Thêm kết quả...

Cùng hướng đến phát triển ngành nhựa xanh trong nền kinh tế tuần hoàn

Thông tin tại buổi họp báo trước Triển lãm Quốc tế lần thứ 10 về công nghệ, nguyên phụ liệu, thiết bị máy móc ngành nhựa và cao su Việt Nam (Plastics & Rubber Vietnam, Hanoi 2023) do Công ty Informa Markets Việt Nam tổ chức sáng ngày 22/6, ông Tee Bong Teong (BT Tee), Tổng giám đốc Informa Markets Việt Nam cho biết, thị trường sản phẩm nhựa Việt Nam dự kiến tăng trưởng ổn định ở tốc độ tăng trưởng kép (CAGR) ước đạt 8%. Dù những ảnh hưởng của đại dịch đến ngành nhựa là không thể phủ nhận. Tuy nhiên, sự phục hồi của ngành hàng tiêu dùng và xây dựng – những nhóm đầu ra lớn nhất của ngành nhựa hiện tại hé lộ tương lai khôi phục mạnh mẽ của công nghiệp nhựa Việt Nam.

Theo ông BT Tee, thị trường Việt Nam đang được chiếm lĩnh bởi hai phân ngành chính là bao bì nhựa và nhựa xây dựng. Trong đó, bao bì tiếp tục chiếm thị phần lớn nhất trên thị trường nhựa, với 35% tổng quy mô thị trường theo doanh thu. Dự báo tốc độ tăng trưởng của bao bì nhựa đạt 15% – 20% trong giai đoạn 2023 – 2028.

“Hơn 900 nhà máy hiện đang hoạt động trong lĩnh vực này, với khoảng 70% trong số đó nằm ở khu vực phía Nam, chủ yếu ở TP. Hồ Chí Minh, Bình Dương và Đồng Nai. Các yếu tố như trọng lượng nhẹ, khả năng chống chịu nhiệt, hóa chất và ăn mòn khiến nhựa tiếp tục là lựa chọn khả thi nhất cho hoạt động đóng gói tại Việt Nam. Trong đó, PET (Polyethylene terephthalate) hiện tại là một trong những nguyên liệu được sử dụng nhiều nhất trong đóng gói bao bì ở Việt Nam, đặc biệt trong ngành thực phẩm và đồ uống” – ông BT Tee thông tin.

Đại diện Informa Markets Việt Nam khẳng định, trong tương lai gần, nhu cầu ngày càng tăng từ ngành xây dựng dự kiến ​​sẽ thúc đẩy tăng trưởng thị trường nhựa. Phân khúc nhựa xây dựng hiện đang chiếm 1/4 thị phần ngành nhựa Việt Nam. Các dự án phát triển cơ sở hạ tầng, cùng số lượng ngày càng nhiều nhà máy được lắp đặt mới đang làm gia tăng mạnh nhu cầu về nhựa xây dựng và nhựa kỹ thuật trong nước.

Theo Quy hoạch phát triển ngành nhựa Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2025 của Bộ Công Thương, ngành nhựa sẽ chuyển dịch cơ cấu theo hướng giảm dần tỷ trọng các nhóm sản phẩm nhựa bao bì và nhựa gia dụng, tăng dần tỷ trọng nhóm nhựa vật liệu xây dựng và nhựa kỹ thuật có tính chất cơ lý đặc biệt chuyên dùng trong thi công công trình và hoạt động công nghiệp.

Nghị quyết 01 Kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội 2023 – 2030 đặt mục tiêu xây dựng ít nhất 1 triệu căn hộ nhà ở xã hội cho người thu nhập thấp, công nhân tại hơn 350 khu công nghiệp Việt Nam cũng thúc đẩy mạnh mẽ nhu nhu cầu nhựa xây dựng.

Bên cạnh đó, sự gia tăng đầu tư nước ngoài ​​​đang mang lại nhiều cơ hội hơn cho doanh nghiệp ngành nhựa. Việt Nam hiện đang có nhiều chính sách để thu hút dòng vốn FDI thông qua Luật Đầu tư, Luật Doanh nghiệp sửa đổi với nhiều điều khoản mở thuận lợi cho doanh nghiệp quốc tế. Nghị quyết số 50-NQ/TW của Bộ Chính trị về định hướng hoàn thiện thể chế, chính sách, nâng cao chất lượng, hiệu quả hợp tác đầu tư nước ngoài đến năm 2030 cũng hứa hẹn tạo nhiều kiện thuận lợi để doanh nghiệp khi chuyển dịch dòng vốn đầu tư vào Việt Nam.

Về phía các doanh nghiệp trong nước, nhiều hiệp định mới được ký kết như EVFTA, UKVFTA, RCEP giúp sản phẩm nhựa của Việt Nam xuất khẩu đi các nước thành viên được hưởng thuế suất 0% hoặc gần bằng 0%. Đây là cơ hội rất lớn để tăng khả năng cạnh tranh của các sản phẩm nhựa Việt Nam trên thị trường quốc tế, trong khi rất ít các đối thủ cạnh tranh khác được hưởng mức thuế này.

“Nhựa là mắt xích quan trọng của nhiều chuỗi giá trị, bao gồm đóng gói, chăm sóc sức khỏe, xây dựng, hàng không, vận tải, quần áo và ngày càng nhiều ngành công nghiệp khác. Nhựa đóng một vai trò quan trọng trong việc thúc đẩy phát triển công nghiệp, tạo việc làm và cải thiện cuộc sống của mọi người. Nhưng khi việc sử dụng nhựa ngày càng tăng, các chi phí môi trường và xã hội cũng tăng theo” – ông BT Tee phân tích.

Lãnh đạo Informa Markets Việt Nam cho biết, thị trường nhựa tái chế trên thế giới đang tăng trưởng hết sức nhanh chóng. Dự kiến đến năm 2030, nhựa tái chế sẽ chiếm trung bình dưới 15% tổng nguồn cung nhựa. Để nâng cao con số này, có ba nhóm yếu tố chính cần được thúc đẩy bao gồm việc cải tiến công nghệ mới, phát quan hệ kinh doanh bền chặt để đảm bảo chuỗi cung ứng liên tục ở cả đầu vào và đầu ra, cùng với những cơ chế, chính sách hỗ trợ từ chính phủ.

Đối với ngành cao su, đại diện Informa Markets Việt Nam cho biết, thị trường cao su tại Việt Nam ẩn chứa nhiều cơ hội để phát triển với biên độ lợi nhuận cao, trong đó phải kể đến sự phục hồi của thị trường lốp ô tô tại Trung Quốc hay làn sóng FDI vào Việt Nam và xu hướng dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu.

Ông BT Tee phân tích cụ thể, một phần lớn cao su xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc – thị trường chính ngạch lớn nhất của cao su Việt Nam, được sử dụng để phục vụ cho nhu cầu sản xuất lốp ô tô. Với tốc độ tăng trưởng đạt 7% sau đại dịch, sự phục hồi của ngành ô tô tại Trung Quốc là động lực khả quan cho tốc độ tăng kim ngạch xuất khẩu cao su Việt Nam.

Bên cạnh đó, các doanh nghiệp FDI vào Việt Nam sẽ tiếp tục duy trì mức độ tăng trưởng kép ở mức 7% giai đoạn 2021 – 2025 nhờ vào sự dịch chuyển chuỗi cung từ Trung Quốc sang Việt Nam, sự phát triển cơ sở hạ tầng, nới lỏng chính sách và tăng cường ký kết các hiệp định thương mại. Hơn hết, chi phí nhân công và vận hành thấp cũng là một trong những đặc điểm thu hút đầu tư nước ngoài cho ngành cao su nói riêng và các ngành công nghiệp khác nói chung.

