nói riêng và nền kinh tế Việt Nam nói chung.

Thứ hai, tốc độ cổ phần hóa DNNN còn chậm và không triệt để. Nguyên nhân chủ yếu là do hệ thống các DN này còn quá nhiều bất cập, đó là: năng lực tài chính kém, tổ chức quản lý chưa kịp đà phát triển của kinh tế thị trường, tình trạng lãng phí tài nguyên, nhân lực và thất thoát tài chính còn khá phổ biến.

Thứ ba, số lượng NHTM Việt Nam còn lớn. Bên cạnh việc hỗ trợ đắc lực cho sự phát triển kinh tế xã hội, hệ thống NHTM cũng biểu hiện nhiều cấp cập như: (1) Năng lực tài chính kém; (2) Chất lượng nhân lực không cao; (3) Phân bố không hợp lý; (4) Năng lực cạnh tranh yếu và không lành mạnh… Đây là những điểm yếu khi Việt Nam hội nhập vào nền kinh tế thế giới.

Thứ tư, vốn điều lệ của các NHTM Việt Nam hiện nay giao động quanh ngưỡng từ 3.000 – 49.209 tỷ đồng. Con số này cho thấy, NHTM Việt Nam chỉ như một doanh nghiệp nhỏ trong “làng NHTM” của thế giới.

Thứ năm, nợ xấu hệ thống NHTM Việt Nam lớn, vượt tầm kiểm soát gây bất ổn đến sự phát triển của nền kinh tế Việt Nam.

Những vấn đề cần tập trung thực hiện

Nhằm khắc phục những hạn chế, tồn tại trên, hệ thống ngân hàng, nhất là các NHTM, ngoài việc nâng cao năng lực tài chính, thời gian tới cần tập trung vào một số vấn đề trọng tâm sau:

Một là, tăng vốn chủ sở hữu – yếu tố quyết định năng lực tài chính để mở rộng kinh doanh: Việc tiếp tục tăng vốn chủ sở hữu của các NHTM trong nước là vô cùng cần thiết nhằm nâng cao khả năng cạnh tranh, giảm thiểu rủi ro, đặc biệt là giúp NHTM có điều kiện thu hút thêm vốn, phát triển nhân lực, đầu tư công nghệ hiện đại, mở rộng mạng lưới, tăng cường cơ sở vật chất, tiếp thu kinh nghiệm quản trị điều hành theo thông lệ và chuẩn mực quốc tế.

Theo đó, các NHTM sẽ phải chủ động thực hiện quy mô tăng vốn trong thời gian tới như: Tăng vốn chủ sở hữu nhằm ứng phó với rủi ro, đáp ứng yêu cầu về vốn theo khung an toàn Camel, nâng cao khả năng cạnh tranh với các ngân hàng liên doanh và ngân hàng nước ngoài hoạt động tại Việt Nam; Đảm bảo đúng nguyên tắc tín dụng, thu hồi vốn cho vay đúng hạn; Kiểm tra nghiêm ngặt các dự án đầu tư, đảm bảo nguyên tắc có lợi nhuận mới đầu tư…

Đồng thời, đẩy mạnh việc triển khai các phương án kinh doanh và nâng cao năng lực tài chính. Bởi vì, mục tiêu kinh doanh của NHTM là hướng đến ổn định, tích cực, nâng cao hiệu quả hoạt động kinh doanh; nâng cao khả năng cạnh tranh, giữ vững vai trò chủ lực trên thị trường tiền tệ; cung ứng sản phẩm dịch vụ chất lượng cao, hoạt động kinh doanh tăng trưởng, an toàn, hiệu quả, bền vững.

Các NHTM cần sớm triển khai hoạt động kinh doanh theo hướng lấy hiệu quả làm mục tiêu trọng tâm, phấn đấu tăng tỷ lệ thu lãi nội bảng, thu nợ đã xử lý rủi ro, giảm chi phí trích dự phòng rủi ro và các chi phí khác; Nâng cao khả năng tài chính và tăng lợi nhuận cho NHTM, đảm bảo ổn định và cải thiện thu nhập, đời sống cho người lao động.