Dù có nhiều dư địa để phát triển, xong đại diện Informa Markets Việt Nam cũng nhìn nhận, ngành cao su Việt Nam đang đứng trước nhiều áp lực lớn để đáp ứng quy tiêu chuẩn quốc tế. Bởi sản lượng xuất khẩu sản phẩm từ cao su tự nhiên như khối cao su, mủ cô đặc, lốp xe, nguồn cung y tế, đế giày đã bùng nổ từ 2,9 tỷ đôla năm 2015 lên gần 5,5 tỷ đôla năm 2020. Tuy nhiên, các công ty quốc tế lớn như: Nike, Adidas đều yêu cầu doanh nghiệp phải cung cấp chứng nhận bảo vệ rừng FSC cùng nhiều tiêu chuẩn khác. Trong khi phần lớn trang trại cao su Việt Nam thuộc chủ sở hữu nhỏ lẻ, khó tiếp cận công nghệ trong trồng trọt, thu hoạch và sơ chế mủ đạt chuẩn.

2023-07-29 / by / in
Chiến lược cạnh tranh nào trong bối cảnh thị trường may mặc phụ liệu cầu thiếu và nhiều biến động?

Năm 2022, doanh thu bán lẻ hàng may mặc Việt Nam tăng trưởng trở lại sau dịch năm 2021, với tổng mức bán lẻ 11 tháng 2022 tăng trưởng gần 22% so với cùng kỳ 2021, tuy có tình trạng lạm phát cao. Theo ước tính, giá cả các mặt hàng may mặc bán lẻ tăng từ mức 5-10% tùy mặt hàng, do giá NPL đầu vào tăng 10-15%. Lạm phát cao khiến cơ cấu các mặt hàng cũng có sự thay đổi nhất định, người tiêu dùng tập trung vào các mặt hàng giá trung bình thấp tới trung bình khá, còn các mặt hàng xa xỉ, cao cấp ít được quan tâm hơn do việc cắt giảm chi tiêu dùng tại các hộ gia đình.

Theo Tổng cục Thống kê, tính tổng 11 tháng năm 2022, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng ước đạt 5180 nghìn tỷ đồng, tăng 20,5% so với cùng kỳ năm trước (cùng kỳ năm 2021 giảm 5%), nếu loại trừ yếu tố giá tăng 16,9% (cùng kỳ năm 2021 giảm 6,8%). Trong đó, mức tăng chủ yếu ở nhóm hàng lương thực, thực phẩm, hàng may mặc, phương tiện đi lại (tăng trưởng 2 con số). Tổng cục Thống kê nhận định, tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 11 tháng năm 2022 tăng 14,9% so với 11 tháng năm 2019 – năm trước khi xảy ra dịch Covid-19. Mặc dù vậy, quy mô tổng mức bán lẻ hàng hóa và doanh thu dịch vụ tiêu dùng 11 tháng năm 2022 chỉ đạt 82,5% quy mô của chỉ tiêu này nếu ước tính trong điều kiện bình thường không xảy ra dịch Covid-19 từ năm 2020 đến nay.

Tính từ tháng 4/2022 đến nay, ngành bán lẻ đã lấy lại được sức hồi phục sau đại dịch với nhu cầu người tiêu dùng phục hồi cùng chính sách giảm thuế giá trị gia tăng từ mức 10% xuống 8%.

Về kênh phân phối, sau khi người tiêu dùng đã dần quen với việc mua sắm hàng online trong đại dịch thì giờ đây, thời kỳ hậu Covid, nhất là tại các thành phố lớn người tiêu dùng bắt đầu quay trở lại các kênh mua sắm truyền thống. Hiện tại mô hình bán lẻ đa kênh đang là xu hướng được nhiều hãng thời trang bán lẻ theo đuổi. Bán lẻ đa kênh là cách thức kết nối tất cả các kênh bán hàng online và offline thành một chuỗi khép kín. Khách hàng tiếp cận đến bất cứ kênh bán hàng nào cũng có trải nghiệm đồng nhất từ chương trình khuyến mãi, quyền lợi thành viên, hàng hóa đến giá cả. Theo khảo sát của công ty nghiên cứu TMX, chiến lược đa kênh đang được các doanh nghiệp Việt Nam xem như một phương thức xây dựng nền móng vững chắc để phát triển trong tương lai. Có đến 76% tại Việt Nam (tỉ lệ của toàn khu vực châu Á là 46%) xem việc đầu tư vào mô hình bán hàng đa kênh là ưu tiên hàng đầu trong 3 đến 5 năm tới.

Với kênh mua sắm online, ngoài nền tảng facebook, nhiều doanh nghiệp bán lẻ lấn sân sang Tiktok và đẩy mạnh bán hàng trên các sàn thương mại điện tử lớn. Xu thế tiếp cận của các hãng thiên về thuê idol, người mẫu KOL trong quảng cáo nhãn hàng tiếp tục gia tăng. Theo Virac GSO, khách hàng độ tuổi trẻ 25-34 là nhóm khách hàng tập trung nhiều nhất vào các mặt hàng thời trang nhanh và mua sắm online so với các nhóm khách hàng khác.

Hướng tới 2023, khi cầu thị trường “èo uột” cùng niềm tin tiêu dùng giảm sút, doanh nghiệp hoạt động trong lĩnh vực bán lẻ hàng may mặc cần có chiến lược cụ thể nhằm trụ vững trong giai đoạn khó khăn, hạn chế đầu tư, mở rộng. Nếu định hướng đầu tư vào mảng gì là chủ đạo, ví dụ như thương mại điện tử thì đây là thời điểm vàng để chuẩn bị cơ sở vật chất, con người chuẩn bị đến khi thị trường nóng lại. Thêm vào đó, cần tìm ra cho mình một mảng thị trường ngách phù hợp, nghiên cứu lại hành vi mua hàng và tập trung gia tăng trải nghiệm khách hàng để nâng cao vị thế cạnh tranh. Thông thường, một doanh nghiệp xây dựng lợi thế cạnh tranh của mình hoặc theo hướng cạnh tranh về giá hoặc theo hướng khác biệt hóa sản phẩm/dịch vụ.

Đầu tiên, việc định hình rõ ràng được nhóm khách hàng mục tiêu là điều kiện tiên quyết để các doanh nghiệp bán lẻ hàng thời trang đáp ứng sát hơn với nhu cầu người dùng. Sau đó, cần tập trung nghiên cứu kỹ vào giải pháp giá trị cho khách hàng: cần xác định rõ khách hàng muốn gì, vấn đề băn khoăn của khách ở đâu, điều gì tạo nên cảm xúc cho khách hàng, điều gì khích lệ khách hàng mua hàng? Nhìn chung, mỗi doanh nghiệp cần nghiên cứu kỹ “chân dung” của nhóm khách hàng của mình và truyền tải được các giải pháp giá trị của sản phẩm/thương hiệu dành cho nhóm khách hàng mục tiêu. Mỗi một nhóm khách hàng mục tiêu sẽ cần cách tiếp cận và thông điệp truyền tải khác nhau.

Hiện tại đối với ngành bán lẻ hàng may mặc, người tiêu dùng khi có nhu cầu sẽ đứng giữa rất nhiều lựa chọn về sản phẩm và nhà cung cấp. Khi đó, quyết định mua đa phần dựa trên nguyên tắc: khách hàng chỉ mua khi giá trị nhận được từ sản phẩm/dịch vụ đó xứng đáng với số tiền phải bỏ ra. Cùng với đó, để tránh đối thủ cạnh tranh sao chép giải pháp, doanh nghiệp cần đưa ra các giá trị gia tăng liên tục cho khách hàng để sao cho giải pháp của doanh nghiệp đó biến thành lợi thế cạnh tranh độc đáo, thành bản sắc doanh nghiệp, biến nhóm khách hàng mục tiêu thành khách hàng thân thiết.

Cùng với đó, thông điệp truyền thông cho từng nhóm khách hàng khác nhau là khác nhau. Câu chuyện về quảng cáo cũng cần trung thực và sát với giá trị sản phẩm vì nếu quảng cáo 10 trong khi giá trị sản phẩm chỉ có 1 thì sẽ không tạo được sự tin tưởng đối với khách hàng, và về lâu dài không thể xây dựng thương hiệu một cách bền vững. Cần gắn sản phẩm, thông điệp truyền thông với giá trị cốt lõi, tốt nhất là gắn liền với sứ mệnh và tầm nhìn của công ty.

 

2023-07-28 / by / in
Động lực thúc đẩy ngành sản xuất bao bì thực hiện mục tiêu phát triển bền vững

Theo đánh giá của các chuyên gia, tính bền vững và chuyển đổi số (đặc biệt là thương mại điện tử) là 2 xu hướng được kỳ vọng sẽ tạo ra cơ hội đáng kể bên cạnh những thách thức cho các doanh nghiệp trong ngành, từ đó định hình thị trường ngành bao bì trong thời gian tiếp theo.

Khảo sát của Vietnam Report đã chỉ ra 3 động lực thúc đẩy doanh nghiệp bao bì thực hiện mục tiêu phát triển bền vững bao gồm: (1) Việc triển khai chiến lược phát triển bền vững có thể nâng cao giá trị của doanh nghiệp; (2) Doanh nghiệp có thể xác định các rủi ro và cơ hội bằng cách thực hiện chiến lược phát triển bền vững; (3) Khách hàng coi trọng các hành động phát triển bền vững có thể đạt được.

Mua sắm trực tuyến gia tăng đang tạo ra và mở rộng các hướng đi mới về nhu cầu đóng gói, đặc biệt là đối với bao bì bảo vệ và vận chuyển bền vững. Thương mại điện tử sẽ thay đổi các yêu cầu về cơ bản: sản xuất bao bì sẽ được thiết kế riêng cho phù hợp với từng sản phẩm, để đạt hiệu quả trong chuỗi cung ứng và để mở hộp tại nhà thay vì xuất hiện trên các kệ bán lẻ.

Dưới tác động của 2 xu hướng lớn trên, ngành công nghiệp bao bì đang áp dụng các giải pháp thông minh và bền vững để làm cho bao bì sản phẩm trở nên thân thiện hơn với người tiêu dùng, thương hiệu và môi trường, bao gồm: Internet bao bì, bao bì phân hủy sinh học, bao bì in kỹ thuật số, bao bì tự động hóa đóng gói, bao bì hoạt hóa, bao bì theo yêu cầu, bao bì có thể tái chế, bao bì ăn được, bao bì in 3D, bao bì công nghệ nano.

Giải pháp chính của ngành công nghiệp sản xuất bao bì cho phép đóng gói thông minh là internet bao bì, bao bì tích cực và công nghệ nano. Tuy nhiên, kể từ khi đại dịch Covid-19 buộc mọi người trong nhà, việc đóng gói từ mua sắm trực tuyến tạo ra thách thức nghiêm trọng liên quan đến rác thải từ bao bì. Do đó, doanh nghiệp trong ngành đang đẩy nhanh những đổi mới về bao bì có thể phân hủy sinh học, có thể tái chế và ăn được. Đồng thời, việc triển khai in 3D và đóng gói bằng robot giúp đơn giản hóa quy trình đóng gói và giảm chi phí cho các công ty tiêu dùng.

Những xu hướng trên sẽ tạo ra nhiều thách thức đối với doanh nghiệp sản xuất bao bì, tuy nhiên, cũng sẽ mang lại cơ hội phát triển thực sự cho doanh nghiệp nào theo đuổi các hành động và trọng tâm đúng đắn. Do độ mở kinh tế cao, hoạt động sản xuất và kinh doanh bao bì trong nước vẫn còn phụ thuộc rất nhiều vào tình hình kinh tế thế giới – hiện vẫn còn khá nhiều bất ổn. Ưu tiên hàng đầu mà các doanh nghiệp trong ngành hướng đến là củng cố nội lực, tăng cường khả năng chống chịu và sức phục hồi thông qua tập trung mạnh mẽ vào các nguồn lực và tái phân bổ nguồn lực theo hướng ưu tiên lĩnh vực tăng trưởng chính. Nguồn lực ở đây bao gồm: con người, vốn và công nghệ.

2023-07-27 / by / in
Ngành dệt may mặc tiếp tục đối mặt tình trạng thiếu đơn hàng

Bức tranh ngành dệt may mặc phụ liệu nửa đầu năm 2023 rất trầm lắng, những tháng cuối năm cũng chưa có tín hiệu sáng sủa hơn. Dự kiến kim ngạch xuất khẩu năm nay ước đạt 36-37 tỷ USD, toàn ngành nỗ lực ở mức cao nhất để đạt 40 tỷ USD…

Ông Trương Văn Cẩm, Phó Chủ tịch kiêm Tổng thư ký Hiệp hội dệt may Việt Nam (Vitas) nhắc lại, từ cuối quý 3/2022 tình hình sản xuất kinh doanh của rất nền kinh tế khác và của nhiều ngành kinh tế khác trong đó có dệt may mặc đều rơi vào tình trạng khó khăn. Thậm chí còn khó khăn hơn giai đoạn Covid -19.

Quý 4/2022 xuất khẩu ngành dệt may chỉ đạt 8,7 tỷ USD – nếu so với bình quân trung của 3 quý trước đó thì giảm tới 15%. Sang 5 tháng đầu năm 2023 tình trạng thiếu đơn hàng, giá giảm tác động mạnh tới các doanh nghiệp.

Thống kê của Vitas cho thấy, tổng kim ngạch xuất khẩu hàng dệt may mặc của Việt Nam 5 tháng đầu năm 2023 ước đạt 14,422 tỷ USD, giảm 21,42% so với cùng kỳ năm 2022.

Tính riêng tháng 5/2023, tổng kim ngạch xuất khẩu ngành hàng dệt may của Việt Nam ước đạt 2,780 tỷ USD, giảm 8,73% so với tháng trước và giảm 27,16% so với cùng kỳ năm ngoái.

Tổng kim ngạch nhập khẩu nguyên phụ liệu dệt may 5 tháng năm 2023 đạt 8,782 tỷ USD, giảm 21,6% so với cùng kỳ 2022.

Ông Cao Hữu Hiếu, Tổng Giám đốc Tập đoàn Dệt may Việt Nam (Vinatex) cũng cho rằng tình hình rất khó khăn với mọi ngành. Theo số liệu từ Tổng cục Hải quan, trong 5 tháng đầu năm 2023, có tới 6/7 ngành xuất khẩu chủ lực của Việt Nam có kim ngạch trên 5 tỷ USD đều giảm, giảm sâu nhất là lắp ráp điện tử, điện thoại, chế biến gỗ, thuỷ sản, dệt may, da giày.

Riêng với Vinatex, 2 lĩnh vực chính đối mặt với nhiều khó khăn nhất là ngành sợi và ngành dệt may mặc phụ liệu.

Với ngành sợi, khó khăn kéo dài từ quý 3/2022, đỉnh điểm là quý 4/2022 và tiếp tục đến tháng 6/2023 vẫn khó. Nguyên nhân là do cầu thấp, giá giảm do giá bông (nguyên liệu chính của ngành kéo sợi) biến động liên tục khi lên khi xuống và hiện giờ giảm rất sâu so với cùng kỳ năm 2022. Doanh nghiệp sợi lỗ, tồn kho lớn trong khi vẫn phải duy trì sản xuất.

Với ngành may mặc phụ liệu , từ quý 4/2022 và 6 tháng đầu năm 2023 đơn hàng nhỏ lẻ, manh mún. “Chưa bao giờ các doanh nghiệp may mặc quy mô vài nghìn lao động lại phải nhận đơn hàng từ 500-1.000 chiếc áo jacket như bây giờ. Doanh nghiệp phải làm vì không làm thì khách không biết đến, không có đơn hàng”, ông Hiếu nêu thực tế.