Hai là, nâng cao chất lượng tín dụng: Để nâng cao chất lượng tín dụng, các NHTM cần xây dựng riêng cho mình một hệ thống quản lý rủi ro tín dụng chặt chẽ hơn, cụ thể: Xác lập mục tiêu tín dụng, trong đó mức độ rủi ro từ hoạt động tín dụng phải đo lường được; đồng thời, chất lượng của dự nợ tín dụng không chỉ được quan tâm ở tài sản có nội bảng, mà còn được chú ý ở các khoản mục tài sản ngoại bảng; Xây dựng, cập nhật chiến lược và chính sách quản lý rủi ro tín dụng, phù hợp với các quy định mới pháp luật Việt Nam và với các chuẩn mực quản trị rủi ro quốc tế.

Ba là, đa dạng hóa các sản phẩm dịch vụ ngân hàng: Triển khai giải pháp này, thời gian tới các ngân hàng cần luôn “làm mới” mình để đáp ứng nhu cầu hội nhập thông qua việc đa dạng hóa sản phẩm dịch vụ. Bên cạnh việc duy trì các sản phẩm dịch vụ truyền thống, cần đẩy mạnh khai thác phát triển những sản phẩm mới như: Sản phẩm phái sinh, thu hút nguồn kiều hối trên cơ sở phối hợp với các công ty xuất khẩu lao động, các công ty dịch vụ kiều hối, các ngân hàng đại lý nước ngoài…

Cùng với đó, các ngân hàng cũng có chính sách khai thác và tạo điều kiện thuận lợi phát triển dịch vụ chuyển tiền kiều hối qua hệ thống ngân hàng; triển khai dịch vụ quản lý tài sản, ủy thác đầu tư, cung cấp thông tin và tư vấn cho khách hàng… Đặc biệt là phát triển và mở rộng các sản phẩm dịch vụ thanh toán không dùng tiền mặt, góp phần hạn chế giao dịch tiền mặt bất hợp pháp, nâng cao tính thanh khoản của tiền đồng và hiệu quả sử dụng vốn trong nền kinh tế.

Đồng thời, đẩy mạnh các dịch vụ tài khoản tiền gửi với thủ tục đơn giản, an toàn nhằm thu hút nguồn vốn của cá nhân trong thanh toán và phát triển dịch vụ thanh toán thẻ, séc thanh toán, tiết kiệm…

Bốn là, nâng cao năng lực phát triển nguồn nhân lực ngân hàng: Muốn tăng cường năng lực cạnh tranh trong hội nhập, nhân sự của các NHTM không những phải đạt yêu cầu về số lượng mà còn phải đảm bảo về cả chất lượng, không chỉ ở nhân viên tác nghiệp mà ngay cả đối với nhân sự quản lý.

Tuy nhiên, để có được một lực lượng nhân sự đảm bảo cả về chất và lượng, các NHTM cần xây dựng một chiến lược phát triển nguồn nhân lực phù hợp với yêu cầu phát triển của đơn vị. Theo đó, cơ cấu, sắp xếp, bố trí cán bộ có năng lực, trình độ, kinh nghiệm thực tế phù hợp với yêu cầu hoạt động kinh doanh trước mắt cũng như lâu dài.

Đồng thời, tăng cường tuyển dụng mới những lao động trẻ, năng động để góp phần trẻ hoá đội ngũ lao động; Nghiên cứu áp dụng công nghệ thông tin hiện đại trong quản lý sử dụng nhân lực có hiệu quả, đánh giá nhân viên gắn liền với tiêu chuẩn đạo đức nghề nghiệp, lấy hiệu quả công việc làm thước đo chủ yếu, coi trọng sử dụng nhân tài và khuyến khích tài năng nhằm sử dụng có hiệu quả nguồn nhân lực trong từng giai đoạn phát triển.