Thậm chí mặt hàng không đúng sở trường vẫn phải làm: dệt thoi làm dệt kim, dệt kim làm dệt thoi; không có đơn hàng quần thì nhận đơn hàng áo… Để làm “trái tay” tốt, doanh nghiệp lại phải đầu tư thêm máy móc thiết bị, đào tạo tay nghề cho công nhân, nếu không trống chuyền công nhân phải nghỉ việc.

Còn với các doanh nghiệp sản xuất hàng dệt kim, từ tháng 4/2022 đến nay gần như không có đơn hàng. Do giai đoạn dịch 2020-2021, khách hàng chỉ làm việc ở nhà nên khi lượng tiêu thụ lớn, các doanh nghiệp tập trung vào chủ yếu sản xuất mặt hàng này. Vì vậy, từ 2022 đến nay mặt hàng dệt kim của tất cả các nhãn hàng trên thế giới tồn kho số lượng lớn.

Không chỉ vậy, đơn giá còn giảm khủng khiếp. Thực tế nhiều đơn vị hiện nay giá gia công của ngành may mặc phụ liệu có mã hàng giảm tới 50% so với cùng kỳ năm ngoái. Trước kia 1 chiếc áo sơ mi là 1,7-1,8 USD nhưng giờ chỉ còn 85-90 cent.

Chưa kể, khi đã khó khăn thì nhiều yếu tố khó khác lại đến. Gia công xong khách hàng lại hoãn thời gian nhận hàng gây bất ổn cho doanh nghiệp trong vấn đề dòng tiền, kho chứa sản phẩm chưa xuất được ngay. Khách hàng đưa ra nhiều yêu cầu khắt khe hơn…

 

2023-07-26 / by / in
Tuổi thọ động cơ điện có thể được dự báo chính xác nhờ vào một chất chỉ thị màu mới

Cũng giống như bao thứ khác, những chiếc động cơ điện không thể nào hoạt động mãi mãi được, nó chắc chắn sẽ bị hao mòn theo thời gian. Nhưng làm sao để biết được khi nào thì chúng sẽ đến lúc cần được bảo trì, bảo dưỡng hoặc thay thế? Theo một nghiên cứu mới đây, có một loại thuốc nhuộm đặc biệt có thể cho phép người sở hữu xe điện và thợ máy biết rõ khi nào thì thời điểm đó sẽ đến.

Động cơ điện sử dụng trong xe ô tô hoặc các thiết bị khác đều có chứa những sợi dây đồng được quấn chặt lại với nhau, chúng được bao phủ bởi một lớp nhựa cách điện. Do các yếu tố như nhiệt độ do động cơ tạo ra, lớp nhựa đó sẽ bị biến chất, ngày càng “giòn” hơn theo thời gian. Cuối cùng, nó sẽ bị nứt và vỡ ra, và đó cũng là thời điểm động cơ này phải được thay thế.

 

Thật không may là trước khi đến điểm đó, không có cách nào thực sự đơn giản để xác định lớp nhựa đó đã bị xuống cấp đến mức nào. Các nhà khoa học từ trường Đại học Martin Luther Halle-Wittenberg của Đức và Công ty vật liệu cách điện Elantas gần đây đã phát hiện ra rằng cả bốn loại nhựa thường được sử dụng trong các động cơ điện, tất cả đều phát ra một loại cồn để phản ứng với nhiệt sinh ra trong quá trình vận hành.

Các nhà khoa học này đã thử nghiệm các loại chất chỉ thị màu (thuốc nhuộm) khác nhau có thể liên kết với loại cồn đó, và không làm ảnh hưởng đến các đặc tính cần có của lớp nhựa đó. Cuối cùng, họ đã chọn một loại thuốc nhuộm thường phát sáng màu đỏ cam khi tiếp xúc với tia cực tím, nhưng lại chuyển sang màu xanh lá khi tiếp xúc với cồn. Lượng cồn xuất hiện càng nhiều thì chất chỉ thị màu này sẽ càng trở nên xanh hơn.

Hiện tại thì ý tưởng này đang được hình dung rằng động cơ điện có thể được trang bị không chỉ lớp nhựa chứa thuốc nhuộm, mà còn với các thiết bị đọc quang phổ nhỏ gọn, nó sẽ định kỳ kiểm tra trạng thái của lớp nhựa đó. Nếu xác định rằng nhựa đã bị biến chất một cách đủ nghiêm trọng, chủ xe sẽ được thông báo về việc này.

Một hệ thống như vậy có thể dự phòng các sự cố có thể xảy ra trên đường đi, cộng với nó cũng có thể đảm bảo rằng các động cơ vẫn hoạt động với đầy đủ chức năng cơ bản, và đưa ra ước tính về tuổi thọ của chúng.

2023-07-25 / by / in
Cách khởi động bằng Tụ động cơ điện một pha không đồng bộ

Động cơ điện không đồng bộ 1 pha ngày càng được sử dụng rộng rãi trong đời sống hằng ngày như máy lạnh, máy giặt, máy sấy, máy bơm nước,… Các động cơ này thường công suất hoạt động nhỏ hơn 750W. Nhu cầu sử dụng ngày càng cao thì việc bảo trì bảo dưỡng động cơ cũng trở nên cần thiết do các thiết bị động cơ hoạt động lâu ngày thường xãy ra nhiều sự cố khác nhau. Hãy cùng YP.VN tìm hiểu các sự cố thường xãy ra với các loại động cơ không đồng bộ

Để tạo mô men khởi động lớn, dây quấn phụ được mắc lõi nối tiếp với tụ điện có điện dung lớn và một cái ngắt điện tự động li tâm.

Lúc bắt đầu khởi động ngắt điện li tâm đóng, cả cuộn chính và phụ được đóng và động cơ được mở máy. Khi tốc độ động cơ đạt 2/3 định mức thì ngắt điện li tâm mở, cuộn phụ được cắt khỏi nguồn và động cơ chỉ làm việc với cuộn chính.

ĐỘNG CƠ ĐIỆN KHÔNG ĐỒNG BỘ 1 PHA: MỘT SỐ SỰ CỐ XẢY RA KHI KHỞI ĐỘNG BẰNG TỤ

1. SỰ CỐ KHI ĐÓNG ĐIỆN VÀO ĐỘNG CƠ 1 PHA

1.1 Vấn đề ở đây là khi đóng điện vào động cơ điện thì động cơ không quay, roto bị hút chặt lệch về một bên, động cơ rung rất mạnh.

Nguyên nhân là do vòng bi hoặc bạc quá dơ, nắp máy bị lệnh và do roto chưa đồng tâm.

Cách khắc phục sự cố này rất đơn giản bạn chỉ cần thay bạc và vòng bi mới, xiết chặt nắp máy, cân chỉnh lại phần roto.

1.2  Đóng điện vào, động cơ làm việc phát ra tiếng kêu khác thường

Nguyên nhân là do vòng bi bị rỗ, vòng bi bị rơ dẫn đến sát cốt nên gây ra tiếng va chạm cơ khí. Chúng ta thay vòng bi mới là khắc phục được vấn đề này nhé.

 2. ĐỘNG CƠ MỘT PHA CHẠY CHẬM TIẾNG Ù Ù, DÒNG ĐIỆN TĂNG CAO

Nguyên nhân là do bị sát cốt, chập nội tại một vài vòng dây.

Muốn khắc phục vấn đề này bạn cần phải xiết chặt lắp máy, cân chỉnh lại phần rôto, kiểm tra vòng bi, bạc đạn hoặc thay thế bạc đạn hoặc vòng bi, kiểm tra bộ dây bằng gronha, nếu bộ dây bị chập nội tại thì quấn lại bộ dây.

3. DÙNG TAY QUAY ĐỘNG CƠ MỚI KHỞI ĐỘNG ĐƯỢC

Sự cố này xảy ra là do tụ điện bị rò nên thông số của tụ điện bị thay đổi or cân chỉnh chưa đồng tâm.

Bạn nên thay tụ mới và cân chỉnh lại thì động cơ sẽ hoạt động bình thường.