Cùng với đó, tập trung đào tạo, bồi dưỡng nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ, kỹ năng nghề nghiệp, năng lực quản lý điều hành, kiến thức ngoại ngữ, khả năng ứng dụng công nghệ hiện đại… từng bước nâng cao chất lượng nguồn nhân lực một cách đồng đều và vững chắc theo hướng vừa chuyên sâu vừa tổng hợp, có khả năng cạnh tranh cao, luôn hướng tới khách hàng.

Ngoài ra, nghiên cứu, cải thiện đổi mới chính sách duy trì nguồn nhân lực như về chế độ tiền lương, chế độ phúc lợi, cơ hội thăng tiến… nhằm động viên nhân viên tận tâm, nhiệt thành với công việc, nâng cao năng suất làm việc.

Năm là, bảo toàn và nâng cao thương hiệu: NHTM cần có kế hoạch và lộ trình để bồi dưỡng, cập nhật các chính sách mới, đồng thời, quan tâm đào tạo các kỹ năng mềm cho cán bộ tác nghiệp, để đón trước thời cơ mở rộng giao dịch với khách.

Kỹ năng chuyên nghiệp cho đội ngũ giao dịch viên và chuyên viên quan hệ khách hàng tại NHTM cũng rất quan trọng, do vậy, các NHTM cần coi trọng việc đa dạng hóa phương thức đào tạo, quan tâm thích đáng đến hình thức đào tạo trực tuyến, đào tạo từ xa nhằm đáp ứng nhu cầu đa dạng của người học về kiến thức, về không gian, thời gian.

Hệ thống công nghệ thông tin hiện đại không những hỗ trợ cho công tác quản trị, điều hành và kinh doanh của ngân hàng mà còn đem lại lợi ích cho khách hàng.

Công nghệ hiện đại đã tạo ra một bước đột phá mới trong khai thác sản phẩm, dịch vụ cả về số lượng và chất lượng, mang lại sự tiện dụng cho khách hàng, đồng thời tăng lợi nhuận và khả năng cạnh tranh với các ngân hàng khác, qua đó khẳng định được đẳng cấp, tên tuổi, hình ảnh của ngân hàng. Dưới góc độ quản lý, nhờ có công nghệ thông tin mà việc quản lý nội bộ trong ngân hàng chặt chẽ hơn và công tác quản lý điều hành của Ban giám đốc sẽ tốt hơn.

Sản phẩm dịch vụ phong phú đa dạng dựa trên nền tảng công nghệ thông tin hiện đại, mang lại nhiều tiện ích cho khách hàng. Các sản phẩm đã triển khai đều được người tiêu dùng đánh giá có giá trị cạnh tranh: sản phẩm thẻ, chuyển tiền trong nước dựa vào lợi thế cạnh tranh riêng có về mạng lưới và máy rút tiền ATM rộng khắp toàn quốc.

Quy trình thực hiện giao dịch thống nhất cũng đã phần nào đơn giản hoá các giấy tờ, thủ tục gây phiền hà cho khách hàng. Việc thực hiện theo đúng quy trình khiến cho các hoạt động diễn ra nhanh chóng, chính xác và chuẩn hóa tối đa; Các sai sót dễ được phát hiện và kịp thời khắc phục.

Chất lượng phục vụ của NHTM cần được nâng cao tạo điều kiện để người tiêu dùng ngày càng có nhiều cơ hội lựa chọn các dịch vụ phù hợp. Tuy nhiên, khách hàng sử dụng các dịch vụ ngân hàng hiện đại thường có xu thế ít trung thành hơn so với những khách hàng sử dụng các dịch vụ ngân hàng truyền thống, do vậy, NHTM phải nghiêm túc đổi mới sản phẩm để thu hút khách hàng và nâng cao chất lượng đội ngũ giao dịch viên như là một yếu tố tất yếu để giữ chân khách hàng, bảo đảm sự phát triển ổn định và bền vững.

Sáu là, phát triển các dịch vụ ngân hàng số, ứng dụng công nghệ hiện đại: Trong bối cảnh hội nhập, việc áp dụng ngân hàng số, là bước đi bắt buộc trong tương lai gần đối với các NHTM. Tuy nhiên, để tiến tới trở thành Digitan Banking, các NHTM cần mở rộng các dịch vụ Internet Banking, Mobile Banking (E.Banking)… để nâng cao trình độ nghiệp vụ cho cán bộ ngân hàng và quan trọng hơn là mở rộng được thị trường – khách hàng, giảm thiểu chi phí và gia tăng lợi nhuận.

Thực tế cho thấy, Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 với kỹ thuật số điều khiển các hoạt động sản xuất – kinh doanh, trong đó có hoạt động của các NHTM đã trở thành hiện thực ở nhiều quốc gia; Mở ra triển vọng tăng doanh thu, giảm chi phí, nâng cao khả năng cạnh tranh của nhiều NHTM ở các quốc gia có nền công nghiệp phát triển.

Do đó, nếu các NHTM Việt Nam ứng dụng được kỹ thuật ngân hàng số (Digital Banking), thì sẽ trở thành là ngân hàng hoàn hảo trong giai đoạn Cách mạng công nghiệp 4.0 với nhiều tính năng dịch vụ như: Chuyển tiền trong và ngoài hệ thống ngân hàng; Thanh toán các loại hóa đơn của khách hàng; Xử lý các dịch vụ tín dụng; Giải quyết nhu cầu gửi tiền của dân cư và các tổ chức kinh tế – xã hội; Thực hiện các dịch vụ quản lý do các tổ chức và thể nhân ủy quyền…

Tài liệu tham khảo

1. TS. Nguyễn Trọng Tài, Cạnh tranh của các NHTM – Nhìn từ góc độ lý luận và thực tiễn;

2. Tạp chí Kế toán, Chiến lược cho các NHTM Việt Nam trong tiến trình hội nhập quốc tế;

3. Viện nghiên cứu Khoa học ngân hàng, Nâng cao năng lực cạnh tranh của hệ thống NHTM Việt Nam trong tiến trình hội nhập;

4. TS. Võ Trí Thành, TS. Lê Xuân Sang, Tái cấu trúc hệ thống tài chính Việt Nam: vấn đề và định hướng những giải pháp cơ bản;

5. Các website: sbv.gov.vn, mof.gov.vn, sav.gov.vn, tapchitaichinh.vn…

Nguồn: Tạp chí tài chính

2021-10-28 / by / in
Hệ thống ngân hàng thương mại: Tiếp tục hỗ trợ, chia sẻ khó khăn với người dân, doanh nghiệp

Bám sát chỉ đạo của Chính phủ, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam về các giải pháp cấp bách tháo gỡ khó khăn cho sản xuất, kinh doanh, bảo đảm an sinh xã hội ứng phó với dịch bệnh, hệ thống ngân hàng thương mại (NHTM) trên địa bàn tỉnh tiếp tục chủ động triển khai đồng bộ nhiều giải pháp, đồng hành chia sẻ khó khăn với khách hàng.

 

Đồng hành cùng khách hàng

Dịch bệnh lan rộng đã ảnh hưởng tiêu cực tới tình hình kinh tế – xã hội. Trong bối cảnh đó, hệ thống NHTM tại Bình Dương đã có nhiều hành động, giải pháp thiết thực để chia sẻ khó khăn với người dân và doanh nghiệp (DN). Các NHTM tiếp tục xem xét, đơn giản hóa quy trình, thủ tục giải quyết hồ sơ đề nghị cơ cấu lại thời hạn trả nợ, vay vốn, miễn giảm lãi vay, giãn nợ, giảm, miễn phí… cho khách hàng.