4. TỤ LÀM VIỆC BỊ ĐÁNH THỦNG THƯỜNG XUYÊN KHI QUẤN LẠI BỘ DÂY STATO

Nguyên nhân của vấn đề này là do sai số vòng cuộn đề (giảm số vòng) làm điện áp đặt lên tụ lớn hơn điện áp định mức của tụ, thay tụ có điện dung bé hơn nên điện áp đặt lên tụ lớn hơn điện áp định mức của tụ.

Để khắc phục tình trạng này của động cơ điện bạn chỉ cần quấn lại hoặc thay tụ thích hợp.

5. ĐỘNG CƠ BỊ CHẠM VỎ

Do cách điện giữa cuộn dây và lõi thép bị đánh thủng, đầu dây chạm vỏ. Cách khắc phục bạn chỉ cần kiểm tra lại phần cách điện và đầu dây.

MỘT SỐ VẤN ĐỀ CẦN LƯU Ý 

Để đảm bảo an toàn và độ bền cho động cơ điện , quý khách hàng nên bảo dưỡng định kỳ, để động cơ ở nơi khô giáo, thoáng mát. Không để động cơ ở nơi có độ ẩm cao.

– Khi quấn lại động cơ cần chú ý đến chất lượng dây quấn, số vòng dây, tiết diện dây…để tránh trường hợp hao hụt công suất động cơ.

– Khi phát hiện động cơ có hiện tượng bất thường việc đầu tiên phải ngắt nguồn điện ra khỏi động cơ, sau đó dùng Ampe kiểm tra dây có chạm vỏ hay không? Tùy vào tình hình thực tế và điều kiện cụ thể  bạn có thể dùng các biện pháp khác (bút thử điện…) để kiểm tra nhưng phải đảm bảo thực hiện các biện pháp an toàn.

2023-07-24 / by / in
Ngành nhựa nước ta vẫn lép vế so với sản phẩm ngoại nhập

85-90% các sản phẩm nhựa thương hiệu Việt Nam hiện có trong hệ thống siêu thị của cả nước. Tuy nhiên, công nghệ thấp dẫn đến sản phẩm không đồng nhất về chất lượng, tiềm lực tài chính hạn chế khiến các doanh nghiệp trong nước cạnh tranh kém.

Hiệp hội Nhựa Việt Nam (VPA) cho biết ước tính năm 2022 doanh thu của ngành vẫn duy trì đà tăng trưởng ở mức 10,9% so với năm 2021, tổng doanh thu khoảng 22,18 tỉ USD.

Dù trong hệ thống các siêu thị của cả nước có đến 85-90% các sản phẩm nhựa mang thương hiệu Việt Nam, tuy nhiên công nghệ thấp dẫn đến sản phẩm không đồng đều về mặt chất lượng. Tiềm lực tài chính còn hạn chế cũng khiến các doanh nghiệp nhựa gia dụng đối mặt với sức ép cạnh tranh từ đối thủ ngoại, nhất là ở phân khúc sản phẩm cao cấp. 

Điều này dẫn đến các doanh nghiệp ngoại có biên lợi nhuận tốt hơn so với các sản phẩm Việt Nam chất lượng trung bình.

Theo ông Hồ Đức Lam – chủ tịch VPA, các doanh nghiệp sản phẩm nhựa nội địa cần nâng cao chất lượng sản phẩm bằng cách cải tiến công nghệ sản xuất, cải thiện năng lực quảng cáo, dịch vụ… nếu muốn cạnh tranh tốt với các sản phẩm ngoại.

Ông Hồ Đức Lam cũng cho hay, năm 2022, ngành nhựa Việt Nam vẫn duy trì được sự tăng trưởng về kim ngạch xuất khẩu, đạt 3,654 tỉ USD, nhưng mức tăng 6,3% chỉ bằng một nửa so với năm 2021, và “không đạt như kỳ vọng do phải đối đầu với nhiều khó khăn thách thức”.

Thách thức lớn nhất là suy thoái sâu và tăng trưởng chậm ở các tháng cuối năm, do COVID-19 tại thị trường nhập khẩu chính của Việt Nam như Nhật Bản và EU, dù có lợi thế tại những thị trường này. Sản phẩm cùng loại từ các nước khác nhập khẩu đang bị áp mức thuế khá cao, từ 10-30%.

“Xét về góc độ cạnh tranh, các doanh nghiệp sản phẩm nhựa Việt Nam hiện vẫn bị lép vế, do nguyên liệu sản xuất trong nước chỉ mới đáp ứng khoảng 15-25% nhu cầu cho các chủng loại nguyên liệu nhựa, 85% còn lại đang phụ thuộc vào nhập khẩu. Số lượng mẫu mã, chủng loại sản phẩm của ngành nhựa còn đơn điệu, chưa có nhiều sản phẩm có giá trị gia tăng”, ông Lam thông tin.  

Chưa kể, các doanh nghiệp sản xuất sản phẩm nhựa vẫn chưa hướng đến phát triển ngành nhựa tái chế để góp phần bảo vệ môi trường, tiết kiệm chi phí đầu vào, giảm giá thành sản phẩm. Giảm được giá thành sản phẩm nhựa xuất khẩu sẽ cạnh tranh được với nhiều thị trường xuất khẩu sản phẩm nhựa trên thế giới.

2023-07-23 / by / in
Khuyến nghị nhằm nâng cao năng lực cạnh tranh ngành Thiết bị điện công nghiệp

Đối với Nhà nước

Cơ chế, chính sách cho doanh nghiệp nói chung và ngành sản xuất thiết bị điện công nghiệp nói riêng cần được xây dựng theo hướng tạo điều kiện hỗ trợ tối đa và thuận lợi cho doanh nghiệp.

a. Về thu hút đầu tư:

Cần đổi mới chính sách thu hút FDI theo hướng tăng chế tài chuyển giao công nghệ từ các FIE cho các doanh nghiệp trong nước, đặt tiêu chuẩn nhằm đáp ứng các yêu cầu về tiêu hao năng lượng, môi trường và an ninh quốc gia của các dự án đầu tư. Khuyến khích các nhà đầu tư trong và ngoài nước đầu tư tài chính, chất xám vào sản xuất các phụ tùng thay thế cho các phụ tùng, linh kiện còn phải nhập ngoại của các nhà máy đã đi vào hoạt động hay đang có kế hoạch đầu tư.

b. Về nguồn nhân lực:

Cần có cơ chế hỗ trợ doanh nghiệp nâng cao chất lượng nguồn nhân lực thông qua đào tạo nhân lực, đồng thời theo đó kết hợp đẩy mạnh hoạt động đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao.  Xây dựng và nâng cao hiệu quả, mức độ lan tỏa của các chương trình đào tạo phối hợp giữa công ty có vốn đầu tư nước ngoài với các doanh nghiệp trong nước. Khuyến khích thuê chuyên gia nước ngoài để đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao, phục vụ cho các dự án sản xuất sản phẩm mới.

c. Về khoa học, công nghệ:

– Cần đẩy mạnh phát triển thị trường khoa học – công nghệ, theo đó, đặc biệt quan tâm đến phát triển những mô hình về tổ chức trung gian, bởi mô hình này sẽ tạo nên cơ hội để nhà đầu tư tìm kiếm được các sáng chế, kết quả nghiên cứu có tiềm năng thương mại hóa trong mọi lĩnh vực để ứng dụng phục vụ cho mục đích phát triển. Cần có cơ chế khuyến khích doanh nghiệp đổi mới công nghệ, thiết bị sản xuất và áp dụng mô hình quản lý sản xuất tiên tiến để nâng cao hiệu quả sử dụng năng lượng, tài nguyên đầu vào, nâng cao năng suất, chất lượng và khả năng cạnh tranh của sản phẩm.

d. Về liên kết phát triển:

– Cần xây dựng các chương trình kết nối các doanh nghiệp FDI và các doanh nghiệp trong nước thông qua việc tiếp tục nâng cao hiệu quả các chương trình kết nối như triển lãm, hội chợ, tổ chức các đoàn doanh nghiệp,…  qua đó, tạo được mạng lưới, hợp tác và liên kết kinh doanh, tập trung hỗ trợ sản xuất và tiêu thụ sản phẩm.

e. Về tạo dựng năng lực cạnh tranh:

Cần tập trung ưu tiên phát triển các sản phẩm có lợi thế cạnh tranh, sản phẩm có khả năng tham gia mạng sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu. Kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong hoạt động đầu tư, sản xuất – kinh doanh và tích cực hỗ trợ, tạo điều kiện thuận lợi cho các doanh nghiệp thực hiện các chương trình chuyển giao công nghệ, cải tiến kỹ thuật, nâng cao chất lượng sản phẩm, phát triển nguồn nhân lực và phát triển thị trường.