Điển hình như NHTM Cổ phần Việt Nam Thịnh vượng (VPbank) có chính sách dành cho các DN xuất khẩu nông thủy sản với việc giảm lãi suất cho vay 1,5%/năm đối với các khoản vay không có tài sản bảo đảm và 1% năm đối với các khoản vay có tài sản bảo đảm. Ngân hàng Công thương Việt Nam (Vietinbank) cũng triển khai gói giải pháp “Đồng hành cùng DN mùa dịch Covid-19”. Giải pháp này hướng đến 3 mục tiêu chính là hỗ trợ DN về mặt tài chính với ưu đãi giảm lãi suất cho vay tới 1%/năm và miễn giảm tới 20 loại phí giao dịch. Từ đầu quý II-2021, Vietinbank đã giảm lãi suất cho vay tối đa 1%/năm đối với các khoản dư nợ hiện hữu và giải ngân mới của khách hàng.

Từ khi dịch bệnh diễn ra đến nay, các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh đều vào cuộc mạnh mẽ, hỗ trợ hiệu quả cho khách hàng bị ảnh hưởng. Tính đến cuối tháng 6-2021, có 69 tổ chức tín dụng thực hiện cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ cho 1.085 khách hàng với giá trị dư nợ 6.011 tỷ đồng; miễn giảm lãi cho 4.865 khách hàng, giá trị dư nợ 7.389 tỷ đồng.

(Ông Võ Đình Phong, Giám đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam – chi nhánh Bình Dương)

Đồng hành cùng khách hàng

Dịch bệnh lan rộng đã ảnh hưởng tiêu cực tới tình hình kinh tế – xã hội. Trong bối cảnh đó, hệ thống NHTM tại Bình Dương đã có nhiều hành động, giải pháp thiết thực để chia sẻ khó khăn với người dân và doanh nghiệp (DN). Các NHTM tiếp tục xem xét, đơn giản hóa quy trình, thủ tục giải quyết hồ sơ đề nghị cơ cấu lại thời hạn trả nợ, vay vốn, miễn giảm lãi vay, giãn nợ, giảm, miễn phí… cho khách hàng.

Điển hình như NHTM Cổ phần Việt Nam Thịnh vượng (VPbank) có chính sách dành cho các DN xuất khẩu nông thủy sản với việc giảm lãi suất cho vay 1,5%/năm đối với các khoản vay không có tài sản bảo đảm và 1% năm đối với các khoản vay có tài sản bảo đảm. Ngân hàng Công thương Việt Nam (Vietinbank) cũng triển khai gói giải pháp “Đồng hành cùng DN mùa dịch Covid-19”. Giải pháp này hướng đến 3 mục tiêu chính là hỗ trợ DN về mặt tài chính với ưu đãi giảm lãi suất cho vay tới 1%/năm và miễn giảm tới 20 loại phí giao dịch. Từ đầu quý II-2021, Vietinbank đã giảm lãi suất cho vay tối đa 1%/năm đối với các khoản dư nợ hiện hữu và giải ngân mới của khách hàng.

Từ khi dịch bệnh diễn ra đến nay, các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh đều vào cuộc mạnh mẽ, hỗ trợ hiệu quả cho khách hàng bị ảnh hưởng. Tính đến cuối tháng 6-2021, có 69 tổ chức tín dụng thực hiện cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ cho 1.085 khách hàng với giá trị dư nợ 6.011 tỷ đồng; miễn giảm lãi cho 4.865 khách hàng, giá trị dư nợ 7.389 tỷ đồng.

(Ông Võ Đình Phong, Giám đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam – chi nhánh Bình Dương)