Đối với doanh nghiệp

a. Xây dựng chiến lược phát triển doanh nghiệp, qua đó cần đánh giá được thực trạng phát triển, phân tích các nhân tố ảnh hưởng, xác định tầm nhìn và các chiến lược thành phần như chiến lược sản phẩm; lựa chọn sản phẩm gì trong danh mục sản phẩm của doanh nghiệp thiết bị điện công nghiệp khi xuất khẩu sang thị trường của từng quốc gia. Trong chiến lược cần có những kế hoạch cụ thể về cấp độ chất lượng sản phẩm phải đạt được sau một thời gian nhất định. Chiến lược về thị trường, cần nghiên cứu rõ qui mô của từng thị trường, những đặc tính, quy định và các yêu cầu về tiêu chuẩn kỹ thuật… đối với mặt hàng mà doanh nghiệp sẽ xuất khẩu sang thị trường đó. Từng bước tiến hành xây dựng mạng lưới phân phối sản phẩm tại nước ngoài để chủ động điều phối hàng hóa tại các thị trường lớn. Xây dựng mối quan hệ liên kết, hợp tác kinh doanh với nhà phân phối lớn, các hệ thống phân phối đại chúng ở mỗi thị trường.

b. Tập trung và đẩy mạnh liên doanh, liên kết với doanh nghiệp hỗ trợ, từng bước hình thành các cụm liên kết ngành, trong đó cần có sự hợp tác của nhiều bên, đặc biệt là sự tham gia của chính quyền địa phương, Phòng Thương mại và Công nghiệp.

c. Tham gia vào các hiệp hội doanh nghiệp, hiệp hội ngành nghề để tận dụng sự hỗ trợ, cùng nhau kiểm soát thị trường, ngăn chặn các hành vi gian lận thương mại, sản xuất hàng giả, hàng kém chất lượng, ngoài ra, sẽ tận dụng được các cơ hội hợp tác giữa các doanh nghiệp trong hiệp hội, học hỏi kinh nghiệm trong kinh doanh, trong quản lý.

d. Tăng cường liên kết, hợp tác theo chiều dọc lẫn chiều ngang giữa các doanh nghiệp để tận dụng nguồn lực của nhau và những ưu thế sẵn có của doanh nghiệp về nguồn vốn, quan hệ các đối tác trong và ngoài nước, kinh nghiệm quản lý điều hành.

e. Chú trọng đổi mới và hiện đại hóa công nghệ để tăng năng suất lao động và chất lượng sản phẩm, mặc dù đổi mới và hiện đại hóa công nghệ không phải dễ dàng đối với các doanh nghiệp bởi hầu hết các doanh nghiệp trong ngành có qui mô nhỏ và vừa nên thường không đủ vốn để đầu tư, hơn nữa một số doanh nghiệp thiết bị điện công nghiệp vẫn chưa thể đánh giá được tính hiệu quả của đầu tư, do đó không dám mạo hiểm. Tuy vậy, muốn hay không thì các doanh nghiệp cũng phải có lộ trình đổi mới, hiện đại hóa công nghệ để tạo ra các sản phẩm, dịch vụ có chất lượng tốt đáp ứng nhu cầu ngày càng cao và đa dạng của người tiêu dùng.

f. Xây dựng hệ thống quản lý chất lượng, áp dụng tiêu chuẩn ISO và các tiêu chuẩn quốc tế về chất lượng phù hợp với hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp. Hệ thống này sẽ giúp doanh nghiệp nâng cao năng lực quản lý, nâng cao chất lượng sản phẩm và dịch vụ. Trong giai đoạn hội nhập việc quản lý và sản xuất theo một tiêu chuẩn quốc tế phù hợp cho hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp sẽ tạo được thương hiệu nhất định, tăng tính cạnh tranh trên thị trường trong và ngoài nước cũng như sự đánh giá tốt của đoi tác cũng như khách hàng.

2023-07-22 / by / in
Thực trạng về năng lực cạnh tranh và sản xuất thiết bị điện công nghiệp

Sản xuất thiết bị điện công nghiệp là một trong những ngành công nghiệp then chốt, đóng vai trò quan trọng trong quá trình thực hiện điện khí hoá nói riêng và công nghiệp hoá nói chung. Ngoài việc cung cấp các trang thiết bị chủ yếu để phát triển lưới điện, các sản phẩm thiết bị kỹ thuật điện còn là những bộ phận quan trọng trong các thiết bị công nghệ, phục vụ hiện đại hoá công nghiệp, hiện đại hoá nông nghiệp, nông thôn và phục vụ công nghiệp tiêu dùng… Đồng thời thiết bị điện cũng đóng vai trò quan trọng trên hệ thống truyền tải và phân phối điện.

Trong giai đoạn vừa qua ngành đã phát huy tốt vai trò của mình, sản xuất nhiều sản phẩm, đáp ứng khá tốt nhu cầu trong nước. Tuy nhiên, trong bối cảnh hội nhập như hiện nay, ngành cần cố gắng nâng cao năng lực cạnh tranh để từng bước phát triển hơn nữa.

Thực trạng về sản xuất

Về giá trị sản xuất công nghiệp, sản xuất thiết bị điện công nghiệp được đánh giá là ngành phát triển khá tốt, năm 2015 chiếm khoảng 3% giá trị sản xuất công nghiệp của ngành công nghiệp và 3,3% ngành công nghiệp chế biến, chế tạo. Đến năm 2018 chiếm khoảng 3,03% ngành công nghiệp và 3,4% ngành công nghiệp chế biến, chế tạo. Tỷ lệ giá trị tăng thêm/giá trị sản xuất công nghiệp năm 2010 đạt khoảng 32,7%, năm 2015 đạt khoảng 29,2%. Năm 2018 đạt khoảng 27,7%.

Về sản phẩm, doanh nghiệp trong ngành đã sản xuất được nhiều loại sản phẩm đạt chất lượng, tiêu chuẩn như: công tơ điện tử, hệ thống tích hợp điều khiển bảo vệ và tự động hóa trạm biến áp 110kV, 220kV, 500kV; các loại máy biến dòng điện áp lên đến 500kV; tủ điện trung thế điện áp từ 7,2 – 40,5kV và dòng điện từ 630-3000A. Đặc biệt, dây và cáp điện được đánh giá là lĩnh vực sản xuất tốt nhất của ngành.

Về cơ bản dây và cáp điện đáp ứng được khoảng 80% nhu cầu trong nước, sản phẩm nhập khẩu chủ yếu thuộc nhóm dây cáp điện phục vụ phát triển lưới điện cao thế 110-220-500 kV. Ngoài ra đối với nhóm các phụ kiện, trong nước đã sản xuất được tấm thảm cách điện, ủng cách điện và găng tay ở cấp trung áp đến 35kV. Các loại thiết bị điện sử dụng trong gia đình: như ổ điện, công tắc điện, phích cắm… đã được đáp ứng từ các doanh nghiệp sản xuất trong nước.

Thực trạng về năng lực cạnh tranh

+ Yếu tố về cầu: Nhu cầu về sản phẩm là nhân tố có ảnh hưởng lớn đến năng lực cạnh tranh của ngành sản xuất thiết bị điện công nghiệp . Qua phân tích từng chỉ tiêu cho thấy, hầu hết các doanh nghiệp sản xuất thiết bị điện được khảo sát đều cho rằng lượng cầu trong nước hiện nay ở mức trung bình khá, trong khi đó khả năng phát triển thị trường xuất khẩu vẫn gặp khó khăn do chất lượng, mẫu mã của sản phẩm còn hạn chế. Công tác quản lý chất lượng sản phẩm chưa được quan tâm đúng mức. Kết quả các chỉ tiêu trong thang đo  yếu tố về cầu đạt từ 2,9 đến 3,3 điểm, kết quả đánh giá cho thấy năng lực ngành sản xuất thiết bị điện được khảo sát ở mức trung bình.

+ Yếu tố sản xuất: Doanh nghiệp sản xuất thiết bị điện trong giai đoạn vừa qua đã có những đóng góp đáng kể trong việc chế tạo các thiết bị ngành điện, nhưng vẫn đang gặp không ít khó khăn, thách thức trong quá trình phát triển như:  Thiếu vốn để đầu tư chiều sâu, đổi mới công nghệ và đầu tư mới; lực lượng nghiên cứu phát triển, đội ngũ thiết kế còn thiếu kinh nghiệm; tổng công trình sư hoặc kỹ sư trưởng và lực lượng công nhân có tay nghề cao để tham gia chế tạo thiết bị cho nhà máy điện chưa nhiều. Về công nghệ, máy móc chỉ ở mức trung bình. Một số yếu tố khác như thí nghiệm kiểm tra chất lượng sản phẩm trong quá trình sản xuất và trước khi xuất xưởng nhiều nơi chưa được thực hiện đầy đủ. Kết quả các chỉ tiêu trong thang đo yếu tố sản xuất đạt từ 3,2 đến 3,6 điểm. Yếu tố sản xuất của ngành được đánh giá ở mức trung bình.

+ Chiến lược phát triển ngành: Chiến lược phát triển ngành có vai trò quan trọng trong việc nâng cao năng lực cạnh tranh ngành. Những ngành có chiến lược và cơ cấu phù hợp với các định chế và chính sách của quốc gia, hoạt động trong môi trường có cạnh tranh trong nước tốt sẽ có tính cạnh tranh quốc tế mạnh hơn. Tuy nhiên, với ngành sản xuất thiết bị điện công nghiệp trong cả một giai đoạn dài từ năm 2006 đến nay chỉ có 2 nghiên cứu liên quan đến ngành là: (1) Quy hoạch phát triển ngành sản xuất thiết bị điện đến giai đoạn 2006-2015 và (2) Đánh giá tình hình thực hiện Quy hoạch phát triển ngành sản xuất thiết bị điện giai đoạn 2006-2015. Kết quả các chỉ tiêu trong thang đo chiến lược phát triển ngành đạt từ 2,1 đến 2,9 điểm. Đánh giá chung yếu tố chiến lược phát triển ngành được đánh giá ở mức thấp.

+ Vai trò của Nhà nước: Chủ trương của Nhà nước về phát triển ngành cơ khí trọng điểm, khuyến khích dùng hàng sản xuất trong nước… đã góp phần thúc đẩy sản xuất, giảm kim ngạch nhập khẩu thiết bị điện, tiết kiệm chi phí. Đồng thời, cơ chế, chính sách đã có nhiều thay đổi tích cực trong thúc đẩy phát triển ngành. Quyết định 186/QĐ-TTg nhấn mạnh: Xây dựng ngành sản xuất thiết bị điện hiện đại, đến năm 2020 đạt trình độ tiên tiến trong khu vực về công nghiệp thiết bị điện và vật liệu điện; đầu tư mới, đầu tư chiều sâu thiết bị điện với công nghệ tiên tiến để nhanh chóng nâng cao năng lực chế tạo thiết bị điện, nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm, đáp ứng phần lớn nhu cầu trong nước, thay thế các thiết bị nhập khẩu, đẩy mạnh xuất khẩu sản phẩm ra thị trường khu vực và thế giới.

Bên cạnh đó, Quyết định số 10/2009/QĐ-TTg cũng đề cập đến cơ chế hỗ trợ các dự án đầu tư sản xuất thiết bị cho các nhà máy thuỷ điện, nhiệt điện, các sản phẩm như máy biến áp từ 220 KVA trở lên, toàn bộ phần thiết bị trạm biến áp từ 220 KV trở lên, theo đó sản xuất những sản phẩm này được hưởng các chính sách ưu đãi về tín dụng đầu tư, kích cầu, đầu tư cho nghiên cứu và phát triển, về thuế phí… Đây là những cơ sở pháp lý quan trọng để phát triển ngành thiết bị điện. Kết quả các chỉ tiêu trong thang đo vai trò của Nhà nước đạt được khá cao từ 3,9 đến 4,5 điểm. Đánh giá chung tiêu chí này đạt ở mức khá.

+ Các ngành công nghiệp liên quan: Phân tích từng chỉ tiêu liên quan đến các ngành công nghiệp liên quan cho thấy yếu tố này còn yếu, thể hiện ở đánh giá chỉ tiêu bình quân lần lượt chỉ đạt từ 2,58  đến 3,21 điểm. Kết quả này cho thấy năng lực cung ứng vật tư, phục tùng, thiết bị phục vụ sản xuất của ngành thiết bị điện công nghiệp còn thấp và mối quan hệ giữa doanh nghiệp sản xuất với doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ còn ở mức hạn chế.

+ Hỗ trợ từ chương trình KHCN quốc gia: Trong thời gian vừa qua Chính phủ và các bộ, ngành rất quan tâm đến và đẩy mạnh phát triển  các doanh nghiệp trong nước, cụ thể là các chương trình đổi mới công nghệ quốc gia và các kết quả nghiên cứu khoa học được ứng dụng vào thực tế đã có nhiều tiến bộ. Các doanh nghiệp ngành sản xuất thiết bị điện đã nhận thức được lợi ích của việc đầu tư công nghệ và cũng đã tiến hành đầu tư cải thiện chất lượng sản phẩm, do vậy nhiều doanh nghiệp đã chú trọng đổi mới công nghệ. Doanh nghiệp cũng đã từng bước tiếp cận được các cơ chế, chính sách hỗ trợ. Phân tích kết quả điều tra cho thấy các chỉ tiêu trong thang đo mức độ hiệu quả của chương trình đổi mới công nghệ đối với ngành ở mức trung bình theo đánh giá là đạt 3,86 điểm. Mức độ ứng dụng kết quả nghiên cứu R&D đối với ngành được đánh giá trong thang đo từ 3,78 đến 4,2 điểm. Kết quả này cho thấy các chương trình KHCN quốc gia từng bước đem lại hiệu quả và là nhân tố thúc đẩy ngành phát triển.

+ Nguồn nhân lực phát triển ngành: Chất lượng nguồn nhân lực cho phát triển ngành lao động chưa cao. Đội ngũ cán bộ khoa học kỹ thuật, cán bộ quản lý có trình độ cao còn ít. Tỷ lệ công nhân được đào tạo nghề một cách bài bản thấp. Đội ngũ cán bộ lâu năm trong nghề hiện nay đã lớn tuổi, tính thích nghi với cơ chế và công nghệ mới bị hạn chế. Đội ngũ cán bộ trẻ thay thế có tính năng động, sáng tạo, tuy nhiên lòng nhiệt tình, sự gắn bó tâm huyết với nghề với doanh nghiệp chưa cao. Kết quả các chỉ tiêu trong thang đo nguồn nhân lực đạt từ 2,9 đến 3,3 điểm. Theo kết quả đánh giá mức độ đáp ứng về nhân lực cho ngành về số lượng và chất lượng tốt được đánh giá ở mức trung bình.