Tương tự, ông Nguyễn Thái Minh Quang, Giám đốc Ngân hàng Ngoại thương Việt Nam (Vietcombank) – chi nhánh Bình Dương cho biết, trong 6 tháng đầu năm 2021 Vietcombank Bình Dương đã triển khai 2 đợt hỗ trợ giảm lãi suất trên diện rộng đối với khách hàng DN và dân cư bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh, với tổng dư nợ ưu đãi lãi suất là 10.962 tỷ đồng, tổng số tiền lãi ưu đãi áp dụng 103 tỷ đồng… Tính chung, từ năm 2020 đến nay, Vietcombank đã liên tục triển khai 7 đợt giảm lãi suất để hỗ trợ DN, người dân bị ảnh hưởng bởi dịch bệnh Covid-19 và thiên tai. Hiện Vietcombank đang áp dụng chính sách giảm lãi suất tiền vay giai đoạn 3 năm 2021 đối với tất cả khách hàng trong thời gian từ ngày 15-7 đến hết 31-12-2021. Ngoài các đợt giảm lãi suất, Vietcombank cũng đã thực hiện giảm phí, cơ cấu nợ và giữ nguyên nhóm nợ cho khách hàng. Đồng thời, Vietcombank đã cam kết và tài trợ gần 200 tỷ đồng để hỗ trợ các địa phương và ngành y tế trong công tác phòng, chống dịch bệnh.

Ngoài ra, từ đầu mùa dịch bệnh đến nay hệ thống các NHTM trên địa bàn tỉnh luôn đồng hành, hỗ trợ cho công tác phòng, chống dịch bệnh của địa phương như tặng xe cấp cứu, trang thiết bị y tế, nhu yếu phẩm, kinh phí… chung tay cùng tỉnh thực hiện “mục tiêu kép” vừa kiểm soát dịch bệnh vừa hỗ trợ tăng trưởng kinh tế.

Chấp nhận giảm lợi nhuận

Theo ông Võ Đình Phong, Giám đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam – chi nhánh Bình Dương, từ khi dịch bệnh diễn ra đến nay, các tổ chức tín dụng trên địa bàn tỉnh đều vào cuộc mạnh mẽ, hỗ trợ hiệu quả cho khách hàng bị ảnh hưởng. Tính đến cuối tháng 6-2021, có 69 tổ chức tín dụng thực hiện cơ cấu lại thời hạn trả nợ và giữ nguyên nhóm nợ cho 1.085 khách hàng với giá trị dư nợ 6.011 tỷ đồng; miễn giảm lãi cho 4.865 khách hàng, giá trị dư nợ 7.389 tỷ đồng. Cho vay mới để hỗ trợ khách hàng vượt qua khó khăn lũy kế từ ngày 23-1-2021 đến cuối tháng 6-2021 là 147.750 tỷ đồng với số khách hàng còn dư nợ tại cuối kỳ báo cáo là 11.930.

Trao đổi với chúng tôi, lãnh đạo các NHTM cho biết tại thời điểm cuối năm 2020 kế hoạch kinh doanh đều dự kiến sẽ tăng trưởng cao. Tuy nhiên, dịch bệnh bùng phát khiến các ngân hàng phải thay đổi các kế hoạch hoạt động, nhất là phương án tăng trưởng an toàn, lợi nhuận khiêm tốn hơn trong năm 2021. Ông Nguyễn Thái Minh Quang cho biết tính đến ngày 30-6, huy động vốn của ngân hàng tăng 3,2% so với đầu năm, dư nợ cho vay tăng 3,1%. Trong 6 tháng đầu năm, Vietcombank Bình Dương đã ưu đãi lãi suất cho vay đối với khách hàng khoảng 100 tỷ đồng, chủ động giảm lãi suất để tiếp tục hỗ trợ đồng hành cùng DN, dân cư bị ảnh hưởng. Vì vậy, lợi nhuận của Vietcombank ước tính giảm khoảng 10% so với kế hoạch năm 2021.

Tương tự, ông Trần Ngọc Linh, cho biết BIDV chi nhánh Bình Dương đồng loạt triển khai nhiều giải pháp hỗ trợ DN, vì vậy trong 6 tháng đầu năm hệ thống BIDV đã triển khai các gói tín dụng lãi suất ưu đãi với quy mô lên đến 368.000 tỷ đồng và đã chủ động giảm lợi nhuận để hỗ trợ khách hàng.

THANH HỒNG

Nguồn: baobinhduong

2021-10-28 / by / in