Đánh giá chung về năng lực cạnh tranh của ngành: Trên cơ sở phân tích thực trạng phát triển và năng lực cạnh tranh của ngành thiết bị điện cho thấy năng lực cạnh tranh của ngành chỉ ở mức trung bình, điều này thể hiện qua các tiêu chí đánh giá thông qua các giá trị của các thang đo. Về quy mô doanh nghiệp còn nhỏ, công nghệ còn lạc hậu, chủ yếu là gia công và lắp ráp. Về đổi mới, hiện đại hóa công nghệ, máy móc thiết bị ở mức độ chậm. Năng lực quản trị, điều hành còn hạn chế, kỹ năng quản trị doanh nghiệp chưa bài bản, khả năng lập kế hoạch, phương án, dự án sản xuất – kinh doanh yếu. Vai trò của Nhà nước trong việc định hướng và tạo môi trường thuận lợi để nâng cao năng lực cạnh tranh sản phẩm thiết bị điện phục vụ cho xuất khẩu còn ở mức độ nhất định, chưa có một chính sách đặc thù nào cho ngành dẫn đến việc tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu và các khâu có giá trị gia tăng cao còn hạn chế.

2023-07-21 / by / in
Đánh giá tổng quan về 4 phương pháp gia công cơ khí hiện nay

Cùng với sự phát triển đáng kể trong ngành công nghiệp chế tạo máy và xây dựng, nhu cầu về gia công cơ khí loại cũng tăng cao. Hiện nay, có bốn phương pháp cắt kim loại được áp dụng rộng rãi trong quy mô công nghiệp: cắt kim loại bằng Oxy-gas, Plasma, Laser và tia nước.

Hãy cùng YP.VN khám phá và tìm hiểu về những công nghệ gia công cơ khí này qua bài viết dưới đây của chúng tôi để tìm ra giải pháp phù hợp nhất với nhu cầu của bạn nhé.

Gia công cắt kim loại bằng Plasma

Phương pháp cắt Plasma là một công nghệ gia công cơ khí cắt gọt kim loại bằng sử dụng chất khí, đặc biệt hiệu quả đối với các kim loại dẫn điện. Thông qua việc cung cấp năng lượng để ion hóa các nguyên tử khí, các chất khí như không khí, oxy, và nitơ sẽ trở thành dẫn điện.

Quá trình oxy hóa mạnh mẽ tạo ra một dòng Plasma, hay còn được gọi là tia Plasma, có khả năng đánh thủng các kim loại với độ dày khác nhau. Máy cắt Plasma CNC được điều khiển bằng máy tính, cho phép cắt nhanh chóng và đạt hiệu suất cao.

Công nghệ Plasma có nhiều ưu điểm. Tốc độ cắt của máy cắt Plasma CNC rất nhanh, đảm bảo hiệu quả cắt cao. Phương pháp này cũng rất đa năng, có thể cắt được hầu hết các loại vật liệu với độ dày khác nhau, thậm chí lên tới 50mm. Ngoài ra, quá trình cắt Plasma đơn giản và máy cắt dễ vận hành.

Tuy nhiên, cần lưu ý rằng phương pháp này chỉ áp dụng cho cắt kim loại và yêu cầu thay thế định kỳ các linh kiện như điện cực cắt và vòi phun, làm tăng chi phí sản xuất. Đối với việc cắt Inox, có thể xảy ra hiện tượng nám đen trên vết cắt, ảnh hưởng đến thẩm mỹ của sản phẩm.

Gia công cắt kim loại bằng Laser

Laser là công nghệ cắt kim loại hiện đại nhất, sử dụng tia laser để cắt vật liệu từ kim loại đến phi kim loại. Chùm tia laser hẹp và mạnh mẽ tạo ra năng lượng lớn để cắt kim loại, nhựa, gỗ, kính… Bức xạ laser được tạo ra từ nguồn laser, có tính đồng nhất và đẳng hướng cao.

Có 3 loại laser thường sử dụng là khí CO2, tinh thể và Fiber, phù hợp với từng loại vật liệu khác nhau. Công nghệ gia công cơ khí bằng Laser mang lại tự động hóa cao, độ chính xác tuyệt đối, cắt các bề mặt dày mỏng, chi tiết cầu kỳ, vết cắt nhẵn và sắt nét.

Laser Fiber đặc biệt có thể cắt các kim loại màu và đạt độ thẩm mỹ cao hơn Plasma và Oxy-Gas. Máy CNC Laser, đặc biệt là Laser Fiber, có giá cao và đòi hỏi bảo trì phức tạp. Tia laser cũng gây nguy hiểm trong quá trình gia công.

Gia công cắt kim loại bằng Oxy-gas

Phương pháp cắt Oxy-Gas là một trong những phương pháp gia công cơ khí đơn giản và hiệu quả, với chi phí thiết bị và tiến hành tương đối thấp. Máy cắt Oxy sử dụng khí gas để cắt các tấm thép dày, và điều này phụ thuộc vào việc điều chỉnh van khí Oxy.

Thậm chí với độ dày lên đến 1500mm, phương pháp đơn giản này vẫn có thể cắt được. Tuy nhiên, khi cắt thép, cần chú ý đến độ vát của vật liệu cắt. Khi độ dày tăng lên, góc vát cũng tăng theo.

Ngoài ra, phương pháp gia công cắt kim loại bằng Oxy-Gas chỉ áp dụng cho sắt carbon và hợp kim sắt thấp, tốc độ cắt chậm và vùng ảnh hưởng nhiệt lớn. Do đó, sau khi cắt, các chi tiết có thể bị cong vênh và biến dạng, đặc biệt khi cắt các tấm dài.

Gia công cắt kimn loại bằng tia nước

Công nghệ cắt bằng tia nước là phương pháp tiên tiến cho việc cắt kim loại và các vật liệu khác bằng tia nước áp suất cao kết hợp với hạt mài. Đây là một phương pháp linh hoạt, có thể cắt trên nhiều vật liệu khó gia công bằng phương pháp truyền thống.

Tia nước cho phép cắt bề dày lớn với sự chính xác và không sinh nhiệt, mở ra khả năng gia công cơ khí các bề mặt phức tạp như góc V và chạm khắc nghệ thuật. Công nghệ này cũng mang đến tính tự động hóa cao và dễ dàng bảo trì.

Tuy nhiên, phương pháp cắt bằng tia nước cũng có nhược điểm như khó kiểm soát độ chính xác kích thước gia công và chi phí cao do thiết bị phải nhập khẩu. Ngoài ra, do công nghệ này vẫn đang mới nên vẫn còn một số vấn đề giữa lý thuyết và thực tế chưa được hoàn thiện.

Đánh giá tổng quan về 4 phương pháp gia công

Khi lựa chọn phương pháp gia công căt kim loại, có nhiều yếu tố quan trọng cần xem xét. Điều này bao gồm vật liệu cần được căt, độ dày của vật liệu, yêu cầu về độ chính xác và tốc độ cắt, cũng như ngân sách và quy mô của dự án.

Việc lựa chọn phương pháp gia công căt kim loại phù hợp đòi hỏi sự cân nhắc kỹ lưỡng các yếu tố kỹ thuật, yêu cầu dự án và ngân sách để đưa ra quyết định tối ưu. Mỗi phương pháp có ưu điểm và hạn chế riêng, và việc đánh giá chính xác từng trường hợp cụ thể là vô cùng quan trọng.

Nếu nhìn vào góc độ công nghiệp và so sánh 4 công nghệ cắt kim loại, có thể thấy rằng phương pháp cắt kim loại bằng laser luôn nhận được sự tin tưởng và ưu tiên hàng đầu.

Nó được coi là phương pháp phù hợp và hài hòa trên nhiều yếu tố và phương diện khác nhau, đảm bảo chất lượng cắt tốt cũng như mang lại sự đa dạng về vật liệu và tính kinh tế.

2023-07-20 / by / in